Giáp Văn Dương - Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?

  • Bởi Admin
    28/08/2010
    3 phản hồi

    Giáp Văn Dương

    Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới - con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân - thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

    Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

    Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

    Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

    Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

    Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

    Trí thức độc lập

    Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

    Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.

    Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.

    Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.

    Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

    Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

    Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

    “Trí thức cận thần”

    Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

    Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.

    Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

    Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.

    Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

    Bài học cho hậu thế

    Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

    Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

    Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

    Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

    Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

    Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

    ________________________

    Ghi chú:

    1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

    2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.

    3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.

    4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.

    Fukuzawa là nhà giáo dục và học giả có thể nói là người ở bên ngoài chính quyền Nhật Bản có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn cuộc Canh Tân Minh Trị, lật đổ chế độ Tokugawa năm 1868. Ông lãnh đạo cuộc đấu tranh học tập những ý tưởng của phương Tây nhằm xây dựng "một nước Nhật Bản hùng mạnh và độc lập".

    Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ.

    Trong tác phẩm Phúc ông Tự truyện viết năm 1901, trước khi mất ít lâu, Fukuzawa tuyên bố việc xoá bỏ mọi đặc ân phong kiến của triều đại Minh Trị và chiến thắng chế độ phong kiến Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1894-1895 để hình thành một nhà nước Nhật Bản hiện đại chính là ước mơ suốt cuộc đời ông.

    Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 trong một gia đình Công giáo, quê làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).

    Từ nhỏ ông đã được Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauchier) dạy tiếng Pháp cùng với các môn khoa học thường thức của Tây phương. Ông lại được cho đi du học ở nhiều nơi như Singapore, Malaisia, Pháp, La Mã... Trong những chuyến đi đó, ông đã tìm tòi và lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học mới, trong lòng nung nấu đem những điều mình đã học hỏi được về phục vụ cho lợi ích nước nhà.

    Tháng 5 năm 1863 ông đã soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước.

    Sau ba bản điều trần trên, Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi nhiều bản khác lên Triều đình Huế (có 58 di thảo gửi cho Triều trình, liên tục trong vòng 10 năm). Những bản điều trần của ông là những đề nghị tâm huyết nhằm góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng phong bế, lạc hậu và tạo nên sự thay đổi lớn lao bên trong, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhìn vào nội dung các bản điều trần, chúng ta nhận thấy Nguyễn Trường Tộ đã đi trước, và vượt lên trình độ của các tầng lớp trí thức nho sỹ đương thời.

    Song thật tiếc, những dòng tâm huyết ấy lại không được chấp nhận do hạn chế của thời đại.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Khổng Tử, người bị không ít người đời gán cho cái tội làm xã hội phương đông chậm phát triển vì để lại học thuyết Nho Giáo chỉ nhằm bảo vệ vị thế của giai cấp thống trị. Nhưng chính Ông cũng đã nhận định: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh".
    Và chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã khẳng định: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng".
    Nguyễn Trường Tộ là một trí thức, nhưng dường như chẳng giúp ích được gì trong việc "canh tân và phát triển đất nước".
    Theo những luận cứ "cách mạng" nêu trên, tôi cho rằng Nguyễn Trường Tộ thất bại bởi vì Ông là chỉ một người trí thức, nhưng chưa phải là một nhà cách mạng.
    Nếu đã là nhà cách mạng thì phải biết "lấy dân làm gốc" và phải xác định đối tượng mình cần thức tỉnh để tạo lực lượng cách mạng là nhân dân, chứ không phải giới cầm quyền.
    Do đó, tôi cho rằng đất nước ta không chỉ có một Nguyễn Trường Tộ của ngày xưa, mà còn có vô số Nguyễn Trường Tộ của ngày nay.
    Nhờ những thông tin do hacker tung lên mạng, tôi được biết người sáng lập ra diễn đàn Dân Luận này là TS. Nguyễn Công Huân. Tôi thật sự ngưỡng mộ anh Công Huân, bởi theo nhận định của cá nhân tôi, anh vừa là một người trí thức, vừa là một nhà cách mạng.
    Rất mong những người trí thức hôm nay rút được bài học kinh nghiệm từ Nguyễn Trường Tộ, để chọn cho mình một giải pháp đúng đắn. Tôi nghĩ truyền bá tư tưởng, kiến thức của thời đại đến với nhân dân là phương pháp tích cực, hiệu quả nhất để những người trí thức đóng góp vào việc "canh tân và phát triển đất nước".

    Xin bổ sung một ý với bác Giáp Văn Dương: Fukuzawa thành công trong khi Nguyễn Trường Tộ thất bại, ngoài lý do ông quyết định đứng ngoài hệ thống chính quyền để giúp nước, còn có lý do "thiên thời".

    1/ Fukuzawa đưa ra các sáng kiến canh tân khi nước Nhật vừa đổi chính quyền. Chính quyền mới còn yếu, nên vẫn phải dựa vào nhân tài để củng cố vị trí của mình, tương tự như chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945.

    Ngược lại, Nguyễn Trường Tộ đưa ra các sáng kiến canh tân khi chính quyền nhà Nguyễn ở Việt Nam đã bước vào giai đoạn thủ cựu - thoái trào, quyền lực của họ đã vững chắc và không cần (hay ngại) thay đổi.

    2/ Nước Nhật trước đó hàng trăm năm vẫn có sự cạnh tranh giữa các trường phái học thuật, các trí thức Nhật rất cởi mở để tiếp thu và làm theo các tư tưởng mới. Ngược lại, trí thức Việt Nam lúc đó đã bị trói buộc vào thứ Nho Giáo khoa cử, tầm chương trích cú mà thiếu sáng tạo và thiếu cạnh tranh, thiếu tìm hiểu cái mới. Xin độc giả Dân Luận đọc bài của Đoàn Giang Lê: So sánh Nho Giáo Việt Nam và Nho Giáo Nhật Bản để thấy sự khác biệt.

    Cuốn sách Khuyến Học của Fukuzawa đã nhanh chóng trở thành cuốn sách gối đầu giường của người Nhật, trong khi ông Phan Thanh Giản đi sang Pháp về, thấy những cái hay cái đẹp của họ, nhưng nói chẳng ai thèm nghe:

    Từ ngày đi sứ tới Tây-kinh
    Thấy việc Âu-châu phải giật mình
    Kêu tỉnh đồng-bang mau kíp bước
    Hết lời năn-nỉ chẳng ai tin

    Văn hóa, thời cơ, đó chính là những yếu tố quan trọng tạo ra thành công hay thất bại cho những con người như Fukuzawa hay Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giản...

    Trích dẫn:
    không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác "tránh" con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới : con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

    Trích vài đoạn trong bài "Xã hội cần những trí thức suy nghĩ độc lập" của báo Tuổi Trẻ phỏng vấn Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh.
    Bài này được đăng ngày 21/09/2009 nhưng vẫn luôn còn giá trị thực tế hiện nay với EVN, Vinashin và với câu "Phản biện mà không có đối thoại là thất bại".

    " Nhìn lại lịch sử đất nước, đội ngũ trí thức ở Việt Nam nếu có tồn tại thì thường gắn bó chặt chẽ với chính quyền. Những người có tiếng nói cách tân độc lập như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ… bao giờ cũng rất hiếm hoi. Trong hai thập niên trở lại đây, những người trí thức có điều kiện trở nên độc lập hơn nhờ xu thế phát triển chung của đất nước. "

    " Việc bốn nhà văn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Hoàng Cầm được trao tặng Giải thưởng Nhà nước trong năm 2007 là sự thừa nhận về những sai lầm của một thời và là một lời khẳng định rằng những giá trị đích thực sẽ luôn sống cùng thời gian. "

    " Phải chăng người trí thức trong xã hội chúng ta vẫn còn mang trên vai một gánh nặng quá khứ ngột ngạt ? "

    " Mới đây, Chính phủ đã ban hành Quyết định 97, một vài điều khoản giới hạn phạm vi phản biện đối với các tổ chức khoa học công nghệ. Theo anh, phản biện như thế nào để có chừng mực ? "

    " Phản biện mà không có đối thoại là thất bại. "

    " Có nhiều lý do. Về phương diện kinh tế, thứ nhất vẫn là đầu tư kém hiệu quả. Thứ hai, sự tồn tại của các nhóm đặc quyền, đặc lợi cản trở cải cách, nền kinh tế thì kém hiệu quả nhưng họ lại được lợi. Thứ ba, hệ thống giáo dục lạc hậu, không theo kịp yêu cầu của sự phát triển và hội nhập. Vấn đề thứ tư là các nút cổ chai của nền kinh tế, gồm hạ tầng, hệ thống hành chính, thể chế, luật pháp… và năng lực điều hành của Nhà nước đều bất cập. "

    " năng lực của bộ máy quản lý đất nước đi xuống trong khi mặt bằng xã hội đang dần được nâng lên, tạo ra mâu thuẫn trong hệ thống quản trị nhà nước của Việt Nam "

    " Các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam tuy nói là học theo mô hình chaebol của Hàn Quốc, nhưng là một sự học tập không đầy đủ. Cần lưu ý là hai mô hình này có nhiều điểm khác nhau rất cơ bản. Thứ nhất, tập đoàn ở Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước, trong khi các chaebol của Hàn Quốc về cơ bản thuộc sở hữu tư nhân. Hình thức sở hữu khác nhau thì ứng xử cũng sẽ rất khác do một bên tiêu tiền của Nhà nước, còn bên kia tiêu tiền do mồ hôi nước mắt của mình tích lũy nên "

    " Việt Nam đi theo một mô hình đã trở nên lỗi thời vào thời điểm không thích hợp. Hai cái sai cộng lại thì rất khó cho ra một kết quả đúng. "

    " Đóng góp của tập đoàn vào GDP cũng thấp, không tương xứng với những ưu đãi nhận được "

    " vấn đề không hoàn toàn nằm ở chỗ tập đoàn của Nhà nước hay tư nhân, mà yếu tố quyết định là phải có cạnh tranh bình đẳng, phải xóa thế độc quyền. Bên cạnh đó, cũng cần phải thay đổi hệ thống quản trị của các tập đoàn, tạo ra động cơ kinh doanh có lợi nhuận. "

    " Về phía Nhà nước, cần tách bạch ba chức năng: quản lý hành chính, sở hữu nhà nước, và điều tiết độc quyền trong việc quản lý tập đoàn nhà nước. Về phía doanh nghiệp, cần tách bạch chức năng kinh doanh và chức năng xã hội của các tập đoàn "

    " Chính sự nhập nhằng giữa chức năng kinh tế và xã hội này là cái cớ để các tập đoàn biện bạch cho sự kém hiệu quả. Mặt khác, các tập đoàn sử dụng vốn ngân sách thì phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước bằng công tác kiểm toán công khai minh bạch, quy định đầu tư đến một ngưỡng nào đó thì phải chuyển qua một cơ quan thẩm định và giám sát đầu tư công độc lập "

    " Ở tất cả các quốc gia phát triển luôn tồn tại một đội ngũ trí thức độc lập, đóng góp tích cực và mạnh mẽ cho đời sống xã hội. Lực lượng này hành động vì lợi ích của đất nước. Họ cất tiếng nói luôn vì những điều lớn lao hơn cá nhân họ, và chính điều này khiến họ trở thành người trí thức. Để phát triển, xã hội luôn cần những trí thức suy nghĩ độc lập "

    http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/338049/Xa-hoi-can-nhung-tri-thuc-suy-nghi-doc-lap.html