Lê Trần Luật - Một vài nhận định tổng quan về thực trạng quyền con người ở Việt nam (Bài 2)

  • Bởi Admin
    01/08/2010
    4 phản hồi

    Lê Trần Luật

    Đối với nhóm quyền tự do cá nhân, bao gồm: qưyền tự do đi lại và cư trú; quyền ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chổ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín; quyền khiếu nại tố cáo.

    Quyền tự do đi lại và cư trú. Chế độ “hộ khẩu” vẫn còn ám ảnh từng người dân cho tới bây giờ. Nó mặc nhiên tước bỏ quyền tự do đi lại và cư trú của 86 triệu dân Việt nam. Có thời kỳ chế độ “hộ khẩu” là đề tài tranh luận sôi nổi của công luận. Rồi Quốc hội cũng tham gia để bàn xem có nên bỏ chế độ hộ khẩu hay không. Người dân thì muốn bỏ để bớt phiền toái và tự do hơn, Nhà nước thì sợ mất “hộ khẩu” thì sẻ không “quản” người dân được. Cuối cùng, Luật cư trú cũng ra đời, và công cụ quản lý bằng hộ khẩu vẫn được giữ nguyên. Mỗi khu phố đều có “nơi đăng ký tạm trú, tạm vắng”, “điểm đăng ký tạm trú tạm vắng”. Nói là “đăng ký” nhưng bản chất của sự xin cho vẫn còn đó. Hằng đêm, lực lương công an, dân phòng vẫn lùng sục từ khách sạn sang trọng cho đến hang cùng, ngõ cụt để kiểm tra sự cư trú của người dân.

    Quyền ra nước ngoài. Nói là quyền nhưng nếu không được sự cho phép của Nhà nước thì sẽ bị khởi tố hình sự. Thời gian gần đây dư luận phát hiện ra rất nhiều trường hợp bị cấm ra nước ngoài. Có nhiều người khi đến sân bay mới biết mình nằm trong danh sách “cấm xuất cảnh” của Bộ Công an. Danh sách này được giữ bí mật. Lý do bị cấm rất đơn giản nhưng cũng rất trừu tượng: liên quan vấn đề an ninh quốc gia. Đó là người có hộ chiếu, còn người chưa có hay hết hạn thì sẽ không được cấp nếu bị liệt vào danh sách có liên quan đến an ninh quốc gia. Với lý do an ninh quốc gia, rõ ràng danh sách bí mật này của Bộ công an sẻ càng lúc càng dài hơn, có thể một lúc nào đó, toàn bộ dân Việt Nam đều bị cấm vì tất cả đều có thể liên quan đến an ninh quốc gia.

    Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Bộ luật hình sự đã dành hẳn một chương để bảo đảm các quyền này. Tuy nhiên, vấn đề làm cho dư luận rất bức xúc hiện nay đó là sự xâm phạm đến từ những người làm nhiệm vụ bảo vệ các quyền này. Đặt biệt là lực lượng công an. Nhiều cái chết oan ức, từ người già đến trẻ em, đã ngã xuống dưới họng súng của những người này. Chưa kể nhiều thanh niên đang khỏe mạnh, bị áp giải đến đồn công an, chỉ sau vài tiếng, đã lăn đùng ra chết một cách hết sức bí mật. Tra tấn, bức cung, nhục hình cũng là một hiện tượng phổ biến. Rất nhiều phiên tòa, bị can, bị cáo phản cung công khai tố cáo sự tra tấn của công an, nhưng tòa vẫn không xem xét vì cho rằng thiếu chứng cứ.

    Danh dự, nhân phẩm là cái gì đó rẻ rúm, nếu như người đó có “liên quan đến an ninh quốc gia” hoặc “bất đồng” với Nhà nuớc. Từ trí thức giáo sư tiến sĩ cho đến các bậc tu hành khả kính, nếu liên quan an ninh quốc gia đều bị truyền thông Nhà nước “đập” cho tã tơi. Sự nhục mạ và bôi bác tràn lan trên các mặt báo, có khiếu nại hay tố cáo cũng vô ích vì không ai giải quyết.

    Quyền được an toàn và bí mật về thư tín. Các Bưu điện, các công ty truyền số và dữ liệu vẫn do Nhà nước quản lý và kiểm soát. Hiện tượng bị nghi ngờ và bị nghe lén các thiết bị điện thoại không phải là cá biệt. Các công ty truyền số và dữ liệu sẵn sàng cung cấp bí mật của khách hàng cho cơ quan công an. Nhiều thông tin bí mật mà công ty cung cấp đã trở thành chứng cứ tại tòa để buộc tội “khách hàng” của mình, nhất là các vụ án về an ninh quốc gia.

    Quyền khiếu nại và tố cáo. Đây là quyền rất đặc biệt, nó cho phép người dân tự hành động để bảo vệ các quyền khác. Chưa có con đường tố tụng nào đau khổ bằng con đường khiếu nại của người dân Việt nam. Sự thờ ơ vô trách nhiệm của cán bộ công chức là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự đau khổ này. Lẽ ra, ứng với quyền khiếu nại của người dân là nghĩa vụ phải giải quyết của Nhà nước nhưng đa số cán bộ công chức đều tự cho mình cái quyền giải quyết khiếu nại hay không. Hiện tượng khiếu nại kéo dài từ năm này sang năm khác vẫn không đươc giải quyết là rất phổ biến ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước. Có nhiều gia đình khiếu nại từ đời cha cho đến đời con với hàng ngàn lá đơn gửi từ trung ương đến địa phương. Tất cả đều rơi vào im lặng! Không thể không nhắc đến hiện tượng khiếu nại đông người hiện nay, có nơi trở thành các cuộc biểu tình phản đối cách làm việc của cơ quan nhà nước. Nhiều người chẳng những không được giải quyết khiếu nại mà còn bị kết tội gây rối trật tự công cộng, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ v.v...

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Báo chí ở VN vẫn do đảng CS quản lý cho nên sự phản biện vẫn chưa đúng mức vì nó không phản ánh được mọi khía cạnh và tâm tư nguyện vọng của mọi người dân.
    Ví dụ các vụ HS-TS-VN, thăm dò ý dân về tổ chức trưng cầu dân ý, ... không bao giờ thấy xuất hiện ở các báo trong nước

    Sử phản biện chỉ có giá trị nếu ý kiến phải đủ mạnh để nhanh chóng chính thức được chấp nhận chứ không phải là hình thức van xin để được đảng CS bố thí

    Muốn vậy báo chí phải do tư nhân (không phải đảng viên) quản lý thì mới trung thực và phản ánh đúng sự thật, phải có luật báo chí tư nhân rõ ràng về tự do ngôn luận, ...

    http://www.tienphong.vn/Tuong-Tac/Dien-Dan-Tien-Phong-Online/504291/Bao-chi-va-phan-bien.html

    Báo chí và phản biện

    TP - Báo chí là một trong những kênh phản biện xã hội hữu hiệu nhất. Từ phản biện có lẽ có xuất xứ từ các ý kiến nhận xét (khen, chê hoặc góp ý) của những người được yêu cầu (họ được gọi là các nhà phản biện) để đọc và cho ý kiến nhận xét về một luận văn nào đó.

    Báo chí tác nghiệp. Ảnh: Tuổi trẻ

    Rồi người ta dùng từ phản biện xã hội theo ý nghĩa tương tự đối với các chủ trương, chính sách kinh tế-xã hội của nhà nước hay các cơ quan nhà nước (trung ương hay địa phương).

    Hiểu như vậy thì quá trình phản biện xã hội là rất cần thiết cho việc hình thành, thực hiện, sửa đổi hay hiệu chỉnh chính sách, một phần cốt yếu của cải cách liên tục.

    Bất cứ ai dẫu thông minh uyên bác đến đâu đều có thể mắc sai lầm, đều có thể có định kiến hay bị những giá trị hay lợi ích cục bộ ảnh hưởng. Để tránh những tác động tiêu cực, tăng tính khách quan, vô tư hay không thiên vị của các quyết định ảnh hưởng đến nhiều người, thì thủ tục bàn luận công khai, lấy ý kiến của các chuyên gia, của những người có thể bị ảnh hưởng, tính đến và đánh giá các tác động nhiều mặt của các quyết định sẽ được thông qua là một đòi hỏi chính đáng.

    Đấy là cách làm được hầu hết các nước phát triển tiến hành và các tổ chức quốc tế ủng hộ.

    Nhà nước Việt Nam cũng đã có các quy định pháp lý để thúc đẩy quá trình này trong hình thành các chính sách, các quy định pháp lý.

    Đấy là một bước tiến quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực này. Vấn đề là làm sao để thực hiện các quy định và thủ tục đó một cách hữu hiệu cũng như sửa đổi và điều chỉnh chúng một cách thích hợp.

    Hiểu theo nghĩa đó phản biện xã hội có thể được tiến hành theo nhiều kênh khác nhau. Những người có ý kiến có thể gửi thẳng cho các cơ quan hữu quan, có thể tham gia các hội thảo, thảo luận về vấn đề này, cũng có thể nêu ý kiến của mình trên báo chí.

    Sở dĩ báo chí là một kênh quan trọng bởi vì tính công khai của nó. Ý kiến trên báo chí có thể được nhiều người thảo luận, bàn cãi từ nhiều góc độ khác nhau. Một ý kiến độc đáo có thể gây cảm hứng cho hàng ngàn ý kiến khác. Đấy là một kênh rất hiệu quả cho lập luận công, thảo luận công về các vấn đề liên quan đến nhiều người.

    Việc lắng nghe các ý kiến đa chiều, các ý kiến thiểu số là hết sức quan trọng. Ý kiến của đa số chưa hẳn đã xác đáng, có khi ý kiến của thiểu số, thậm chí của một người có thể rất đáng cân nhắc. Chính vì thế phải lắng nghe ý kiến đa chiều, kể cả các ý kiến thiểu số.

    Tiếng nói của dân qua báo chí nếu được lắng nghe sẽ tạo một vòng phản hồi tự tăng cường rất tốt lành: chất lượng chính sách được nâng cao, dân tích cực tham gia vào công việc chung, nâng cao uy tín của giới lãnh đạo và cứ như thế lại làm cho các chính sách và quyết định tiếp theo càng tốt hơn.

    Ngược lại, nếu tiếng nói của họ không được lắng nghe, không được phản hồi, thì họ mất niềm tin vào vai trò làm chủ, lòng tin vào nhà nước bị xói mòn và ý kiến của họ có thể không còn mang tính xây dựng. Vòng phản hồi này chỉ làm yếu chứ không làm mạnh thêm các chính sách, quyết định.

    Thúc đẩy vòng phản hồi tốt lành, phá vỡ vòng phản hồi tai hại là trách nhiệm của nhà nước và của các cơ quan báo chí. Bàn luận về dự án đường sắt cao tốc vừa rồi có thể mở ra một vòng phản hồi tốt lành như vậy, hãy nuôi dưỡng và củng cố nó.

    Báo Trung Quốc kêu gọi xóa bỏ hộ khẩu

    (Dân trí) - Hơn chục tờ báo Trung Quốc đã cùng xuất bản một bài xã luận chung, kêu gọi xóa bỏ việc đăng ký hộ khẩu ở nước này

    Theo họ, hệ thống này đã cản trở người nhập cư từ nông thôn tiếp cận các dịch vụ ở các thành phố giàu có hơn.
    Kêu gọi này đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cư dân mạng và được đưa ra ngay trước kỳ họp quốc hội của các nhà lập pháp Trung Quốc vào cuối tuần này.

    Hộ khẩu đã được đưa ra vào những năm 1950, như là công cụ quy hoạch kinh tế trung ương.

    Bài xã luận đã dùng lời lẽ mạnh mẽ, bắt đầu bằng “từ lâu Trung Quốc đã hứng chịu sự ốm yếu của hệ thống hộ khẩu!” và “tất cả mọi người sinh ra có quyền tự do chuyển chỗ ở”.

    Hệ thống hộ khẩu đăng ký các công dân Trung Quốc là dân thành thị hay nông thôn theo gốc gác gia đình họ.

    Nhưng giờ đây, nhiều người coi đó là sự phân biệt đối xử khi tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục.

    Kể từ khi các cuộc cải cách kinh tế bắt đầu 30 năm trước, nhiều công nhân nhập cư Trung Quốc đã rời quê nhà, đất đai của họ để đóng góp cho sự phát triển nhanh chóng và tiến trình công nghiệp hóa nhanh của đất nước.

    Tuy nhiên, họ vẫn bị đăng ký là người nông thôn và không được hưởng những phúc lợi xã hội giống như những đồng nghiệp của họ ở thành thị. Điều này đã tạo ra sự bất cân bằng xã hội.

    Bài xã luận cho rằng hệ thống này không đúng và kêu gọi giới hữu trách Bắc Kinh chỉnh sửa lại. Bởi theo tờ báo, ngoài tạo ra sự công bằng, việc xóa bỏ hệ thống hộ khẩu còn thúc đẩy kinh tế Trung Quốc.

    Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo hôm thứ bảy tuần trước cũng thừa nhận lực lượng lao động công nghiệp của nước này hiện được tạo nên từ các công nhân nhập cư ở các vùng nông thôn.

    Tuy nhiên, theo giới phân tích, sẽ phải mất nhiều năm để tách hệ thống hộ khẩu khỏi hệ thống phúc lợi, chứ chưa nói đến việc xóa bỏ hệ thống này.

    Phan Anh

    Theo BBC

    Nhà thơ Hoàng Hưng, tù tội chỉ bởi một tập thơ

    Mặc Lâm, phóng viên đài RFA

    Chương trình Văn Học Nghệ Thuật tuần này Mặc Lâm mời quý vị theo dõi một khuôn mặt trong làng văn chương miền Bắc từng bị oan khiên trong vòng lao lý chỉ vì mang theo trong người tập thơ của nhà thơ Hoàng Cầm và bị xử hơn 3 năm tù giam. Đó là nhà thơ Hoàng Hưng, hiện sinh sống và làm việc tại Hà Nội

    Hoàng Hưng sinh năm 1942 tại thị xã Hưng Yên. Tốt nghiệp Khoa văn, Đại học Sư phạm Hà Nội 1965. Phóng viên, biên tập viên báo Người Giáo viên Nhân dân (Bộ Giáo dục) 1973-1982. Bị bắt giam và tập trung cải tạo từ 17.8.1982 – 29.10.1985 vì tội "lưu truyền văn hoá phẩm phản động".

    Từ năm 1987 tiếp tục làm ở nhiều báo khác nhau, cuối cùng là báo Lao động 1990-2003, sau đó về hưu.

    Tác phẩm: Đất nắng (in chung với Trang Nghị, Văn học, Hà Nội 1970), Ngựa biển (Trẻ, TPHCM 1988), Người đi tìm mặt (Văn hoá Thông tin, Hà Nội 1994), Hành trình (Hội Nhà văn, Hà Nội 2005) và nhiều bài viết, bài nói chuyện, tiểu luận, nghiên cứu, trên báo, tạp chí, đài phát thanh trong và ngoài nước. Một số bài thơ đã được dịch và in tại Pháp, Mỹ, Canada, Đức, Hungary, Hà Lan.

    Ngoài những tác phẩm vừa nói, Hoàng Hưng còn là một dịch giả có nhiều tác phẩm được in nhất hiện nay.

    Sau khi ra tù, ông miệt mài làm việc và cho ra mắt hàng trăm tác phẩm sáng tác cũng như dịch thuật. Ông còn được mời nói chuyện thơ ở nhiều nước như Pháp, Đức và đặc biệt là tại nhiều trường đại học tại Hoa Kỳ từ năm 2003 đến nay.
    Ở tù vì vì thơ Hoàng Cầm

    Trong thập niên tám mươi, không biết bao nhiêu vụ bắt giữ người trái pháp luật mà không cần bằng chứng cụ thể đã xảy ra. Một trong những nạn nhân của các vụ bắt bớ này là Hoàng Hưng và thật khó tin khi ông bị buộc tội chỉ vì cầm tập thơ của một người bạn vong niên là thi sĩ Hoàng Cầm trong một dịp vào miền Nam năm 1982.

    Công an cho rằng ông cố tình phát tán văn hóa phẩm phản động và kết quả là ông phải ngồi tù hơn ba năm sau đó. Hoàng Hưng cho chúng ta biết nguyên nhân của việc này sau đây:

    “Cái lý do trực tiếp của nó là khi tôi cầm trong tay tôi bản thảo tập thơ Về Kinh Bắc của nhà thơ Hoàng Cầm vào năm 1982 khi tôi từ Thành Phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội nhà thơ Hoàng Câm có tặng tôi bản thảo chép tay Về Kinh Bắc.

    Tôi không nghĩ là nó có vấn đề gì nhưng không ngờ họ lại bắt tôi và họ bảo tôi lưu truyền văn hóa phẩm phản động cái điều đó tôi hết sức ngỡ ngàng chính vì điều đó khi vào nhà tù thì tôi cãi rất là hăng tôi bảo đây không có gì là phản động hết trong nhiều tháng trời họ hỏi tôi tôi không nhận gì cả chắc là họ bực bội và họ lục soát nhà tôi trong Sài Gòn họ lục soát rất kỹ và họ tìm thấy một số trang nhật ký tôi viết bằng thơ, hay bằng văn vần đúng hơn, tôi viết từ năm 1970 trong đó có những giòng tôi tỏ ra hoài nghi về tương lai đất nước nhất là sau chiến tranh thì chuyện đó khiến họ càng thêm khó chịu nên họ quyết định tập trung cải tạo tôi với lý do có tư tưởng phản động.”

    Sau hơn ba năm những bước chân dò dẫm để trở lại đời thường thật không dễ như người ta thường nghĩ. Cảnh đời thật ập vào trí giác nhà thơ như một tiếng thở dài, như một lời than thở. Sự năng động của đời sống thực cuốn hút nhà thơ vào dòng chảy của mình như lục bình, như phù sa, như rác mà nhà tù vừa nhả ra.

    Nhà thơ không tự chủ được mình và ông cảm thấy không còn một lựa chọn nào khác. Nhà tù sẽ theo Hoàng Hưng trong suốt nhiều năm sau đó và chính những kinh nghiệm tù đày đã khiến thơ ông có chất liệu của máu, mồ hôi luôn cả những thống thiết không lời trên từng câu chữ sau này:

    “Đêm đợi tàu ở ga Thanh Hoá để về đoàn tụ với đại gia đình ở Hà Nội, giữa đám trẻ bụi đời mà tôi tự nhiên sáp vào theo một lựa chọn bản năng cho sự an toàn của mình, sự lựa chọn không thể giải thích bằng lý trí, có lẽ là đêm đầu tiên tôi không ác mộng.

    Có thể nói hơn một nghìn đêm sống trong các chỗ giam cầm khác nhau, từ trại tạm giam Hoả Lò, đến Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia ở ngoại thành Hà Nội, sau cùng là trại cải tạo Thanh Cẩm ở miền núi Thanh Hoá, hầu như không đêm nào tôi không gặp ít hay nhiều ác mộng, những ác mộng ngắn hoặc dài, là những mảnh vụn hay cả một câu chuyện.

    Phần lớn những ác mộng ấy, nếu không là lạc vào những cảnh giới hãi hùng thì cũng bao gồm cảnh mình bị rượt đuổi, bị bắt, hay bị giam cầm, hoặc vượt ngục mà không thoát... Có điều tôi có thể khẳng định là tôi chưa bao giờ mơ thấy mình bị đánh đập hay bị tra tấn!”
    Những sáng tác trong tù

    Ở tù đôi khi không phải là chuyện không may, ít ra là trong bối cảnh cuộc đời của nhà thơ Hoàng Hưng. Bài thơ "Người Về" của ông được chọn để trao giải 100 bài thơ hay nhất thế kỷ của Việt Nam. Những lời lẽ trong bài thơ này thật ra rất dung dị và không một chút làm dáng hay cường điệu để tả một người vừa ở tù ra.

    Tuy nhiên bàng bạc trong cả bài thơ là cái không khí mà khi đọc kỹ ta dễ dàng thấy cái ám ảnh của những cơn ác mộng trong tù vẫn đeo bám không tha con người vừa được tự do kia, khiến cho cái mà anh ta tưởng hoàn toàn được tự do sẽ không bao giờ có thật trong đời sống của anh nữa. Sự thật được dàn trãi trong bài thơ Người Về của Hoàng Hưng nằm ở câu cuối.

    Giật mình một cái vỗ vai...

    Khi bị vỗ vai thì thông thường tất cả chúng ta đều giật mình, nhưng cái giật mình của người mới ra khỏi nhà giam chắc chắn có khác. Đằng sau cái vỗ vai ấy người tù cảm thấy kinh hoàng như sắp sửa bị dẫn đi. Đi đâu? lấy cung, đổi phòng, đổi nhà giam....và có đi đâu chăng nữa thì hình ảnh kinh hoàng vẫn cứ bám sát vẫn cứ ám ảnh trong cả giấc mơ.

    Người Về

    Người về từ cõi ấy Vợ khóc một đêm con lạ một ngày

    Người về từ cõi ấy Bước vào cửa người quen tái mặt

    Người về từ cõi ấy Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy

    Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui Hai năm còn mộng toát mồ hôi Ba năm còn nhớ một con thạch thùng Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối

    Một hôm có kẻ nhìn trân trối Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi

    Giật mình, một cái vỗ vai

    1 trong 100 bài thơ hay nhất

    Hoàng Hưng vừa đọc cho chúng ta nghe tác phẩm Người Về của ông. Đây cũng chính là tác phẩm được chọn trong 100 bài thơ hay nhất thế kỷ của Việt Nam.

    Trở về đời thường không bao lâu thì ông tiếp tục sáng tác lại trong đó ông chú tâm rất nhiều đến công việc dịch thuật. Có lẽ từ chỗ quen với ngoại ngữ nhà thơ Hoàng Hưng có dịp tha thẩn rong chơi với những tác phẩm nước ngoài nổi tiếng và nhiều công trình dịch thuật của ông ra đời trong thời gian này.

    Và rồi dịp may đến, ông đã được ra nước ngoài tham dự nhiều hội nghị văn hóa cũng như hoạt động văn học quốc tế, nhưng có lẽ đáng nhớ nhất là những lần ông sang Mỹ đọc thơ của mình trong các trường đại học nổi tiếng như Đại học Berkeley thuộc tiểu bang California, Đại học Columbia College Chicago, Đại học Washington, Seatle hay Đại học Quốc gia San Francisco. Khi được hỏi những phản hồi từ phía người nghe thơ của ông ra sao, ông cho biết:

    ”Trong lúc tôi đi đọc thơ ở các trường đại học Mỹ thì tôi thấy họ có một sự đồng cảm và đây là điều mà tôi không hình dung trước nhưng trong và sau khi đọc tôi thấy tôi thấy rõ ràng có sự đồng cảm trong ánh mắt, trong các lời phát biểu hay cảm ơn, chuyện trò đôi câu với tôi.

    Dù rằng qua bản dịch chỉ thể hiện phần nào thế nhưng tôi nghĩ rõ ràng họ có một sự rất đồng cảm, kể cả giọng đọc của tôi khi đọc thơ bằng tiếng Việt cho dù họ không hiểu nghĩa nhưng cái âm nhạc trong giọng của mình cũng chuyển cảm được và do đó cái sự đồng cảm tôi thấy rất là chân thành.”

    Còn người thưởng ngoạn thơ ông trong nước thì sao? họ có mặc cảm đối với việc ông từng bị giam về tội phát tán văn hóa phẩm phản động hay không? Họ là ai và thuộc giới nào?

    “Gần đây tôi mới có dịp xuất hiện trước công chúng cho nên tôi cũng không biết được phản ứng của công chúng thế nào thế nhưng qua mấy buổi đọc thơ ở viện Goether, khoa văn đại học sư phạm hay ở Văn Hóa Đông Tây thì tôi thấy tôi cũng đựoc sự đồng cảm và yêu mến của người nghe. Sau các buổi đọc thơ đó thì họ phát biểu rất nhiều những nhận xét của họ về thơ của tôi.”

    Bài thơ được đánh giá cao của Hoàng Hưng trong tác phẩm Ác Mộng là bài "Một Ngày", tuy nhiên bài thơ này lại không được chọn đưa vào danh sách 100 bài thơ hay nhất thế kỷ. Nhà thơ Hoàng Hưng cho biết:

    ”Bài Một Ngày không được công bố nó nằm trong bài thơ Ác Mộng của tôi. Bài Người Về ngay từ khi mới ra đời cũng có dư luận mạnh mẽ hưởng ứng. Tất nhiên sau đó nhà xuất bản cũng như tôi gặp rất nhiều rắc rối nhưng sau này thì nó cũng chìm đi. Riêng các tuyển chọn thơ Việt Nam thì hầu như những lần tuyển chọn đều tuyển cái bài đó. Bài thơ Người Về theo tôi rất chân thực, cho nên từ sự chân thực nó gây ra sự đồng cảm của người đọc/”

    Trong chương trình kỳ tới, Mặc Lâm mời quý thính giả tiếp tục theo dõi những bài thơ trong tập "Ác Mộng" của Hoàng Hưng, trong đó có bài vừa được nhắc tới là bài "Một Ngày". Đây là bài thơ có kết cấu lạ lùng hiếm hoi trong nền thơ đương đại Việt Nam đã được tiếng vang trong các trường đại học khi Hoàng Hưng có dịp đọc trước những cử tọa Hoa Kỳ.

    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Hoang_Hung_a_prisoner-poet_part1_MLam-20070722.html

    Trích dẫn:
    Quyền tự do đi lại và cư trú. Chế độ “hộ khẩu” vẫn còn ám ảnh từng người dân cho tới bây giờ. Nó mặc nhiên tước bỏ quyền tự do đi lại và cư trú của 86 triệu dân Việt nam. Có thời kỳ chế độ “hộ khẩu” là đề tài tranh luận sôi nổi của công luận. Rồi Quốc hội cũng tham gia để bàn xem có nên bỏ chế độ hộ khẩu hay không. Người dân thì muốn bỏ để bớt phiền toái và tự do hơn, Nhà nước thì sợ mất “hộ khẩu” thì sẻ không “quản” người dân được. Cuối cùng, Luật cư trú cũng ra đời, và công cụ quản lý bằng hộ khẩu vẫn được giữ nguyên. Mỗi khu phố đều có “nơi đăng ký tạm trú, tạm vắng”, “điểm đăng ký tạm trú tạm vắng”. Nói là “đăng ký” nhưng bản chất của sự xin cho vẫn còn đó. Hằng đêm, lực lương công an, dân phòng vẫn lùng sục từ khách sạn sang trọng cho đến hang cùng, ngõ cụt để kiểm tra sự cư trú của người dân.

    Nhà nước thì sợ mất “hộ khẩu” thì sẻ không “quản” người dân được cho nên phải đăng ký tạm trú tạm vắng. Đây rõ ràng là một vi phạm về quyền tự do đi lại và cư trú của người dân mặc dù nước ta đang trong thời bình từ 30 năm nay.

    Việc kiểm soát đi lại và cư trú chứng tỏ chính quyền VN vẫn chưa thực sự ổn định được xã hội

    Tôi không hoàn toàn phản đối việc kiểm soát đi lại và cư trú nhưng việc này "chỉ nên giới hạn" với những thành phần có tiền án hình sự như cướp, xì ke, ma túy, buôn lậu, ...

    Tôi "nghe nói" ở một vài địa phương của một số nước ở châu Âu cũng có chế độ phân biệt để ngăn chặn làn sóng di dân (chủ yếu là ngoại quốc) và bảo vệ cư dân địa phương.

    Ví dụ nếu ai không có quốc tịch (hoặc không có việc làm) thì không được ghi danh vào quận. Bạn có thể vào ở lậu, cảnh sát cũng không thường xuyên khám xét, nhưng không thể tự mình xin mở đồng hồ điện, nước, ... và một số quyền lợi khác
    Đây là một luật địa phương mang tính phân biệt chủng tộc và bị các hội đoàn về nhân quyền, các đảng phái khác lên án mạnh mẽ. Quận trưởng do bị sức ép mạnh, phải bãi bỏ luật này

    Các chính quyền (trung ương cũng như địa phương) đều chủ yếu làm theo lợi ích của chính họ và theo số đông đã bỏ phiếu cho họ.

    Họ không thể nào chiều ý hết tất cả mọi người cho nên họ dễ dàng luồn lách luật bằng cách ra những nghị quyết đôi khi hoàn toàn trái với hiến pháp và luật chung của quốc gia.

    Việc có các thế lực phản biện "thật" trong xã hội là một điều tự nhiên để cân bằng những sai trái của chính quyền

    Ở các nước độc tài như TQ, VN, các thế lực phản biện "thật" đều bị tiêu diệt vì chỉ có độc đảng và chỉ còn các phản biện "cuội" như MTTQ và các báo chí kiểm soát bởi đảng CS

    Chế độ phát xít và cộng sản giống nhau ở chỗ là bắt buộc mọi người đều phải phục tùng (đồng thuận)