Tống Văn Công - Chỉ có một thứ Dân Chủ và Nhân Quyền (2)

  • Bởi Admin
    30/08/2010
    0 phản hồi

    Tống Văn Công

    Như vậy nếu nhìn vào ngôn từ [trong hiến pháp] thì thấy cách nói của ta về những vấn đề cơ bản của nhân quyền và các quyền tự do không có gì trái với phương Tây. Sự trái nhau được ẩn nấp ở cụm từ “<em>theo quy định của pháp luật</em>”. Hiến pháp nói công dân có quyền tự do lập hội, nhưng những người lập Công đoàn độc lập, Hội nhà báo tự do… đã nhanh chóng được mời vào trại giam. Nói tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhưng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) phải tự giải thể. Gần 700 tờ báo chỉ được phép ở “lề phải” của sự thật và chân lý. Mọi vấn đề lớn của quốc kế dân sinh, thậm chí các cán bộ Đảng phạm pháp cũng phải chờ chỉ đạo của Đảng để nói hay không nói, được nói tới mức nào.

    THỬ SO SÁNH NGÔN TỪ CỦA TA VÀ CỦA TÂY VỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

    Chúng ta thử so sánh ngôn từ của Tây và ta nhé!

    A – Trước hết hãy định nghĩa dân chủ là gì?

    1- Định nghĩa của Mỹ:

    Dân chủ là chính phủ được thành lập bởi nhân dân, trong đó quyền lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc các đại diện được bầu từ một hệ thống bầu cử tự do. Theo Abraham Lincoln, dân chủ là một chính phủ của dân, do dân và vì dân”. (A. Lincoln là tổng thống Mỹ thứ 16, từ 1861 – 1865).

    2- Định nghĩa của Việt Nam theo Hiến pháp 1992:

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”…

    Thế nhưng, thực tế cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Việt Nam là thế này:

    Ông Trương Văn Đa, đại biểu Hội đồng Nhân dân từ khóa 1 đến khóa 5 cho rằng “Đến nay Hội đồng Nhân dân và Quốc hội đã có nhiều cải tiến, nhưng thực tế các đại biểu Hội đồng Nhân dân và Quốc hội vẫn là nghị gật, nghị ừ.

    Giáo sư, tiến sĩ Trần Ngọc Đường, Viện Nghiên cứu lập pháp cho rằng: “Hiện nay những vấn đề tầm cỡ của quốc gia đều do Bộ Chinh trị quyết định trước, nhờ đó Quốc hội thông qua nhanh chóng, nhưng nhược điểm của cách làm như vậy là thiếu dân chủ”.

    B – Hiến pháp 1992 của ta từ điều 50 đến 70 ghi nhận nhân quyền và các quyền tự do không thiếu điều gì của phương Tây đòi hỏi:

    Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự đều được tôn trọng, thể hiên ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và Luật.

    Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

    Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác”.

    Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

    Công nhân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí;có quyền được thông tin; có quyền hội họp và lập hội theo quy định của pháp luật.

    Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

    – v.v và v.v...

    Như vậy nếu nhìn vào ngôn từ thì thấy cách nói của ta về những vấn đề cơ bản của nhân quyền và các quyền tự do không có gì trái với phương Tây. Sự trái nhau được ẩn nấp ở cụm từ “theo quy định của pháp luật”. Hiến pháp nói công dân có quyền tự do lập hội, nhưng những người lập Công đoàn độc lập, Hội nhà báo tự do… đã nhanh chóng được mời vào trại giam. Nói tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhưng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) phải tự giải thể. Gần 700 tờ báo chỉ được phép ở “lề phải” của sự thật và chân lý. Mọi vấn đề lớn của quốc kế dân sinh, thậm chí các cán bộ Đảng phạm pháp cũng phải chờ chỉ đạo của Đảng để nói hay không nói, được nói tới mức nào.

    Số đông đảng viên cộng sản đi vào cách mạng chỉ với lòng yêu nước. Hai cuộc kháng chiến đã làm cho họ nhìn phương Tây với ý thức đối lập. Khi nghe lý thuyết tự do, dân chủ của Đảng đã lãnh đạo kháng chiến thắng lợi thì tất cả đều tin rằng một Đảng gồm toàn những người đã “vô sản hóa” thì không thể trở thành độc tài, phản dân chủ, tham nhũng, càng không thể liên minh với kẻ thù dân tộc. Thực tế cuộc sống diễn ra càng ngày càng khác xa những gì mà họ từng mong ước. Cải cách ruộng đất là sự kiện đầu tiên làm cho các đảng viên hiểu ra rằng Đảng quang vinh vẫn có thể phạm những sai lầm của thời trung cổ mông muội!

    Cuộc “tự diễn biến” đầu tiên là của một số cán bộ cốt cán của Đảng tiếp nhận sự chuyển động hướng về tự do dân chủ ở Liên Xô do Nikita S. Khrushchev khởi xướng: Chống sùng bái cá nhân lãnh tụ, phê phán hành động độc tài của Stalin, thực hiện Đảng toàn dân, Nhà nước toàn dân, thực hiện dân chủ trong Đảng và ngoài xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 9, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, nhưng vẫn không thuyết phục được các đảng viên này: Ung Văn Khiêm, Lê Liêm, Nguyễn Kiến Giang, Dương Bạch Mai, Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Trần Minh Việt, Vũ Thư Hiên, Huy Vân…

    Sau đổi mới, mở cửa, sự hòa nhập với thế giới đã mở mắt cho nhiều đảng viên cộng sản nhận ra nguyên nhân thất bại của mô hình xã hội chủ nghĩa Stalin là do rời bỏ những giá trị của nền văn minh nhân loại (nhân văn, tự do, dân chủ, sở hữu tư nhân, xã hội công dân, kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, chế độ đại nghị) cưỡng bức cuộc sống đi vào ngỏ cụt của chuyên chính vô sản, sở hữu toàn dân, kinh tế kế hoạch tập trung, nhà nước toàn trị, xã hội trại lính. Các đảng viên cộng sản biết được lý thuyết Marx – Lênin mà mình tin theo mấy chục năm qua thật ra là của Lênin, Stalin. Bởi vì sau khi giải tán tổ chức Đồng minh những người cộng sản (ngày 17 – 11 1852), Karl Marx và F. Engels không chủ trương làm cách mạng vô sản bằng biện pháp bạo lực nữa, vì cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi. Hai ông cùng chỉ đạo xây dựng đảng xã hội dân chủ. Sau khi Karl Marx qua đời (năm 1883), F. Engels họp đại biểu phong trào công nhân thế giới vào tháng 7 năm 1889 thành lập Quốc tế thứ 2, chủ trương đấu tranh nghị trường, thực hiện tự do, dân chủ bằng nhà nước pháp quyền. Ngày 6 tháng 3 năm 1895, Engels viết lời nói đầu cho quyển sách Đấu tranh giai cấp ở Pháp, có đoạn như sau: “Lịch sử chứng tỏ chúng ta mắc sai lầm. Quan điểm của chúng ta ngày ấy là một ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều điều hơn, không những xóa bỏ mê muội của chúng ta mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 đã lỗi thời về mọi mặt” (1848 là năm ra đời Tuyên ngôn của Đảng cộng sản). Quốc tế 2 là tiền thân của Quốc tế xã hội sau này, đã lãnh đạo nhiều quốc gia trở thành dân chủ giàu mạnh.

    Những người hô hào chống “diễn biến hòa bình”, chống “tự diễn biến”, không hiểu rằng từ Quốc tế 1 đến Quốc tế 2 là một quá trình “diễn biến hòa bình” rất tốt đẹp làm cho chủ nghĩa xã hội tìm được sức sống. Cả K. Marx và F. Engels đều không ngừng “tự diễn biến”, kịp thời nắm bắt được tình thế thay đổi, để tìm ra lời giải mới cho cuộc sống nhân loại.

    Sau đổi mới, một lớp đảng viên ưu tú nhất đã tiếp tục “tự diễn biến”: Trần Xuân Bách, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ, Trần Độ, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Lữ Phương, Lê Hồng Hà, Tô Hải, Phạm Đình Trọng, Đỗ Xuân Thọ… có thể kể cả các vị Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Khắc Viện…

    Nhờ hội nhập toàn cầu, có áp lực của dư luận tiến bộ trên thế giới, cho nên những biện pháp chuyên chế không thể thực hiện lộ liễu, chỉ những người có hành động quá quyết liệt như Nguyễn Hộ mới bị trấn áp. Hơn nữa, những đảng viên “cấp tiến” ngày nay không còn bị đơn độc như những người trước kia. Hiện nay đã có những lớp lớp trí thức trẻ vượt lên họ, đi trước họ, quyết liệt hơn họ, vô hình trung đã bảo vệ và khuyến khích họ.

    Tôi may mắn được trò chuyện nhiều lần với Trần Xuân Bách khi ông còn là ủy viên Bộ Chính trị. Một lần tại nhà riêng của ông trên đường Phan Đình Phùng, tôi hỏi: “Đòi đa nguyên, đa Đảng, anh có sợ Đảng bị mất độc quyền lãnh đạo không?”. Ông đáp: “Dân tộc mình đang hết sức cần thiết phải có tự do dân chủ để phát triển nhanh chóng, đuổi kịp thời đại, sau khi đã bị tụt hậu quá xa. Phải có đa nguyên, đa Đảng thì mới thực sự có dân chủ. Đảng phải đặt lợi ích của dân tộc lên trên. Hơn nữa, phải nhận thức rằng khi không còn ở thế độc quyền, Đảng sẽ có nhiều điều kiện để thoát khỏi tham nhũng, sẽ gần dân hơn, được dân tin cậy hơn. Một Đảng gắn bó với dân, được dân tin cậy thì không bao giờ thất bại”.

    Tiếc thay, những người lãnh đạo thiển cận không nhận thức được chân lý rất giản đơn như Trần Xuân Bách. Tệ hại hơn có người còn cho rằng năm 1945 Đảng còn yếu nên phải thực hiện dân chủ để lôi kéo nhân dân thực hiện đại đoàn kết dân tộc. Quả là một cách nghĩ phản bội nhân dân! Từ lâu, người Nhật, người Hàn Quốc… đón nhận chân lý phải có dân chủ mới có giàu mạnh, đã đưa đất nước họ lên hàng đầu thế giới.

    PHẢI LÀM GÌ? NÓI CÓ HAI THỨ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN THÌ CHẲNG NHỮNG XÚC PHẠM CỤ HỒ MÀ CÒN CHỐNG MARX – ENGELS!

    Một ân nhân của Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng, ông André Menras – Hồ Cương Quyết, vẫn giữ nguyên niềm tin vào Đảng của Bác Hồ, một Đảng đã đưa đất nước này trở thành tấm gương “vì độc lập tự do” trước nhân loại. Ông đã trở lại, xin nhập quốc tịch Việt Nam để được tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp vì hạnh phúc của nhân dân ở Tổ quốc thứ hai của mình. Nhưng chỉ qua một thời gian ngắn, người công dân mới ấy đã thất vọng kêu lên: “Một Đảng không thích hợp với hòa bình: Vẫn không có dân chủ“! Ông càng đau xót hơn khi phát hiện Đảng trong sáng ngày xưa “nay vì những đặc quyền đặc lợi phù du mà trở thành một bộ máy hành chính ngày càng dễ sai khiến, độc tài, thậm chí mang tính cảnh sát, một bộ máy hành chính bị cô lập, phụ thuộc, lỗi thời và khiếp sợ trước sự phát triển cần thiết của nền dân chủ”! Dù vậy, ông vẫn “tha thiết mong tìm lại được một Đảng mang tính hiện thực đáng tự hào, sẽ đi trước thời đại hòa nhịp bước cùng với dân tộc”. Ông gửi gắm: “Nhìn lại lịch sử, chưa bao giờ tồn tại một tấm gương cụ thể về một chế độ độc đảng mà mang đến dân chủ”.

    Chúng tôi nghĩ rằng đó là những lời cảnh tỉnh thiện chí nhất của một người từng đem sinh mạng mình đóng góp cho sự nghiệp giải phóng Việt Nam và ngày nay vẫn thành tâm muốn trở thành người Việt Nam vì quá yêu nhân dân trải nhiều đau khổ này. Những ai trong Đảng Cộng sản Việt Nam còn lương tri cần phải lắng nghe ông, nhận ra điều ông xót xa, để quyết tìm ra những biện pháp đổi mới toàn diện mà cấp bách nhất là đổi mới chính trị, thực hiện tự do, dân chủ. Mấy năm gần đây hậu quả của sự chậm trễ đổi mới chính trị đã dễ dàng nhận thấy trong nhiều hiện tượng bất ổn của xã hội. Mục tiêu đổi mới chính trị sắp tới cần gấp rút nhằm tới:

    1 – Thực hiện cuộc bầu cử dân chủ có đủ các yếu tố: Phổ thông, tức là mọi người dân đã trưởng thành đều có quyền bầu cử; tổ chức bầu cử theo định kỳ mấy năm một lần; bầu cử tự do, phải là cuộc tranh cử giữa các ứng cử viên có quan điểm khác nhau, thể hiện công khai trong cương lĩnh xây dựng và bảo vệ đất nước để cử tri xem xét chọn lựa bằng lá phiếu. Chấm dứt cách làm “đảng cử dân bầu”, đảm bảo người đắc cử thực sự là đại biểu của nhân dân. Quốc hội thay mặt nhân dân quyết định mọi chính sách quốc kế dân sinh, không còn là “nghị gật” theo nghị quyết đã có trước. Mọi quyết định theo đa số, nhưng bảo đảm cho thiểu số được tiếp tục phản biện.

    2 – Có thể theo cách của những nhà sáng lập Hoa Kỳ đặt ra những yêu cầu để xây dựng bản Hiến pháp dân chủ:

    - Làm sao để nhân dân có thể bầu chọn được những người lãnh đạo xứng đáng nhất điều hành đất nước? Phải để cho mọi công dân được tự do chọn mặt gửi vàng; mọi ứng cử viên tuân thủ nguyên tắc tranh cử công khai bằng cương lĩnh bảo vệ tự do công dân, đem lại dân giàu nước mạnh.

    - Kiến tạo đất nước có hình mẫu trong tương lai: tự do cho mọi tư tưởng sáng tạo; bình đẳng cho mọi công dân có chí tiến thủ; thiên đường cho con trẻ, nâng đỡ chăm sóc người già, kẻ bất hạnh.

    - Cơ chế vận hành nào để tự do, dân chủ phát triển, đảm bảo ngăn chặn độc tài? Đó là cơ chế phân lập ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba quyền này độc lập với nhau, kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau, tạo ra một chính phủ bị hạn chế quyền lực. Các cá nhân công dân được tự do, trong khi chính phủ của họ không được tự do, nhất cử nhất động đều phải làm đúng pháp luật.

    3 – Ngay trước mắt cần thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội đúng như nội dung các điều 19, điều 22 của Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã cam kết thực hiện từ ngày 24 tháng 9 năm 1982.

    Các quyền nói trên đã được Hiến pháp 1946 của chúng ta ghi nhận và thực tế cũng đã có thực hiện như phần trên đã nói. Hiến pháp 1992 cũng có ghi nhận các quyền ấy, nhưng sau đó đã bị vô hiệu hóa bởi các luật. Ở các quốc gia dân chủ, người ta coi cách làm luật như vậy là hành động vi hiến, phải bị đưa ra tòa án Hiến pháp xét xử. Ví dụ, điều sửa đổi bổ sung của Hiến pháp Hoa Kỳ là “Nghiêm cấm Quốc hội thông qua các luật vi phạm tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và quyền lập hội ôn hòa”. Sau đổi mới, Nghị quyết 8b Trung ương (khóa 6) cũng đã đề ra việc “Thành lập các hội đáp ứng yêu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái. Các tổ chức này thành lập theo nguyên tắc tự nguyện và tự trang trải về tài chính…”. Rất tiếc nghị quyết rất đúng đắn đó đã không được thực hiện tốt và ngày nay không ai nhắc đến.

    Nhiều năm qua, hiện tượng 3000 cuộc tự tổ chức đình công không thông qua công đoàn do Đảng lãnh đạo đã cho thấy sự bức xúc của công nhân thiếu một đoàn hội mà họ có thể tin cậy gửi gắm. Thiết nghĩ, trước mắt nên tạo điều kiện cho công nhân được tự do lựa chọn người mình tin cậy bầu vào ban chấp hành công đoàn của nhà máy, xí nghiệp.

    Vừa qua tại Đại hội Nhà văn, 20 nhà văn có tài có nguyện vọng được lập một Hội nhà văn tự trang trải về tài chính không nhận bao cấp của chính phủ. Nguyện vọng của họ phù hợp với Nghị quyết 8b của Trung ương Đảng khóa 6, rất đáng được khuyến khích. Có thể bảo rằng họ quá ít so với gần 1000 hội viên Hội Nhà văn? Chúng tôi nghĩ điều quan trọng là tài năng chứ không phải số lượng. Hơn nữa số người này đã nhiều hơn gấp đôi số người thành lập Tự lực văn đoàn vang dội trong lịch sử rồi còn gì?

    Kết thúc bài viết, chúng tôi muốn nhắn nhủ những người chủ trương có hai thứ dân chủ, nhân quyền của phương Tây và của Việt Nam rằng, họ chẳng những đã xúc phạm nặng nề đối với Hồ Chí Minh mà nếu chịu khó đọc lại lời của K. Marx và F. Engels viết trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản cách đây 162 năm, sẽ thấy họ còn chống lại Marx – Engels một cách hết sức thô bạo:

    Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thẩn cũng không kém như thế. Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc. Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học toàn thế giới.” (Nxb Sự Thật, 1974, trang 49 – 50).

    Tưởng cũng nên biết thêm rằng, ngày nay toàn cầu hóa không chỉ tới các quốc gia, các tập đoàn mà theo Thomas L. Friedman nhận xét, toàn cầu hóa đã tới mỗi cá nhân trong một “thế giới phẳng”, “thế giới từ nhỏ đã trở thành siêu nhỏ”. Chẳng lẽ trong thế giới siêu nhỏ này chỉ riêng dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục bị đẩy vào thân phận “ếch ngồi đáy giếng”?

    Ngày 19 tháng 8 năm 2010

    T. V. C.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi