Tìm hiểu thêm tư tưởng Dân Chủ Hồ Chí Minh

  • Bởi Admin
    17/08/2010
    2 phản hồi

    P.V.K - N.V.A

    Điều thứ nhất chúng ta rút ra được từ bài viết này là có một cách hiểu hoàn toàn khác về dân chủ Hồ Chí Minh, không giống với cách nhìn của <a href="http://danluan.org/node/5729">Thượng Tướng Nguyễn Văn Hưởng</a> [ông này cũng dẫn lời Hồ Chí Minh nhưng khẳng định rằng dân chủ phương Tây và phương Đông là khác nhau]. Điều thứ hai quan trọng hơn là cách hiểu của Hồ Chí Minh về dân chủ mới chỉ dừng lại ở ƯỚC MUỐN (muốn dân làm chủ, muốn quyền lực thuộc về nhân dân), mà không đưa ra được các BIỆN PHÁP đúng đắn để thực hiện ƯỚC MUỐN của mình. Thiếu các cơ chế kiểm soát quyền lực như đa đảng, tam quyền phân lập, bầu cử tự do, bảo vệ nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội v.v..., thế hệ hậu sinh sau cụ đã nhanh chóng biến ƯỚC MUỐN của cụ thành những lời hứa không có thực...

    1. Ở Việt Nam trước khi có sự ra đời của nhà nước Dân chủ Cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, chưa có một thể chế dân chủ nào tồn tại trong lịch sử. Có chăng chỉ tồn tại những giá trị dân chủ mang tính thoả thuận của cộng đồng như "lệ làng", "hương ước" v.v...

    Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi dân chủ có ý nghĩa như một giá trị chung, là sản phẩm của văn minh nhân loại, xem dân chủ như lý tưởng phấn đấu của các dân tộc. Người cũng không chỉ coi dân chủ với tư cách như một thiết chế xã hội của một quốc gia mà khái niệm này được mở rộng ra biểu hiện mối quan hệ của đời sống quốc tế - một thiết chế quốc tế cần được xây dựng cho nhân loại.

    Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận và tiếp thu tinh thần tiến bộ của các nhà tư tưởng dân chủ Pháp như Môngtetxkiơ, G. Rutxô, V. Huygô v.v... Những giá trị tiến bộ của tư tưởng dân chủ tư sản đã trở thành căn cứ pháp lý để Người đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân.

    Khi dân tộc đã giành được độc lập, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đây là cuộc đổi đời của cả một dân tộc cũng là cuộc đổi đời của từng con người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phản ánh sự đổi thay cơ bản ấy bằng phạm trù làm chủ; là người chủ. Người khẳng định địa vị làm chủ của nhân dân, coi đó là nội dung cơ bản của nền dân chủ mới. Phạm trù làm chủ; là người chủ là nội dung trung tâm trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh. Nhân dân có quyền làm chủ, là người chủ của xã hội là tiêu chí quan trọng xác định bản chất của chế độ dân chủ nhân dân.

    Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, nhân loại mới chỉ được biết đến hai hình thức chính quyền nhà nước dân chủ của thời đại mới. Đó là công xã Pari và chính quyền Xô Viết. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khái quát được những gì tinh túy, tiến bộ và khoa học của những hình thức này, kết hợp hài hoà với những truyền thống nhân văn của dân tộc và xây dựng cho mình những quan điểm về dân chủ:

    ..“Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì chính phủ phải là đầy tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài - Nếu chính phủ làm hại dân thì dân dân có quyền đuổi chính phủ. Nhưng khi dân dùng đầy tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ chính phủ... Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ, giám sát chính phủ”.

    Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân”.

    Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”...

    Cũng có thể thấy rõ hơn quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ với một sự lý giải cô đọng sau đây:

    "Nước ta là một nước dân chủ
    Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
    Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
    Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
    Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân
    Chính quyền từ xã đến chính phủ đều do dân cử ra
    Đoàn thể từ Trưng ương đến xã do dân tổ chức nên
    Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân".

    Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, trong khái niệm về dân chủ, vấn đề nhất quán và sáng tỏ nhất là sự khẳng định ngay chế độ dân chủ của nước ta là phải thể hiện "bao nhiêu lợi ích đều vì dân", "quyền hành", "trách nhiệm, lực lượng" là "của dân", "đều ở nơi dân". Định nghĩa đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của một xã hội mang tính dân chủ là chế độ đại diện, ủy quyền, trong đó chính quyền và đoàn thể đều "do dân cử ra" và "do dân tổ chức nên".

    Định nghĩa tổng quát nhất mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Dân chủ tức là: dân là chủ và dân làm chủ trong đó “mọi quyền hành và lực lượng là ở nơi dân” (thuộc về nhân dân). Quan niệm đó đã làm sáng tỏ quan điểm Hồ Chí Minh coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng khi Người cho rằng “công việc đổi mới, xây dựng, kháng chiến kiến quốc là trách nhiệm và công việc của dân”. Đồng thời quan điểm này còn làm nổi bật và thể hiện rõ tư tưởng của Người về nền dân chủ XHCN - nền dân chủ lấy mục tiêu cao nhất là vì con người và giải phóng triệt để con người.

    2. Hồ Chí Minh không dùng những lý luận cao xa để diễn giải về phạm trù dân chủ nhưng chúng ta vẫn thấy sự nhất quán và có hệ thống qua các bài nói và viết của Người về địa vị và quyền làm chủ của nhân dân. Người thường nhắc đến vai trò “người chủ đất nước” của mọi người dân trong các ngành, các giới: công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, các dân tộc, cả các cháu thiếu niên nhi đồng... Nền dân chủ mà chúng ta xây dựng là nền dân chủ nhân dân, nền dân chủ XHCN, là nền dân chủ triệt để: “Các tầng lớp nhân dân ta - công nhân, nông dân, lao động trí óc, các nhà công thương, đồng bào thiểu số - ai nấy hãy làm tròn nghĩa vụ của người công dân, người chủ nước nhà”.

    Hồ Chí Minh đã nêu một mệnh đề cô đọng, xúc tích: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”. Trong mệnh đề này chứa đựng đầy đủ nội dung “dân chủ là của con người, do con người và vì con người”. Con người là chủ thể của nền dân chủ và nền dân chủ - với tư cách như một thể chế chính trị - phải lấy con người làm nhân tố chủ đạo, con người ở vị trí trung tâm.

    Quan điểm “Chế độ ta là chế độ dân chủ” của Hồ Chí Minh còn xem dân chủ như một phương thức tổ chức xã hội hiện đại - nhà nước không bao trùm lên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó chỉ rõ, trong khi hoàn thiện chế độ nhà nước thì đồng thời cũng phải mở rộng và hoàn thiện quan hệ dân chủ trong các lĩnh vực khác của xã hội, mở rộng phạm vi tự quản của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển của nền dân chủ. Quan niệm đó nêu rõ đặc tính dân chủ phải được thấm nhuần trong tất cả các lĩnh vực quan hệ, giữa các cá nhân, cộng đồng, giữa các nhóm và tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị... để hướng tới một xã hội đảm bảo sự phát triển tự do của mỗi thành viên và là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người trong xã hội.

    Khái niệm dân chủ của Hồ Chí Minh giúp cho việc nhận thức được đúng yêu cầu của dân chủ trong các quan hệ xã hội không thuộc về chính trị mà ở đó dân chủ biểu hiện các giá trị thuộc về đạo lý con người như quan hệ trong gia đình, trong trường học... ở đây vấn đề dân chủ biểu hiện đạo lý và tính người.

    Hồ Chí Minh trong khi khẳng định dân chủ là thành quả to lớn mà cách mạng đem lại cho mỗi người dân cũng luôn đề cập đến trách nhiệm của mỗi người dân trong việc xây dựng nền dân chủ. Việc thực hiện dân chủ và xây dựng nền dân chủ, hiện thực hoá những lý tuởng dân chủ trong đời sống xã hội vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mỗi công dân: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân”. Bổn phận công dân được nhắc đến ở đây là bổn phận công dân của một thể chế dân chủ nhân dân, bổn phận công dân trong một xã hội do nhân dân làm chủ.

    Những vấn đề dân chủ Hồ Chí Minh đề cập là những nội dung hết sức thiết thực với cả cộng đồng cũng như với từng cá nhân. Nền dân chủ mà chúng ta hướng tới - theo lý tưởng của Hồ Chí Minh - là nền dân chủ thực sự, nền dân chủ trong thực tiễn, trong đó nhân dân giữ địa vị cao nhất, chứ không phải nền dân chủ trên giấy tờ sách vở. Mọi hoạt động của Nhà nước, Đảng, các đoàn thể quần chúng... đều nhằm để “Thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự”.

    Khi chỉ ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể đối với từng đối tượng là những giai cấp, thành phần xã hội khác nhau để thực hành dân chủ một cách thiết thực và hiệu quả, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến quyền dân chủ theo từng địa vị xã hội của họ. Hồ Chí Minh không phải là nhà dân chủ theo lối kinh viện mà trước hết Người là một nhà cách mạng. Hồ Chí Minh luôn đấu tranh, luôn đòi hỏi sự phấn đấu của mọi người để đạt đến một nền dân chủ thực sự chứ không phải một nền dân chủ giả hiệu, hình thức. Nền dân chủ mà Người đã dành cả cuộc đời đấu tranh để giành lấy và vun đắp cho nhân dân là một nền dân chủ hiện thực từ những biểu hiện nhỏ nhất, gần gũi với con người nhất. Trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh thấm đậm chủ nghĩa nhân văn cao cả.

    3. Ngay từ khi ra đời, ĐCS Việt Nam đã gánh vác trách nhiệm lãnh đạo cuộc đấu tranh gìành độc lập cho dân tộc, giành tự do cho nhân dân, xây dựng một xã hội tốt đẹp cho con người, vì con người. Tất cả những chủ trương, đường lối. chiến lược, sách lược, mọi hành động của Đảng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền của Đảng đều nhằm thực hiện khát vọng cháy bỏng nhất của toàn thể nhân dân: Độc lập dân tộc.

    Khi đã giành được chính quyền, Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ đất nước. Mục đích lý tưởng của Đảng - lý do tồn tại và đấu tranh của Đảng - là giải phóng nhân dân khỏi áp bức bóc lột, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân hoàn toàn không thay đổi nhưng có sự thay đổi về yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng cụ thể; thay đổi trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo; thay đổi về phương pháp lãnh đạo của Đảng...

    Khi đã trở thành Đảng cầm quyền, đối tượng lãnh đạo của Đảng không thay đổi nhưng điều kiện hoạt động của Đảng đã thay đổi về cơ bản. Điều này đặt ra vấn đề trong công tác xây dựng Đảng để Đảng không bị tha hoá bởi quyền lực, cán bộ đảng viên không bị biến chất khi đã nắm giữ những cương vị quyền lực, Đảng không thể đứng trên xã hội, đứng ngoài quần chúng... Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới việc phải đấu tranh loại trừ sự mất dân chủ, độc đoán chuyên quyền; đặc quyền đặc lợi... của những ông “quan cách mạng”... Điều này đòi hỏi Đảng phải thường xuyên chỉnh đốn tổ chức, rèn luyện cả về phẩm chất và năng lực cuả toàn Đảng cũng như của từng đảng viên. Một điều cũng không kém phần quan trọng là Đảng phải thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của mình để ngày càng gắn bó với dân hơn, tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc:

    Đảng lãnh đạo nhưng dân là chủ
    Đảng cầm quyền nhưng mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân

    Hồ Chí Minh diễn đạt điều này một cách khác: Đảng là người lãnh đạo nhưng đồng thời cũng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

    Đây là một nguyên tắc lớn không bao giờ thay đổi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây cũng là điều phân biệt rõ nét sự cầm quyền của một đảng cộng sản chân chính. Đảng là một bộ phận của nhân dân, phân biệt với bộ phận còn lại ở tính cách mạng, tính tiên phong, tính tổ chức của mình. Đảng là người lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành lấy những quyền lợi của mình và là người bảo vệ kiên quyết nhất những lợi ích của nhân dân. Khi được nhân dân trao cho trách nhiệm, chức quyền, mọi cán bộ, đảng viên chỉ là người đại diện cho nhân dân, phải “như người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt trận”. Vì lẽ đó, Đảng chính là “người đày tớ” trung thành nhất của nhân dân.

    Đảng có quyền lực chính trị nhưng không nắm giữ quyền lực hành chính. Đảng lãnh đạo không phải là “Đảng trị”. Đảng lãnh đạo thông qua bộ máy nhà nước do nhân dân bầu ra và hoạt động tuân theo ý nguyện của nhân dân, trong sự giám sát của nhân dân.

    Đảng không xác định cho mình một khu vực lợi quyền riêng mà mọi hành động của Đảng đều tuân theo và nhằm thực hiện những ý nguyện của toàn dân. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

    Những quan điểm này đã được Đảng ta và Hồ Chí Minh nhấn mạnh ngay từ những ngày đầu lãnh đạo nhân dân xây dựng chính quyền sau khi giành được độc lập; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc trong kháng chiến chống Pháp, trong kháng chiến chống Mỹ, và sau khi đất nước hoà bình thống nhất đã được nâng lên một tấm cao mới. Những quan điểm đó đã được thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật; trong nhiều chỉ thị, nghị quyết và trong hiện thực cách mạng; cả trong lý luận và trong thực tế.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Nước ta là một nước dân chủ và là dân chủ mới để tiến đến chủ nghĩa xã hội”. Tư tưởng đó của Người đã được ghi thành tiêu chí của đất nước ở cả thời kỳ của nước Việt NamDCCH và CHXHCN Việt Nam. Từ mục tiêu phấn đấu xây dựng nước “Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường” mà Hồ Chí Minh nêu lên từ Đại hội II của Đảng (năm 1951) đến mục tiêu “Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh” được Người chỉ rõ sau năm 1954 và được ghi nhận như điều mong muốn cuối cùng để lại cho Đảng và nhân dân ta trong Di chúc, dân chủ luôn là mục tiêu phấn đấu không ngừng của cách mạng nước ta. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đem lại độc lập cho Tổ quốc và đáp ứng mơ ước ngàn đời của đa số cư dân Việt Nam là nông dân về ruộng đất đã đem lại nguồn nội lực cho thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc là minh chứng sáng tỏ nhất vai trò động lực của dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thành công của công cuộc Đổi mới ngày nay cũng được khởi đầu bằng quá trình dân chủ hoá trong các lĩnh vực đã tạo nên động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội là một hiện thực sinh động nữa về sự vững bền của động lực dân chủ đối với sự phát triển xã hội. Điều đó làm sáng tỏ hơn nữa khái niệm dân chủ của Hồ Chí Minh khi Người coi nguồn gốc của “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

    Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là một sự nghiệp có tính nhân văn cao, đòi hỏi một lực lượng tiên phong đại diện cho những gì tốt đẹp nhất của xã hội, một lực lượng xã hội có đầy đủ lương tâm và trí tuệ lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng là bảo đảm cho Nhà nước hoạt động đúng như một Nhà nước dân chủ và pháp quyền, đúng định hướng XHCN.

    Những bài học nóng bỏng và đắt giá từ việc bộ máy chính quyền ở một số địa phương không còn do dân, của dân và vì dân đã làm mất lòng tin của nhân dân, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, càng khẳng định chúng ta không được xa rời những quan điểm đúng đắn của Đảng ta và Hồ Chí Minh

    Khi khẳng định: “Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ; Đảng lãnh đạo nhưng mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân”, Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đồng thời khẳng định lý tưởng cao đẹp của mình khi đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân xây dựng một xã hội tốt đẹp công bằng, dân chủ, văn minh với nhân dân là chủ thể của mọi họat động xã hội. Bằng và thông qua công cụ hữu hiệu là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, những lý tưởng đó từng bước được hiện thực hoá trong đời sông xã hội. Tuy rằng đó là một quá trình còn nhiều gian nan thử thách trước những biến động của tình hình quốc tế, những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, song quyết tâm của ĐCS Việt Nam và nhân dân Việt Nam là kiên định.

    4. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi dân chủ có ý nghĩa như một giá trị chung, là sản phẩm của văn minh nhân loại, xem dân chủ như lý tưởng phấn đấu của các dân tộc. Người cũng không chỉ coi dân chủ với tư cách như một thiết chế xã hội của một quốc gia mà khái niệm này được mở rộng ra biểu hiện mối quan hệ của đời sống quốc tế - một thiết chế quốc tế cần được xây dựng cho nhân loại. Hồ Chí Minh xem xét dân chủ, bình đẳng là cho tất cả các quốc gia - dân tộc trong mối quan hệ quốc tế và xem đó là lối ứng xử văn minh giữa tất cả các quốc gia - dân tộc. Tư tưởng đó là cơ sở cho sự hình thành nên một văn hoá - văn hoá hoà bình của nhân loại. Hồ Chí Minh đã nêu lên công thức đảm bảo cho việc thiết lập một nền hoà bình thế giới dựa trên nền tảng dân chủ và bình đẳng giữa các dân tộc khi Người nói: "Hoà bình, một nền hoà bình chân chính xây dựng trên công bình và lý tưởng dân chủ phải thay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc, màu da". Nói một cách khác, một thiết chế dân chủ phải được thiết lập dựa trên cơ sở bình đẳng và chủ quyền của mỗi quốc gia-dân tộc thì hoà bình cho toàn nhân loại mới được đảm bảo. Trong trường hợp này, dân chủ biểu thị mối quan hệ giữa các dân tộc. Trong thế kỷ XXI, “thiết chế dân chủ” trong các mối quan hệ quốc tế - như quan điểm của Hồ Chí Minh - vẫn còn được nhân loại phấn đấu xây dựng.

    * * *

    Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng, người sáng lập nền dân chủ mới mà còn là người lãnh đạo thực hiện quá trình dân chủ hoá xã hội ở Việt Nam. Gần sáu thập kỷ tranh đấu, sáng lập và hiện thực hoá nền dân chủ mới ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng vô giá - tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh. Giá trị thực tiễn và sự trường tồn của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh là ở chỗ, nó không chỉ nêu lên những vấn đề có tính lý luận mà còn để lại những kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong quá trình xác lập và hoàn chỉnh từng bước nền dân chủ mới ở nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam.

    P.V.K - N.V.A

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Trích dẫn:
    Điều thứ nhất chúng ta rút ra được từ bài viết này là có một cách hiểu hoàn toàn khác về dân chủ Hồ Chí Minh, không giống với cách nhìn của Thượng Tướng Nguyễn Văn Hưởng [ông này cũng dẫn lời Hồ Chí Minh nhưng khẳng định rằng dân chủ phương Tây và phương Đông là khác nhau]

    Dân chủ là quyền con người thì ở đâu cũng phải giống nhau. Quyền con người được ghi trong hiến chương LHQ là xài chung cho tất cả chứ không phân biệt cho đông và tây, nam và bắc.

    Ông Thượng Tướng Nguyễn Văn Hưởng muốn "phân biệt đối xử" (discrimination) giữa con người với nhau.
    Như vậy dân chủ cuả VN giống chủ nghĩa Apartheid ở Nam Phi khi xưa chăng ?

    Trích dẫn:
    Hồ Chí Minh diễn đạt điều này một cách khác: Đảng là người lãnh đạo nhưng đồng thời cũng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

    Câu này thật khó hiểu và mâu thuẫn (theo tôi)

    http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3nh_%C4%91%E1%BA%A1o

    Trích :
    " Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức "

    Theo định nghĩa trên :
    Đảng và duy nhất chỉ có đảng CS luôn luôn lãnh đạo nhân dân thì có nghĩa là nhân dân là "cấp dưới" của đảng. Như vậy ràng nhân dân là "đầy tớ" của đảng CS chứ không thể là ngược lại

    Tôi là công dân bình thường, có một nhóm người chỉ huy, lãnh đạo tôi mọi việc, chẳng lẽ nhóm người này lại là đầy tớ trung thành của tôi ? Và tôi, tuy là chủ, nhưng không thể thay thế đầy tớ khác vì đầy tớ hiện nay "thật trung thành" đối với tôi cho nên các đầy tớ phải có quyền cai trị ông chủ mãi mãi !? Nếu vậy có khác chi ông chủ bị giam lỏng

    Và rủi nếu thằng đầy tớ có quyền lực trong tay (đảng CS) không chịu trung thành với chủ nữa (nhân dân) thì cái đám chủ bù nhìn, không quyền lực, làm cách nào để trừng trị bọn đầy tớ tham lam này ?

    Câu diễn đạt trên của HCM đưa đến việc sau này đảng CSVN ghi điều 4 vào hiến pháp bởi theo HCM thì chỉ có Đảng mới có quyền lãnh đạo giống như Lê Chi và TS Đỗ Phú Thọ vẫn viết mãi trên báo QĐND

    Tôi "thắc mắc" là HCM có thật sự hiểu về dân chủ và tự do hay không ?

    Trích dẫn:
    Điều thứ hai quan trọng hơn là cách hiểu của Hồ Chí Minh về dân chủ mới chỉ dừng lại ở ƯỚC MUỐN (muốn dân làm chủ, muốn quyền lực thuộc về nhân dân), mà không đưa ra được các BIỆN PHÁP đúng đắn để thực hiện ƯỚC MUỐN của mình. Thiếu các cơ chế kiểm soát quyền lực như đa đảng, tam quyền phân lập, bầu cử tự do, bảo vệ nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội v.v..., thế hệ hậu sinh sau cụ đã nhanh chóng biến ƯỚC MUỐN của cụ thành những lời hứa không có thực...

    Nếu ông Hồ Chí Minh còn sống lâu dài hơn với đủ quyền lực mà vẫn thiếu các biện pháp đúng đắn để thể hiện "dân làm chủ" thì ông Hồ có thể biến những "lời hứa" của ông thành hiện thực không?

    Trích dẫn:
    Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận và tiếp thu tinh thần tiến bộ của các nhà tư tưởng dân chủ Pháp như Môngtetxkiơ, G. Rutxô, V. Huygô v.v... Những giá trị tiến bộ của tư tưởng dân chủ tư sản đã trở thành căn cứ pháp lý để Người đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân.

    Lạ nhỉ, sao ông Hồ tiếp thu tinh thần tiến bộ của các nhà tư tưởng dân chủ Pháp mà ông lại không thể học hỏi/tiếp thu và thực hiện các định chế dân chủ cho VN nhỉ.

    Có điều nghịch lý/vô lý đâu đấy.