Phan Chí Thắng - Lạm bàn vài chuyện: Phân chia giai cấp

  • Bởi Admin
    12/08/2010
    1 phản hồi

    Phan Chí Thắng

    I. Một số ví dụ để dẫn nhập

    Trước khi bàn về các kiểu phân tích hay mô hình hoá xã hội, tôi xin lấy một vài ví dụ thật đơn giản.

    Ví dụ 1:

    Giả sử ta có một lớp học gồm 30 nam và 30 nữ. Ta có rất nhiều cách phân chia lớp học:

    - Theo giới tính nam và nữ, mỗi giới 30 người
    - Chia tổ, gồm 4 tổ, mỗi tổ 15 người
    - Xếp theo học lực: Giỏi, khá, trung bình, kém
    - Phân loại đạo đức: Tốt, trung bình, kém
    - Phân loại lý lịch: Con nhà giàu, con em trong ngành gửi gắm, con nhà nghèo, v.v...
    - Phân loại sức khoẻ: Tốt, trung bình, kém

    Và rất nhiều cách phân loại khác nữa: Theo năng khiếu, theo sở thích, theo tính tình, theo sắc đẹp…

    Việc chọn kiểu phân loại nào là phụ thuộc vào mục đích đánh giá đối tượng.

    Ví dụ 2:

    - Bác sỹ chụp X quang bệnh nhân, ông ta có thể thấy xương gãy, phổi nám, dạ dày loét… nhưng tuyệt nhiên không thể “nhìn thấy” các dây thần kinh và càng không thể nhìn thấy hệ kinh lạc theo lý thuyết Đông y.

    - Bác sỹ siêu âm màu không gian ba chiều có thể thấy rõ nhiều thứ hơn ông soi X quang: sỏi thận, bùn mật, viêm loét tử cung, các u. Nhưng không thấy được là u lành hay u dữ.

    - Bác sỹ chiếu cắt lớp “nhìn” được cơ thể con người ở độ phân giải cao hơn.

    Nhưng ông siêu âm và ông cắt lớp vẫn không nhìn thấy được hệ kinh lạc.

    Vậy kết quả xem xét đối tượng phụ thuộc vào công cụ được dùng để xem xét. Mỗi công cụ đều có những ưu điểm và hạn chế.

    Ví dụ 3:

    Để điều trị bệnh nhân, tuỳ trường hợp, thầy thuốc có thể chỉ định cho dùng thuốc hoặc phải can thiệp ngoại khoa. Một trăm năm trước, mổ xẻ gắn liền với dao kéo, chỉ khâu. Ông bác sỹ giỏi nhất ở thế kỷ 19 cũng không thể có một chút khái niệm nào về mổ nội soi, về dùng tia la de thay cho dao mổ.

    II. Khái niệm giai cấp

    Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, Lênin định nghĩa: "Người ta gọi là giai cấp những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định".

    Như vậy, sự ra đời, tồn tại của giai cấp gắn với những hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Sự khác nhau về địa vị của giai cấp trong hệ thống sản xuất là do:

    Thứ nhất, khác nhau về quan hệ của họ đối với việc sở hữu những tư liệu sản xuất của xã hội.

    Thứ hai, khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức quản lý sản xuất, tổ chức quản lý lao động xã hội.

    Thứ ba, khác nhau về phương thức và quy mô thu nhập những sản phẩm lao động của xã hội.

    Trong những sự khác nhau trên đây, sự khác nhau của họ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định. Tập đoàn người nào nắm tư liệu sản xuất sẽ trở thành giai cấp thống trị xã hội và tất yếu sẽ chiếm đoạt những sản phẩm lao động của các tập đoàn khác. Đó là bản chất của những xung đột giai cấp trong các xã hội có giai cấp đối kháng.

    Trong các xã hội có giai cấp, ngoài giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, còn có các giai cấp và tầng lớp trung gian khác. Bộ phận này không có vị trí cơ bản trong phương thức sản xuất, nó thường xuyên bị phân hóa. Nhân tố chi phối sự phân hóa của các tầng lớp trung gian là lợi ích. Các giai cấp và tầng lớp trung gian ngả về phía giai cấp thống trị hay bị trị là tùy thuộc vào vị trí lợi ích của họ.

    Giai cấp thực chất là một phạm trù kinh tế - xã hội có tính lịch sử. Nó luôn luôn vận động biến đổi cùng với sự biến đổi của lịch sử.

    Trên đây là trích bài giảng về giai cấp hiện đang áp dụng ở các cơ sở đào tạo của Việt nam.

    III. Không nên chỉ dùng một cách phân chia giai cấp

    Cách phân chia xã hội ra thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột là một cách phân chia đúng, nhưng không phải là duy nhất. Giống như các ví dụ nêu trong phần I, nó là một trong nhiều cách xem xét nhìn nhận xã hội.

    Cách phân chia này mang tính cơ học, nó bỏ qua các mối quan hệ hữu cơ khác quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội.

    A là người sử dụng lao động, là ông chủ, là kẻ bóc lột. B là người lao động, là người làm thuê, là người bị bóc lột. Để phân tích tiếp, ta chấp nhận khái niệm “bóc lột” như chúng ta thường dùng, mặc dù nội hàm của khái niệm “bóc lột” có nhiều thay đổi theo sự tiến hoá của lịch sử loài người.

    A bóc lột, B bị bóc lột – đó là xét trên quan hệ lao động, trong phạm trù kinh tế hẹp. Nhưng khi B đi mua bánh mì, mua máy vi tính, mua quần áo, mua xe hơi… thì B lại là “thượng đế” của những ông chủ - kẻ bóc lột - sản xuất và tiêu thụ những thứ hàng hoá đó? Quy luật kinh tế thị trường đòi hỏi nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ phải ngày càng phải có sản phẩm tốt hơn, đẹp hơn, rẻ hơn để phục vụ thượng đế?

    Nghĩa là trong quan hệ lao động thì A là ông chủ và B là người làm thuê (bị bóc lột), nhưng trong quan hệ thị trường thì B lại là ông chủ còn A lại là người phục vụ?

    Vậy là phạm trù kinh tế - xã hội phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không nên hiểu theo nghĩa hẹp.

    Lịch sử phát triển của Chủ nghĩa Tư bản cho thấy ở thời kỳ đầu của nó, để tích tụ tư bản đã bóc lột thặng dư giá trị chủ yếu là nhờ bóc lột người lao động, khi giá trị nhân công của lao động sống còn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm do mức độ cơ giới hoá, tự động hoá, chuyên môn hoá chưa cao.

    Nhằm mở rộng thì trường nhân lực, khai thác tài nguyên, những kẻ thực dân thi nhau đánh chiếm thuộc địa. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã xoá bỏ Chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn cầu. Xuất hiện Chủ nghĩa thực dân mới: Không chiếm lãnh thổ, chỉ chiếm thị trường.

    Ngày nay Chủ nghĩa thực dân mới đã lộ rõ bản chất thực dân của mình. Xuất hiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế về sản xuất và lưu thông hàng hoá. Các nước chậm phát triển và đang phát triển dù muốn hay không cũng phải tham gia vào quá trình này, vì họ vẫn tìm thấy lợi ích sống còn trong đó.

    Như vậy là Chủ nghĩa Tư bản liên tục phát triển. Trong bộ Tư bản luận K. Marx đã có công rất lớn khi chỉ ra những mặt yếu kém của Chủ nghĩa Tư bản. Với tính năng động vốn có của mình, Chủ nghĩa Tư bản đã tự điều chỉnh rất nhanh.

    Hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Marx, vẫn có các viện bảo tàng về Marx. Không như một số người, khi thì tuyệt đối hoá sự đúng đắn của chủ nghĩa Marx, nhưng khi hệ thống Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ thì lại phủ định hoàn toàn nó.

    IV. Sự thô thiển trong cách hiểu về giai cấp và đấu tranh giai cấp

    Khái niệm đấu tranh giai cấp:

    Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp. V.I.Lênin định nghĩa đấu tranh giai cấp là "cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản".

    Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền, đặc lợi, những kẻ đi áp bức và bóc lột.

    Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan từ sự phát triển mang tính xã hội hóa ngày càng sâu rộng của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội: Mâu thuẫn giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho phương thức sản xuất mới, với một bên là giai cấp thống trị, bóc lột, đại biểu cho những lợi ích gắn với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu.

    Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp.

    Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến cách mạng xã hội, thay thế phương thức sản xuất cũ bằng một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Phương thức sản xuất mới ra đời mở ra địa bàn mới cho sự phát triển của sản xuất xã hội. Sản xuất phát triển sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống xã hội. Dựa vào tiến trình phát triển của lịch sử, C. Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng, đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội như là đòn bẩy thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội.

    Trên cơ sở lý luận này, trong gần suốt thế kỷ 20 đã diễn ra rất quyết liệt cuộc đấu tranh giai cấp thông qua cuộc đụng đầu giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa.

    Vì sao khối Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ? Có phải là do sai lầm cá nhân của một vài nhà lãnh đạo đảng, sự đánh phá của hệ thống Tư bản Chủ nghĩa, hay lý do ở chỗ khác?

    Chúng ta đã mặc nhiên coi giai cấp vô sản muốn và cần tiêu diệt giai cấp tư sản thì giai cấp tư sản cũng muốn và cần tiêu diệt giai cấp vô sản. Sai lầm là ở chỗ đó.

    Quyền lợi của giai cấp bóc lột là phải có ai đó để bóc lột? Nếu tiêu diệt giai cấp bị bóc lột thì chính là tiêu diệt mình?

    Thật trớ trêu là giai cấp tư sản hiện đại, để bóc lột được nhiều hơn, lại phải chăm lo đời sống vật chất tinh thần ngày càng tốt hơn cho người lao động. Đơn giản là vì nó phải lo tái sản xuất sức lao động.

    Với sự tiến bộ khoa học công nghệ, ngày nay chất xám cũng được coi là sức sản xuất. Ở các nước phát triển, chi phí sản xuất cho chất xám, công nghệ cao, máy móc thiết bị tinh vi hiện đại chiếm phần lớn giá thành sản phẩm. Phần nhân công lao động giản đơn chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Nếu nói giai cấp tư sản tiếp tục bóc lột thì nó bóc lột máy móc thiết bị, knowhow hiều hơn là bóc lột con người.

    Các nhà lý luận của chủ nghĩa Marx chỉ ra rằng giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới.

    Trong thực tế, người ta áp dụng điều này một cách ấu trĩ. Cứ xuất thân thành phần cơ bản (công nhân hoặc nông dân) là phải tốt, phải đáng tin hơn anh trí thức tiểu tư sản, vì họ đại diện cho giai cấp tiên phong mà! Thậm chí tồi tệ hơn nữa là văn hoá hành xử và ứng xử mang tính nông dân thiển cận, bảo thủ, tục tĩu lại bị ngộ nhận là ưu việt hơn văn hoá ứng xử kiểu trí thức truyền thống cũng như những ảnh hưởng văn hoá tốt đẹp từ các nước văn minh khác.

    Nền giáo dục Việt nam xuống cấp thê thảm là vì một thời gian dài chúng ta coi trọng “giáo dục tư tưởng của giai cấp công nhân” một cách chung chung, mơ hồ, mà coi nhẹ giáo dục kỹ năng sống và làm việc.

    V. Thay lời kết

    Dịch học, môn triết học phương Đông dẫu đã tồn tại mấy ngàn năm, nay vẫn cho thấy nó là một công cụ hữu hiệu khi tiếp cận các vấn đề về xã hội và giai cấp.

    Dịch nói luôn tồn tại Âm và Dương. Có dương ắt có âm và ngược lại. Âm và dương vừa mâu thuẫn vừa thống nhất. Trong âm có dương và trong dương có âm.

    Các nhà tư sản Việt nam hầu hết là yêu nước, ghét Chủ nghĩa Thực dân Pháp. Nhiều người trong số họ từng ủng hộ, giúp đỡ, che dấu các chiến sĩ cách mạng trong thời kỳ hoạt động bí mật là những người sau này giữ các cương vị cao trong Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hoà.

    Bản thân nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Nhà nước Việt nam sau năm 1945 là xuất thân từ các gia đình trí thức, tiểu tư sản, thậm chí quan lại của chế độ cũ.

    Vậy là trong âm có dương.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tinh thông Dịch học. Chủ tịch thường phân biệt người tốt với người xấu, người có ích và người vô ích, người thiện với người ác, người trung với kẻ nịnh…

    Chủ tịch rất ít khi phân biệt giai cấp. Nhờ thế Chủ tịch đã đoàn kết được dân tộc. Đã có nhiều trí thức xuất thân từ giai cấp bóc lột tình nguyện tham gia phục vụ chính quyền Cách mạng.

    Áp dụng Âm dương ngũ hành trong xem xét xã hội hiện đại, ta thấy rõ mối quan hệ tương sinh tương khắc rất thú vị: Chủ tư bản bóc lột người lao động (Chủ tư bản tương khắc người lao động), nhưng người lao động lại là chỗ để tiêu thụ sản phẩm (Người lao động tương sinh thị trường), thị trường là cái mà chủ tư bản rất cần, không có nó thì chủ tư bản tiêu vong nên chủ tư bản phải luôn tìm cách giảm giá để bán được hàng (thị trường tương khắc chủ tư bản).

    Sinh sinh khắc khắc như vậy nên xã hội tồn tại và phát triển trong những nhóm mẫu thuẫn và thống nhất rất biện chứng.

    Nếu ta chỉ tách riêng ra một nhánh mâu thuẫn giai cấp để xem xét và giải quyết thì chính là đã đi ngược lại chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Trên đây là một vài suy nghĩ bước đầu, do trình độ có hạn, chắc chắn còn nhiều điểm sai sót. Rất mong các vị cao nhân chỉ giáo thêm.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bác PCT có bài viết rất công phu và nhiều "nội hàm" (tức là xúc tích).

    Xin được chia sẻ thêm về giai cấp ở nước ta :

    - Giai cấp thống trị : Đảng, vì nó sở hữu tất cả mọi thứ (dưới chiêu bài của toàn dân hoặc của tập thể); Vậy là Đảng thống trị toàn dân à ? Không phải, Đảng là mọi thứ - đại diện quyền lợi cho mọi tầng lớp quần chúng / nhân dân, là người lãnh đạo, là đội ngũ tiên phong, là đày tớ trung thành của nhân dân (rất giống Đấng chí tôn của các tôn giáo).
    - Giai cấp công nhân : Ở VN đó là giai cấp ảo (vì VN tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN. Vậy lấy đâu ra giai cấp công nhân, hay là nhập khẩu từ ngoại quốc). Nếu hiện nay vẫn còn giai cấp công nhân thì thằng bóc lột là thằng nào ??? làm ơn chỉ giùm để tôi diệt nó tận gốc !?
    - Không có giai cấp ở VN vì toàn dân đều đứng dưới lá cờ của Đảng ?!

    Vậy là ở VN không còn đấu tranh giai cấp, thế mà vẫn chưa có CNXH hay CNCS. Lạ quá đi ! Chắc là các lý thuyết / chủ nghĩa của các bậc tiền nhân đều có vấn đề ?!

    Mất phương hướng rồi, khổ quá !!!