Nguyễn Hưng Quốc - Tâm lý phản-trí thức

  • Bởi Admin
    11/08/2010
    18 phản hồi

    Nguyễn Hưng Quốc

    Bài trước ghi nhận một sự kiện: đảng Cộng sản, trong suốt mấy chục năm vừa qua, rất khinh rẻ trí thức, hay nói theo ngôn ngữ của Mao Trạch Đông, là coi trí thức giống như... cục phân.

    Nhưng có phải chỉ có chế độ cộng sản mới coi thường trí thức?

    Tôi ngờ là không. Tôi có cảm tưởng thái độ coi thường trí thức đã có gốc rễ sâu xa trong lịch sử. Cộng sản chỉ lập kỷ lục ở mức độ mà thôi.

    Có thể nói văn hoá Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng: phản-trí thức (anti-intellectual).

    Phản-trí thức là tâm lý hoài nghi, hơn nữa, thù nghịch với trí thức, xem trí thức không bằng kinh nghiệm, lý trí không bằng trực giác, lý thuyết không bằng thực hành, lý luận không bằng quyền lực, tư tưởng không bằng tín điều. Trong tâm lý phản-trí thức, tất cả những gì liên quan đến học thuật và những gì có tính chất trừu tượng và uyên bác đều bị xem là "cao vĩ", "viển vông", thậm chí "vu khoát"; chúng không những không đáng tin cậy mà còn đáng bị ghét bỏ, chế diễu và loại trừ. Có thể nói một cách vắn tắt, phản-trí thức thực chất là phản-lý thuyết, từ đó, nó dẫn đến thái độ phản-hàn lâm và việc nghi kỵ những sự phân tích có tính sách vở nói chung.

    Tâm lý phản-trí thức có thể xuất hiện cả ở những người vốn quen được nhìn như những người trí thức nếu họ chỉ học như vẹt, học một cách nhồi sọ, học với thái độ sùng kính kiến thức từ trong sách vở như những chân lý hiển nhiên và bất biến. Đó không phải là nghịch lý vì bản chất của trí thức không phải chỉ ở kiến thức mà chủ yếu là ở lý trí; mà lý trí, ít nhất là từ cuối thế kỷ 17 trở đi, đặc biệt với Kant, được hiểu như đồng nghĩa với năng lực phê bình (1), trong khi phê bình, tự bản chất, lại có tính chất nghi vấn, muốn đặt mọi sự thành vấn đề.

    Chính vì thế mới có khái niệm chính sách giáo dục ngu dân dưới các chế độ thực dân cũng như phát xít; cũng chính vì thế mà mặc dù các lãnh tụ của họ lúc nào cũng kêu gọi nâng cao trình độ văn hoá cho dân chúng trong nước, nhưng các chế độ cộng sản, từ Liên Xô cho đến Trung Hoa và cả Việt Nam nữa, trên căn bản, đều là những chế độ phản-trí thức; và cuối cùng, cũng chính vì thế mà tâm lý phản-trí thức có thể là một hiện tượng phổ biến ở ngay cả những quốc gia có trình độ dân trí khá cao hoặc rất cao.

    Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của tâm lý phản-trí thức rất đa dạng.

    Dân chúng ghét trí thức vì trí thức đồng nghĩa với quyền lực; nhà cầm quyền ghét trí thức vì trí thức đồng nghĩa với tinh thần phê phán; giới lãnh đạo tôn giáo ghét trí thức vì trí thức dẫn đến sự hoài nghi; giới kinh doanh ghét trí thức vì muốn tập trung vào những lợi ích thực tế và cụ thể; ngay chính một phần giới trí thức cũng ghét trí thức vì trí thức bao giờ cũng có khuynh hướng dị hoá, phân hoá và vượt bỏ, do đó, nó trở thành một đe doạ cho những ai không sẵn sàng theo đuổi những hiểu biết mới vốn không ngừng sinh sôi nẩy nở hầu như từng ngày, từng ngày.

    Phản-trí thức, do đó, là thứ tâm lý phổ biến hầu như ở khắp nơi trên thế giới. Đầu thập niên 60, Leonard Woolf nhận định là "không có dân tộc nào khinh bỉ và nghi kỵ trí thức và giới trí thức cho bằng người Anh" (2). Mấy năm sau đó, Richard Hofstadter, một học giả Mỹ, đã viết hẳn một cuốn sách nhan đề Anti-intellectualism in American Life để chứng minh sự nở rộ của phong trào phản-trí thức tại Mỹ vào thập niên 50 không phải là một hiện tượng bất bình thường mà chỉ là sự bộc phát của một tâm lý tiềm tàng từ lâu trong xã hội Mỹ (3).

    Riêng tại Úc, từ rất lâu, giới nghiên cứu đã nhận ra phản-trí thức là một đặc điểm nổi bật trong tâm lý của quần chúng: đó là lý do tại sao nói chung phần lớn dân chúng Úc thường sợ tự do, sợ những sự thay đổi, có khuynh hướng thích giải quyết các vấn đề xã hội thông qua bộ máy hành chánh hơn là qua sự thảo luận, thích những chính khách bình dân, nói năng giản dị về những vấn đề cụ thể trước mắt hơn là những chính khách có viễn kiến với những chính sách lâu dài và do đó, mơ hồ (4). Tâm lý phản-trí thức ấy có khi phát triển mạnh mẽ đến độ người ta sẵn sàng ủng hộ những chính khách thiển cận, thậm chí, ngu dốt như trường hợp của Pauline Hanson, một phụ nữ bán fish and chips chuyển qua làm chính trị với lập trường bài thổ dân và châu Á làm ầm ĩ dư luận tại Úc trong mấy năm trước đây.
    Tuy vậy, theo tôi, có lẽ không ở đâu bệnh phản-trí thức lại rõ rệt và trầm trọng như ở Việt Nam.

    Ngày xưa, cả hơn một ngàn năm, mặc dù dân chúng, dưới ảnh hưởng của Nho giáo, quý trọng giới trí thức, hơn nữa, thèm thuồng địa vị của giới trí thức, nhưng hầu hết lại vẫn nghi ngờ trí thức, cái mà họ hoàn toàn không tiếp cận được. Mà chính giới trí thức cũng không hiểu hết ý nghĩa và tác dụng của những kiến thức họ thu lượm được từ sách vở vốn được viết và in ra ở Trung Hoa xa lơ xa lắc. Kiến thức biến thành một trò chơi lắp ghép chữ nghĩa vừa huyền bí vừa vô bổ. Khi đọc, người ta vẫn cắm cúi vào các trang sách như bất cứ ở đâu khác, thậm chí còn sùng kính hơn ở những nơi khác: với họ, mọi trang sách, từ vỡ lòng đến cao cấp, đều có giá trị như những điển phạm, một thứ Kinh Thánh. Thế nhưng, lạ, khi sống và khi làm việc, bất cứ là việc gì, từ việc trồng một luống khoai cho đến việc làm một cái nhà hay cả việc viết văn và làm thơ, người ta chỉ nương cậy vào bản năng, trực giác và kinh nghiệm của chính mình mà thôi.
    Đến thời Pháp thuộc, đặc biệt từ đầu thế kỷ 20, trước những ưu thế không thể chối cãi của nền văn minh Tây phương, tâm lý quần chúng thay đổi theo hướng ngược lại: người ta ít nhiều coi trọng trí thức vì hy vọng là với nó, người ta có thể đẩy mạnh quá trình hiện đại hoá đất nước để sớm thoát khỏi cảnh nô lệ, nhưng người ta lại coi thường giới trí thức, vốn phần lớn, dưới mắt họ, chỉ là những thư lại trong guồng máy chính quyền thực dân, những kẻ, nói như Tú Xương, "sáng vác ô đi, tối vác về".

    Nhưng sự thay đổi này chưa kịp gây một ảnh hưởng đáng kể nào ngoài một số cuộc tranh luận khá ngây thơ về các vấn đề lý thuyết, từ chuyện duy tâm và duy vật đến chuyện nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh thì cách mạng tháng Tám bùng nổ, mở đầu một kỷ nguyên mới, với chủ trương đề cao giai cấp công nhân và nông dân, ở đó, cả trí thức lẫn giới trí thức đều bị khinh bỉ. Câu nói của Mao Trạch Đông, "trí thức là cục phân" trở thành một "danh ngôn" và chính sách một thời (5). Sau này, vớ được một câu nói của Goethe, qua sự trích dẫn của Lenin, "Lý thuyết thì xám xịt mà cây đời thì mãi mãi xanh tươi", người ta liền biến ngay tính chất phi lý thuyết trong văn hoá Việt Nam thành một niềm tự hào.

    Có thể nói, từ góc độ lịch sử, phản-trí thức là một trong những truyền thống lớn của Việt Nam: đó là một trong những nơi hiếm hoi trên thế giới không hề có và cũng không cần có bất cứ lý thuyết nào. Không những không có lý thuyết, chúng ta cũng không có những công trình nghiên cứu về lý thuyết và thậm chí, không có cả những khái niệm mang tính lý thuyết. Điều đó có nghĩa là, tính chất phản-trí thức ở Việt Nam vô cùng phổ biến và sâu đậm.

    Có thể nói, ở các nước khác, thường chỉ có quần chúng bình dân mới ghét trí thức; ở Việt Nam, ngay cả giới trí thức cũng ghét trí thức; ở các nước khác, đa số dân chúng ghét lý thuyết; ở Việt Nam, hầu như tất cả mọi người đều ghét lý thuyết. Ngoại lệ, nếu có, chắc cũng vô cùng hoạ hoằn.

    Nguyễn Hưng Quốc

    Chú thích:

    1. Xem Criticism and Culture: the Role of Critique in Modern Literary Theory của Robert Con Davis và Ronald Schleifer (1991), Longman xuất bản tại Anh, tr. 3-6.

    2. Dẫn theo Richard Hofstadter (1966) trong cuốn Anti-intellectualism in American Life, Vintage Books, New York, tr. 20.

    3. Richard Hofstadter (1966), sđd.

    4. Về chủ nghĩa phản-trí thức tại Úc, có thể đọc thêm chương "Anti-intellectualism in Australia" trong cuốn Revolution from Within, a Contemporary Theory of Social Change của J.D. Blake, Outlook xuất bản tại Sydney, 1971, tr. 101-125.

    5. Trong bài "Những bước thử nghiệm của một lớp người viết chúng tôi" (Phạm Phú Phong ghi) in trong cuốn Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, 1945-54, do Ban Văn học Việt Nam hiện đại biên soạn, in lần 2, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, nhà văn Nguyễn Thành Long kể: "Khi đọc tài liệu 'Văn Nghệ Diên An' của Mao Trạch Đông, tôi còn nhớ nguyên văn một câu gây ấn tượng dai dẳng trong tôi: ‘Trí thức là cục phân’. Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình." (tr. 527)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    18 phản hồi

    Phản hồi: 

    Tôi muốn nhắc lại câu nói cũ của tôi cũng ở trong bài này để mọi người suy ngẫm :
    Bất tri lí ,bất tri tồn.
    Câu này có thể suy ra rằng :
    Nhân tri dụng lí ,dục bất chi tồn (Đại khái : người nào biết cách sử dụng hiểu biết thì người đó biết cách chế ngự các tính xấu của bản thân và những người quanh họ)

    NCM

    Phản hồi: 

    Không có tôn giáo nào nói đến trí thức hay u mê mà chỉ nói đến giàu nghèo và đạo đức hay hung ác. Người giàu có trách nhiệm bố thí giúp đở người nghèo mới đúng đạo lý làm người với nhau ! Người hung ác bị trừng phạt theo các tôn giáo hay đọa thêm nhiều kiếp luân hồi trầm luân u mê theo Phật giáo...

    Đặc biệt chỉ có Phật giáo không mâu thuẩn với khoa học vì Phật là Người và Phật giáo là tôn giáo quan niệm mỗi linh hồn sẽ tiến hóa qua nhiều kiếp luân hồi để thành Phật tức người minh triết thông tuệ không còn u mê khổ lụy :” Ta là Phật đã thành đệ tử là Phật sẽ thành !” Phật không tranh ngôi vị độc tôn làm Thượng đế và không sợ các nhà khoa học hay triết gia phủ nhận bác bỏ vai trò sáng tạo ra thế giới như Thiên Chúa giáo và Hồi giáo ....
    Ông Albert Einstein nói “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo.”
    Luân hồi tâm linh theo Phật giáo và thuyết tiến hóa của Darwin có phải là hai lãnh vực song hành của tinh thần và thể chất hay không hay chỉ là cách cắt nghĩa tâm linh của thuyết sinh học tiến hóa Darwin thì chưa có nghiệm chứng nào có sức thuyết phục .
    Có hiện tượng con người có IQ cao thấp khác nhau, có người được cho là nhớ lại tiền kiếp ...nhưng hiếm hoi và không có thể đủ để chứng minh rõ . Người thông minh Phật giáo giải thích đó là một do linh hồn trãi qua nhiều kiếp. Theo Darwin thì cho có sự tiến hóa sàng lọc sinh học và có thể có đột biến (mutation) tự nhiên, sinh ra một gene quý . Quy luật tạo ra đột biến để có IQ cao thì chưa được khoa học tìm ra và giải thích !

    Các triết gia đều nhất trí là chưa có chứng minh có thế giới siêu nhiên nào ngoài thế giới con người đang sống! Thiên đàng hay địa ngục cũng là trên Trái đất này !

    Trần Thị Hồng Sương

    Phản hồi: 

    Ý nghĩa của trí thức trong đạo Phật :

    " Trước hết chúng ta nên phân biệt giữa người có trí thức như thông thường được hiểu và người có trí tuệ như Đạo Phật thường định nghĩa. Người có trí thức là người có thể có một trí thức uyên bác về một vấn đề gì, có thể phân tích trình bày vấn đề ấy một cách khúc chiết và triệt để, nhưng người ấy là người chỉ biết chớ không có hành, và người ấy đối với vấn đề ấy vẫn có thể bị chi phối, không được tự tại. Ví như một người có thể hiểu biết rất nhiều về vấn đề rượu, hiểu rượu gồm có những chất liệu gì, tác động của rượu đối với cơ thể như thế nào. Người ấy gọi là người có trí thức về rượu nhưng người ấy vẫn uống rượu, vẫn bị say rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy người ấy vẫn chưa có trí tuệ về rượu. Trái lại, một người hiểu rõ được rượu là gì, biết rõ được sự nguy hại của rượu, lại có khả năng không bị rượu chi phối, không uống rượu, không nghiện rượu, không say rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Như vậy người ấy được xem là người có trí tuệ về rượu. Có người hỏi, nếu có người không có trí thức về rượu, nhưng không uống rượu, người ấy được xem là có trí tuệ không? Lẽ dĩ nhiên là không. Người ấy vẫn hưởng được những lợi ích do không uống rượu đưa đến, như không say rượu, không nghiện rượu do cử chỉ không uống rượu của mình. Nhưng rất có thể, trong một trường hợp đặc biệt nào đó, vì thiếu khả năng đối trị với sự cám dỗ của rượu, vị ấy bắt đầu uống rượu, đi đến say rượu và nghiện rượu. Với sự phân biệt này chúng ta mới hiểu được định nghĩa người có trí như đã được Đức Phật định nghĩa rất rộng rãi trong những lời dạy của Ngài. Sự phân biệt này giúp chúng ta nhận định hai hạng người thường có trong những người Phật tử. Một hạng người rất uyên bác trong Đạo Phật, hiểu biết về kinh điển rất nhiều, nhưng vẫn xem là người không có trí tuệ. Hạng người này hiện có khá nhiều trong những học giả, thuần túy nghiên cứu Đạo Phật, uyên thâm trong ba tạng giáo điển, cả ba tạng nguyên thủy lẫn ba tạng phát triển, nhưng chỉ có nghiên cứu, không có hành trì. Chỉ nói hành thiền giỏi nhưng không hành thiền, trình bày hay về diệu dụng của trí tuệ, nhưng không phát triển trí tuệ, do vậy cũng chưa được gọi là có trí tuệ. Một hạng người khác, có lòng tín thành, hành trì theo những giới cấm trong Đạo Phật, nhưng chỉ có lòng tin, chưa chuyển lòng tin thành trí, nên cũng không thể xem là người có trí tuệ được vì người ấy vẫn có khả năng bị tham sân si chi phối và do vậy, chưa được xem là người có trí tuệ."

    http://www.viet.net/~anson/uni/1-bai/phap026.htm

    Phản hồi: 

    [quote]ngay chính một phần giới trí thức cũng ghét trí thức vì trí thức bao giờ cũng có khuynh hướng dị hoá, phân hoá và vượt bỏ, do đó, nó trở thành một đe doạ cho những ai không sẵn sàng theo đuổi những hiểu biết mới vốn không ngừng sinh sôi nẩy nở hầu như từng ngày, từng ngày.[/quote]

    " Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng: Phải có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và đạo đức nghề nghiệp

    ...Với chức năng là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, đồng thời là diễn đàn của nhân dân, "

    Với tư cách là chủ tịch quốc hội, tiến sĩ Trọng lại khẳng định chức năng "đầu tiên" của báo chí là tiếng nói của Đảng như vậy nhà trí thức Trọng, có đại diện cho dân và cho nhà nước hay không ?
    Chủ tịch quốc hội, tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng chỉ biết đại diện cho đảng CS mà thôi. Phát biểu như vậy là sai vai trò của một nhà lập pháp. Trí thức mà như thế này ư !!!

    Qua phát biểu của Trọng thì dân không có tiếng nói riêng vì báo chí là của đảng

    http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/201033/20100813001105.aspx

    Cơ chế để báo chí đổi mới

    13/08/2010 0:11
    Ban Chấp hành Hội Nhà báo VN khóa IX ra mắt - Ảnh: Trường Sơn
    * Nhà báo Đinh Thế Huynh tái đắc cử Chủ tịch Hội Nhà báo VN

    Sáng qua 12.8, tại Hà Nội, Hội Nhà báo VN tổ chức trọng thể Đại hội lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 - 2015. Đến dự đại hội có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, cùng lãnh đạo các bộ, ban ngành T.Ư; các nhà báo lão thành, lãnh đạo Hội Nhà báo VN qua các thời kỳ.

    Đại hội đã thông qua Điều lệ Hội Nhà báo VN sửa đổi, bầu ra Ban Chấp hành T.Ư hội khóa IX gồm 51 thành viên, Ban Thường vụ 11 người và các chức danh lãnh đạo hội nhiệm kỳ 2010 - 2015. Ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên T.Ư Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà báo VN khóa VIII tái đắc cử Chủ tịch Hội Nhà báo VN khóa IX. Bốn Phó chủ tịch gồm ông Tạ Ngọc Tấn, Ủy viên T.Ư Đảng, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản; ông Hà Minh Huệ, Phó tổng giám đốc Thông tấn xã VN; ông Phạm Quốc Toàn, Phó chủ tịch Hội Nhà báo VN khóa VIII; ông Mã Diệu Cương, Chủ tịch Hội Nhà báo TP.HCM.

    Đề nghị 2 chính sách cho báo chí

    Phát biểu bế mạc, ông Đinh Thế Huynh đánh giá: trong xu thế hội nhập và phát triển, sự toàn cầu hóa về thông tin... đặt báo chí nước ta trước nhiều cơ hội phát triển, đồng thời không ít thách thức. Do tác động của việc tăng giá giấy và các vật tư in khác cộng với sự sụt giảm số lượng phát hành, khó khăn thu hút quảng cáo dẫn tới nguồn thu của các cơ quan báo viết giảm mạnh. Trong khi đó, các cơ quan báo chí lại bị tính thuế thu nhập doanh nghiệp như đối với các doanh nghiệp thuần túy khác. "Trước thực trạng này, thái độ của người làm báo VN là chấp nhận và nhập cuộc để vượt qua thách thức!", Chủ tịch Hội Nhà báo VN khẳng định.

    Gợi ý giải pháp vượt khó cho báo chí VN, ông Đinh Thế Huynh chỉ ra: các cơ quan báo chí cần tiếp cận, sử dụng các phương tiện kỹ thuật truyền thông hiện đại vào tác nghiệp báo chí. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng cần có cơ chế, chính sách hợp lý để thúc đẩy báo chí phát triển. "Chúng ta đề nghị Nhà nước giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ quan báo chí, cao nhất cũng chỉ bằng các cơ sở giáo dục, đào tạo, các đơn vị làm dịch vụ văn hóa thể thao (thuế suất 10%, thay vì 25% như hiện nay - TN)", ông Huynh nói.

    Đặc biệt, Chủ tịch Hội Nhà báo VN chính thức thay mặt những người làm báo kiến nghị pháp luật thừa nhận quá trình tác nghiệp của nhà báo là quá trình thi hành công vụ; cản trở nhà báo hành nghề hợp pháp là hành vi cản trở người thi hành công vụ. Sở dĩ đặt ra vấn đề này là vì tình trạng nhà báo bị cản trở hành nghề, thậm chí nhiều nhà báo bị hành hung, bị xúc phạm danh dự và thân thể trong thời gian qua gây nhiều bức xúc trong xã hội. Theo ông Đinh Thế Huynh, hội và các cơ quan báo chí đã có nhiều cuộc hội thảo chuyên đề, nhiều kiến nghị xác đáng, nhưng giải quyết vấn đề này một cách căn cơ đòi hỏi các giải pháp đồng bộ. Mặt khác, ông Huynh cũng lưu ý Hội Nhà báo các cơ quan báo chí cần tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức của hội viên - nhà báo về pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật, về đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng ứng xử...

    Tiền lương nhà báo chưa được tính đủ vào chi phí hợp lý

    Ngày 6.8.2010, Bộ Tài chính có Công văn số 10273/BTC-CST đề nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cách xác định thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các cơ quan báo chí. Theo đó, các cơ quan báo chí tự đảm bảo chi phí hoạt động được tính chi phí tiền lương vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập thuế thu nhập doanh nghiệp theo số tiền lương báo thực trả cho người lao động được quy định trong hợp đồng, hoặc thỏa ước lao động tập thể, có hóa đơn, chứng từ hợp lệ, hợp pháp.

    Cũng tại công văn này, Bộ Tài chính đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép các cơ quan báo chí được phép trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hằng năm để lập quỹ phát triển khoa học công nghệ theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đã được Hội Nhà báo đề xuất, nhưng chưa được đề cập trong công văn của Bộ Tài chính. Đó là việc giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ quan báo chí....

    TS Nguyễn Anh Tuấn (Tổng biên tập Báo Đầu tư)

    Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng: Phải có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và đạo đức nghề nghiệp

    ...Với chức năng là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, đồng thời là diễn đàn của nhân dân, báo chí cần nỗ lực phấn đấu để góp phần nâng cao dân trí, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, cổ vũ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì một nước VN dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; đồng thời tích cực bồi dưỡng, từng bước hình thành bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn, nhân cách con người VN trong thời kỳ mới.

    Muốn thế, nội dung thông tin báo chí cần trung thực, khách quan, phong phú, nhiều chiều. Cách diễn đạt và chuyển tải thông tin cần chính xác, kịp thời, sinh động, hấp dẫn, giữ gìn bản sắc và sự trong sáng của tiếng Việt; trước những vấn đề mới, phức tạp hoặc những sự kiện lớn, quan trọng trong nước và quốc tế, cần có phân tích, bình luận sắc sảo, thuyết phục nhằm hướng dẫn nhận thức, dư luận xã hội một cách đúng đắn theo quan điểm, đường lối của Đảng. Tránh cách đưa thông tin phiến diện hoặc suy diễn, vũ đoán; loại bỏ những thông tin sai lệch ảnh hưởng đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Tích cực biểu dương, cổ vũ cho cái đúng, cái tốt, cái đẹp; phê phán, lên án những thói hư tật xấu, các hiện tượng tiêu cực, suy thoái về đạo đức lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tư tưởng cơ hội, thực dụng. Đồng thời kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta. Ở đây đòi hỏi người làm báo phải có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và đạo đức nghề nghiệp...

    (Trích phát biểu của Chủ tịch QH tại Đại hội IX Hội Nhà báo VN)

    Phản hồi: 

    Nếu em nhớ không nhầm thì chữ viết đầu tiên ra đời ở cổ Ai cập chứ không ở Hy lạp.Tới lúc có nhà nước cổ Hy lạp thì chữ viết đã tiến được một bước rất dài rồi.Để hồi nào rảnh và có điều kiện em tìm lại bài viết về lịch sử chữ viết này.Nói chung sẽ khó tìm lại và lại còn khó khăn trong chuyện truyền đạt lại cho đúng(Bài viết này em đọc cách đây gần chục năm rồi).Không rõ ở Google Wikipedia có không ?

    NCM

    Phản hồi: 

    [quote][quote]"giới lãnh đạo tôn giáo ghét trí thức vì trí thức dẫn đến sự hoài nghi"

    Câu này có đúng với Phật giáo không ?[/quote]

    Hình như tôi nhớ mang máng là nhà Phật không ghét mấy ông trí thức đâu.
    Nghe nói là họ còn thương trí thức nữa vì trí thức rất tội nghiệp: đạt được cái biết của thể gian khá cao nên không còn tin tưởng gì nữa.
    Thế trí biện thông là một trong bát nạn mà![/quote]

    Trí thức trong pham trù Phật giáo mang nghĩa hơi hẹp, để chỉ người thông hiểu Phật pháp; những người này được xã hội (ít nhất là trong giới tín đồ) tôn trọng cũng gần như những nhà sư chân chính.

    Một trong những thuộc tính của đạo Phật là "sự hoài nghi về đạo của mình" vốn dược đức Phật khuyến khích để tránh tình trạng giáo điều. Cho nên trong trường hợp này chính sự hoài nghi tạo ra trí thức chứ không phải trí thức dẫn đến sự hoài nghi.

    Nói chung tác giả có vẻ hơi "lạng quạng" vì tìm cách tổng quát hoá cách cực đoan một vấn đề khá rộng.

    Phản hồi: 

    [quote]"giới lãnh đạo tôn giáo ghét trí thức vì trí thức dẫn đến sự hoài nghi"

    Câu này có đúng với Phật giáo không ?[/quote]

    Hình như tôi nhớ mang máng là nhà Phật không ghét mấy ông trí thức đâu.
    Nghe nói là họ còn thương trí thức nữa vì trí thức rất tội nghiệp: đạt được cái biết của thể gian khá cao nên không còn tin tưởng gì nữa.
    Thế trí biện thông là một trong bát nạn mà!

    Phản hồi: 

    Em viết tiếp về Sơn tinh,Thủy tinh.
    Tri thức(biết các sự việc xảy ra ở môi trường sống quanh ta và nguyên nhân của nó)không chỉ nằm ở chỗ ta biết những gì,mà phần chủ yếu nhất là ta sử dụng các hiểu biết của ta như thế nào.
    Em biết một phiên bản khác về điều kiện của vua Hùng :Voi chín ngà,gà chín cựa,ngựa chín hồng mao.Vậy thì theo suy luận logic thì Sơn tinh cũng thua đứt đuôi con nòng nọc.
    Thế cái điều kiện của bác "Thịnh" đưa ra liệu có giúp cho Sơn tinh thắng cuộc không ? Cũng không, vì những cái "của quý" ấy trên núi đào đâu ra ? Chỉ có nước nhờ Thủy tinh tìm hộ mà thôi.
    Vậy mà Sơn tinh vẫn thắng cuộc.Như thế có hai khả năng:
    _ Sơn tinh "đi đêm" với vua Hùng.
    _ Thủy tinh bỏ cuộc vì con gái vua Hùng không phải là phần thưởng xứng đáng để Thủy tinh bỏ công ra tìm đồ dẫn cưới.
    Như vậy liệu ta có thể nghĩ rằng vua Hùng không công bằng ? Không, vua Hùng rất công bằng vì vua không tìm kẻ tài năng ,mà tìm kẻ trung thành , không dễ ăn khó bỏ.Và vì thế Sơn tinh thắng cuộc ,không cần phải đi đêm.
    Có các cách nhìn khác không ? Tất nhiên là có và đó chính là cái cốt lõi thông minh và tri thức của câu chuyện cổ này.Câu chuyện đã cố tình để ngỏ các nguyên nhân và kết thúc của câu chuyện để người biết nó áp dụng được trong các hoàn cảnh cụ thể.

    NCM

    Phản hồi: 

    "giới lãnh đạo tôn giáo ghét trí thức vì trí thức dẫn đến sự hoài nghi"

    Câu này có đúng với Phật giáo không ?

    Phản hồi: 

    Bác Thịnh ơi,kí tự Latin mà em và bác đang dùng đây cũng là kí tự đấy ạ.
    Và lúc mới khai sinh nó cũng không nhiều và hoàn hảo như bây giờ đâu.
    Và quan niệm thế nào là kí tự,thế nào là signal ?
    Vậy nếu bác không thích sự "nhập nhèm" giữa hai khái niệm thì bác giải thích thế nào về chữ viết tượng hình Trung hoa,loại chữ viết mang nhiều tính signal hơn là kí tự ?

    NCM

    Phản hồi: 

    Về trí thức trong xã hội VN, có hai khả năng xem ra tương tự nhưng khác nhau:

    - Người Việt có khuynh hướng khinh rẻ trí thức. Đây có phải một truyền thống hay không thì cần được chứng minh kỹ hơn, nhưng rõ ràng dưới chế độ chính trị mấy chục năm nay trí thức bị khinh rẻ và lợi dụng có chủ trương. Và sự phản biện của trí thức quá yếu càng góp phần biện minh cho khuynh hướng này.

    - Người Việt không hiểu được tầm quan trọng của trí thức, và do đó coi nhẹ trí thức, chứ chưa hẳn là khinh rẻ. Có lẽ tâm lý này sinh ra do nhận xét trí thức chỉ góp phần cai trị mà không làm cho xã hội tiến nhanh thấy rõ như trong xã hội phương Tây. Hơn nữa dân trí không cao đủ để tán thưởng vẻ đẹp và lợi ích của trí thức vốn thường ảnh hưởng đến xã hội cách gián tiếp và trong đường dài.

    Có thể nói người Việt "nể" nhưng không "kính" trí thức, trừ những trường hợp đặc biệt đối với những nhân vật được xem như bậc Thánh.

    [quote]... ở các nước khác, đa số dân chúng ghét lý thuyết; ở Việt Nam, hầu như tất cả mọi người đều ghét lý thuyết. Ngoại lệ, nếu có, chắc cũng vô cùng hoạ hoằn.[/quote]
    Thiết nghĩ đoạn trích này hơi thiếu thực tế. Tùy theo lý thuyết đó là gì, sự trọng vọng có thể lên đến mức thái quá. Truyền thống của dân Việt là trọng vọng chữ nghĩa thánh hiền, đến độ khi văn minh phương Tây đến thì cứ ngả theo phản kháng và không thể hội nhập nhanh chóng được. Và thời hiện đại một số rất lớn trọng vọng chủ nghĩa Mác Lê đến độ mù quáng, người ta đã vứt sọt rác đã lâu mà mình thì cứ bám víu vào.

    Phản hồi: 

    Xin trả lời bác NCM:

    "Nhà nước cai trị bằng mồm lịch sử gọi là 'nhà nước sơ khai'. Đó là một uyển ngữ để chỉ cái giai đoạn chuyển tiếp mà thực ra 'vua' chỉ là thủ lĩnh quân sự như người Hy Lạp gọi là Basileus. Hoặc, theo cố GS Trần Quốc Vượng thì Thục Phán trong tiếng Tày là Túc Phắn - có nghĩa là 'thủ lĩnh dẫn đầu đoàn người đi mở đất'.

    Bác nghĩ sao nếu như lệnh bằng mồm được ban rằng 'thuế thu một phần mười', khi về đến địa phương sẽ là 'thuế thu bảy phần mười'? Ai làm chứng cho dân đây? Xét về tính hoàn hảo của một nhà nước thì chữ viết là nguyên tắc bắt buộc. Còn các ký hiệu (signal) - ký tự ư? Chúng không đủ để cấu thành một nền tảng pháp lý. Không có nền tảng đó thì nhà nước mãi hoài sống trong lồng kính của sự đẻ non. Di chứng của 'đẻ non' kéo dài đến 5.000 năm cơ đấy. Xa hơn một chút, chúng ta cứ ngẫm mà xem truyền thuyết của Việt Nam buồn chán lắm.

    Tôi xin gửi kèm đây bài viết về hình tượng người phụ nữ trong văn học. Tôi rất yêu quý phụ nữ nhưng văn học Việt Nam hình như không thế. Tội nghiệp, đau đớn, kém cỏi, buông tuồng... là những gì mà hàng ngàn năm các nhà văn, nhà thơ dành cho phụ nữ. Nếu không yêu quý phụ nữ thì chúng ta còn biết tôn thờ cái gì trong trái tim ích kỷ của mình? Còn trí thức? Đọc bài viết về Nguyễn Mạnh Tường - người có hai bằng tiến sĩ khi đang ở tuổi U25 - điều mà hàng trăm năm ở nước Pháp không ai làm được, làm cho tôi đau đớn đến rụng rời. Một nhà nước mà khinh mẻ trí thức như thế làm sao nói đến chuyện tiến bộ, 'sánh vai'? Chuyện dân gian về Trạng (tức đỉnh cao của trí thức) chỉ thấy toàn những sự lưu manh, côn đồ ví như vẽ 10 con giun, đi sứ thì chỉ rình rập ăn cắp cái gì đó đem về.... Người lớn, người già kể, trẻ con say mê cười ngặt cười nghẽo? Chao ôi là đau! Hà Văn Thịnh.

    Phản hồi: 

    Nhưng có phải chỉ có chế độ cộng sản mới coi thường trí thức?
    Tôi ngờ là không. Tôi có cảm tưởng thái độ coi thường trí thức đã có gốc rễ sâu xa trong lịch sử. Cộng sản chỉ lập kỷ lục ở mức độ mà thôi.

    ****

    Thật ra phải nói rõ, đó là thân phận trí thức trong nhãn quan chánh trị . Không ai coi thường trí thức, nhưng giới chánh trị nào từ quân chủ đến phát xít v.v...luôn muốn ép buộc trí thức tuân phục chế độ cầm quyền, làm theo nói theo nhiều điều đã lạc hậu quá xa hay sai trái đạo lý chỉ có lợi cho nhà cầm quyền ! Xa xưa hơn nửa còn có giáo sĩ tôn giáo không chấp nhận cho khoa học nói trái với niềm tin tôn giáo đã từng lên án, hay sát hại các nhà khoa học !

    Trái lại trong nhãn quan nền kinh tế thị trường và khoa học công nghệ Bill Gates hiểu rõ giá trị trí thức hơn cả . Ông nói : ”Ai nắm được người có IQ cao sẽ thắng ! “ Chỉ sợ mình không thật sự giỏi, nếu thực sự có tài và là tài năng hàng đầu thì được chấp nhận khắp thế giới ...chẳng cần gì phải lo sợ ba nước CS làm chánh trị kiểu ...thiệt hại cho đất nước !

    Thuở thế giới chưa liên thông như ngày nay, nho gia thời phong kiến hay trí thức khi tham gia vào guồng máy chánh quyền phong kiến hay chế độ Cộng Sản luôn vấp phải nhiều vấn đề !

    Trí thức chân chính biết và ham thích đi sâu một vấn đề, kể cả chánh trị. Trí thức chân chính, không chịu nói dối làm chuyện xấu thì bị ghét bị sĩ nhục là lẽ đương nhiên. Mao sĩ nhục trí thức, nhưng đời chê Mao không ai chê trí thức ! Trí thức nào nghe bị nói vậy mà hoang mang dao động mất tự tin đầu hàng, không dám tìm cho mình con đường vượt thoát hoàn cảnh thì thua cả gái quê miền Nam bỏ đi lấy chồng nước ngoài . Đúng là chưa có ...bản lĩnh trí thức !
    Thời Mãn Châu cai trị người tài như Mạc Cữu không chịu làm ‘chó hòa bình’đầu phục ngoai bang nên bỏ sang nước khác và VN đã tiếp nhận được nhân tài chánh trị quân sự có lợi lớn lao cho đất nước VN !
    Ông Nguyễn Khắc Viện nói :” Vô sản không đáng sợ bằng vô học! “ Chính CS vì vô học dành toàn trị nên khi sắp thứ hạng ưu tiên thì muốn coi thường, thậm chí có thái độ sĩ nhục trí thức như Mao trạch Đông ! Tại sao ? Vì CSTQ-VN chỉ gây nội chiến với dân, chủ nghĩa CS sai lầm, để trí thức vạch mặt nạ ra là CS...nguy khốn !

    Trí thức chuyên một ngành thì dốt các ngành khác thí dụ Bác sĩ không biết lái xe ! Trí thức mà không biết mình ngây thơ về chánh trị mà tham gia chánh trị, dễ rơi vào bẫy. Trí thức cũng có người xấu giống như có người ít học mà rất đạo đức, cương trực. Loại trí thức háo danh xu phụ kẻ cầm quyền vì quyền lợi cá nhân, tham gia làm nên nhiều điều sai lầm. Nước Nga nói phải có trí thức cơ hội vây quanh tạo ra Staline tàn ác để được ăn theo, không thể một mình Staline mà ...thành Staline được ! Ông Nguyễn mạnh Tường khác hẳn Tố Hữu, Trần Huy Liệu !

    Có điều đáng lo là có trí tuệ thông minh mà xấu ác thì hậu quả phá hoại lớn không lường ! Sức phá hoại của thú rừng ít hơn chiến tranh do con người chủ xướng ! Cọp rõ ràng giết người không bằng phát xít Hitler hay khủng bố Osama Bin Laden !
    Trần Thị Hồng Sương

    Phản hồi: 

    Không biết nên ghét hay yêu bác Thịnh đây,hì hì!!!
    Em vừa tính "bế quan luyện công" thì lại gặp cái còm này của bác.Thấy thú quá nên bỏ thì thương,vương thì tội.
    Những gì bác Quốc nói em cũng chẳng hiểu hết (ý của em là chưa nắm bắt được chủ đề chính của bài viết).Nhưng chuyện yêu ghét những người có học và sáng dạ thì em đây "kinh nghiệm đầy mình",mà toàn "kinh..."đau mới tệ chứ.
    Thành ra em sẽ nhớ cái bài này để "mỗi ngày viết một khúc,hợp lại thành nguyên cục"chơi.Nếu bác nào không thích kiểu nói của em thì xin miễn chấp nha.!
    Sở dĩ dài dòng như vậy là vì em sắp bác bỏ tất cả các luận điểm của bác đây.Vì em thấy hình như bác Thịnh đang "khích tướng" chứ không phải thật sự bác nghĩ như vậy.
    Chẳng hạn với tư cách một nhà sử học mà bác Thịnh cho rằng nếu chưa có chữ viết mà đã nói là có nhà nước là chuyện nực cười(bác nói đó là một trò hề)thì rõ ràng là bác đang nói đùa.Nhà nước có từ rất lâu trước khi chữ viết ra đời,và vì nhu cầu điều khiển nhà nước mà các thủ lĩnh của các nhà nước cổ đại phải tìm ra một phương thức truyền đạt mệnh lệnh của họ cho các thần dân và binh lính ,và thế là chữ viết ra đời.Ban đầu không có ý niệm là ghi lại các hiểu biết cho đời sau hay truyền đạt các suy nghĩ,tư tưởng đâu,mà chỉ là đơn giản truyền bá mệnh lệnh của thủ lĩnh.
    Phần về văn hóa dân gian(truyền miệng)em viết ở còm sau.
    (Hay là bác viết đi cho em xem cùng với.)

    NCM

    Phản hồi: 

    Bác Hà Văn Thịnh không đăng nhập được để gửi phản hồi nên trao đổi qua email:

    Chính xác và hấp dẫn là điều tôi muốn nói. Những điều Nguyễn Hưng Quốc đã nói ra tôi đều cảm thấy(!) nhưng chỉ hiểu một cách lờ mờ. Quả thật, dân tộc mình coi thường trí thức từ gốc rễ của vấn đề. Thử mở chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh ra mà xem. "Đề thi" như thế thì ông Tổ của Thủy Tinh cũng thua. Chẳng hạn, thử "mực 9 ngà, ba ba 9 cựa, cá ngựa 9 hồng mao" xem? Hoặc, chúng ta cứ tung hô mãi hoài về vua Hùng này vua Hùng khác nhưng nếu chưa tìm thấy chữ viết thì chuyện có nhà nước đối với giới sử học toàn cầu chỉ là một trò hề bởi không có nhà nước nào lại cai trị bằng mồm, chẳng cần đến luật pháp ghi rõ thành văn bản. Quả là đau buồn với không ít những dẫn chứng tương tự... Hà Văn Thịnh.

    Phản hồi: 

    [quote=NVN]Xin hỏi các bác đăng bài viết này để nói lên cái gì vậy ?! Có phải là không có trí thức thì thiên hạ thái bình chăng. Nếu đúng thế thì phải tiêu diệt cho hết bọn trí thức dù đó là xã hội nào TBCN hay XHCN / CSCN. Liệu có nên làm thế không ???

    Chủ đề này hơi bị nhức đầu đây.[/quote]
    Chúng ta đặt ngược vấn đề chút :Nếu tất cả mọi người đều là trí thức thì lấy tiêu chuẩn nào để xác định thế nào là trí thức ?
    Câu hỏi của bác vui đáo để.Thành ra trí thức là nguồn gốc của bất ổn(ở đây tôi muốn nói đến tính hoài nghi cố hữu của những người có hiểu biết và ưa tranh luận)à ?
    Thật ra thì chỉ là nói vui vui thôi chứ ai không muốn biết về khoảng không gian và cộng đồng nơi mình đang sống ? Và như vậy là tự bản thân cuộc sống là muốn có trí thức rồi.
    Thành ngữ có câu :Hiểu biết là sức mạnh , không hiểu biết cũng khỏe.
    (Đúng ra nguyên văn là thế này :Wissen ist Macht ,nichts wissen macht nicht).
    Nếu tôi không nhầm thì Tam tự kinh nói :Bất tri học,bất tri lý.Bất tri lý,bất tri tồn.
    Vậy không có tri thức thì làm sao ta có thể sống được cơ chứ ?

    NCM

    Phản hồi: 

    Xin hỏi các bác đăng bài viết này để nói lên cái gì vậy ?! Có phải là không có trí thức thì thiên hạ thái bình chăng. Nếu đúng thế thì phải tiêu diệt cho hết bọn trí thức dù đó là xã hội nào TBCN hay XHCN / CSCN. Liệu có nên làm thế không ???

    Chủ đề này hơi bị nhức đầu đây.

    Phản hồi: 

    Không gì nguy hiểm cho người trí thức bằng tự giam mình trong những định kiến của một giai đoạn lịch sử. Vì đó chính là giết chết vai trò trí thức trong bản thân mình, bóp nghẹt mọi suy tư vượt trên những khuôn khổ thời thượng. Trên bình diện xã hội, thái độ ấy đưa đến khóa cửa chối từ những luồng gió mới, kềm hãm bánh xe lịch sử, ngăn cấm sự tiến hóa của xã hội một cách hài hòa trên con đường trí tuệ. Để rồi, sẽ chỉ còn những con đường đột biến, đầy khủng hoảng và tang thương …

    Người ta thường nói đến tự do ngôn luận như một trong những thành tố quan trọng nhất của xã hội dân chủ. Thật ra, điều quan trọng là: quyền quyết định nằm trong tay ai? Chứ không phải quyền nói năng, phát biểu! Churchill từng nói (đùa) rằng:

    - “Chúng ta sống trong một xã hội dân chủ, nên quý vị có toàn quyền phát biểu trước khi phục tùng quyết định của tôi”.

    Khi quyền hành được tầng lớp ưu thắng nắm chắc trong tay, thì tự do ngôn luận không còn một giá trị quyết định nào. Người ta có thể có tự do, đồng thời vẫn bị lệ thuộc.