Duy Ngọc - Bó tay với ông GS Trần Quang Hải!

  • Bởi Admin
    29/07/2010
    4 phản hồi

    Duy Ngọc

    843358_4264779_n.jpg

    Trong bài “Cồng chiêng Tây Nguyên sản xuất tại Thái Lan” trên SGTT (26-7-2010) khi được phỏng vấn, GS Trần Quang Hải cho biết cồng chiêng Tây Nguyên đang thay đổi chóng mặt, xuất hiện nhiều bộ cồng chiêng sản xuất ở Thái Lan, báo động sự lai căng. Ông Hải mạnh miệng phát biểu: “Cồng chiêng do bàn tay người Tây Nguyên làm ra, nó thấm đẫm hơi thở của núi rừng. Mỗi một cái cồng, cái chiêng, có khi phải tỉ mẩn rèn, đúc cả năm trời mới làm xong. Cứ hoàn thành một dàn cồng chiêng, là lại tiến hành tế lễ, giết gà, mổ bò, mổ trâu”. Cồng chiêng do người Tây Nguyên làm ra? Cả năm trời mới xong một cái chiêng? Tế lễ khi làm xong bộ cồng chiêng? Thiệt bất ngờ khi GS Trần Quang Hải miêu tả một cách tỉ mỉ, chi tiết đến như vậy. Không biết ông Hải đã tận mắt chứng kiến người dân tộc thiểu số Tây Nguyên đúc cồng chiêng chưa, và đúc ở đâu?

    Thực tế thì các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không hề đúc được cồng chiêng. Họ chỉ sử dụng cồng chiêng “nhập ngoại” vào các sự kiện sinh hoạt văn hóa của họ. Lúc đầu thì cồng chiêng vào Tây Nguyên chủ yếu theo đường từ Lào sang, có xuất xứ từ Trung Quốc, Myanma. Những chiếc cồng chiêng này có giá trị rất cao, thậm chí đổi nhiều con trâu mới có được một chiếc, nó là tài sản lớn trong các gia đình Bana, Jarai, Ê đê... Sau này, và chỉ rất lâu sau này thì các làng đúc đồng dọc theo duyên hải miền Trung mới đúc cồng chiêng mang lên bán cho người Tây Nguyên. Làng Phước Kiều (Điện Bàn, Quảng Nam) là nơi cùng cấp một số lượng lớn cồng chiêng lên Tây Nguyên cho đến bây giờ. Ông Dương Ngọc Sang, một nghệ nhân đúc đồng lão làng ở Phước Kiều cho biết trước đây ở Phước Kiều chỉ đúc các vật dụng gia đình bằng nhôm đồng như xoong, chảo..., cho đến khoảng sau 1960 mới bắt đầu đúc cồng chiêng mang lên Tây Nguyên bán. Chuyện là những thợ nhôm đồng ở Phước Kiều khi mang nồi chảo lên các tỉnh Tây Nguyên bán dạo thì thấy những chiếc cồng chiêng được các dân tộc ở đây nâng niu, trao đổi nhau với giá trị cao. Họ nảy ra ý định đúc những chiếc cồng chiêng mô phỏng theo rồi đem lên bán. Lúc đầu họ chỉ biết đúc phôi, tiếng chiêng họ đúc kêu không đúng do họ không biết gì về âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên cả. Những người già ở các làng Tây Nguyên có am hiểu về cồng chiêng, dùng búa chỉnh lại độ dày mỏng để tiếng chiêng phát ra đúng, có thể chơi được trong giàn cồng chiêng. Mãi sau này người Phước Kiều mới học được cách chỉnh âm cho cồng chiêng sau khi đúc phôi xong. Và những chiếc chiêng từ Phước Kiều lên chất lượng và giá thường thấp hơn nhiều so với những chiếc cồng chiêng nhập vào qua đường Lào trước kia, mà sau này không hiểu vì lí do gì không còn nhập vào nữa.

    Cồng chiêng được đúc từ hợp kim đồng và thiếc với tỉ lệ thích hợp. Vấn đề ở đây là kỹ thuật đúc, pha trộn kim loại sẽ quyết định chất lượng chiếc chiêng sau khi ra đời, chứ không phải là chuyện tỉ mẩn “tốn cả năm trời” như GS Hải nói. Thực sự việc đúc một chiếc chiêng không bao giờ, không cần phải lâu đến vậy, thường chỉ vài ngày.

    Ông Hải nói: “Người Tây Nguyên tin rằng, lớp đồng đen trên bề mặt cồng chiêng được phết thêm máu gia súc dùng trong tế lễ, thì cái cồng, cái chiêng đó đánh lên, mới phát ra đúng âm thanh của Tây Nguyên. Ấy thế mà hiện nay lại có những chàng trai Tây Nguyên dám đem những cái cồng, cái chiêng ông bà, tổ tiên để lại ra gọt chỗ này, cạo chỗ kia, rồi tạo nên âm giai thất cung thay thế vào để chơi nhạc mới”. Theo tôi biết thì hầu như chiếc chiêng nào dù tốt đến mấy chơi một thời gian dài đều hỏng tiếng, mất tiếng, và đều phải cạo sửa, gõ búa để chỉnh lại độ dày mỏng, lấy lại đúng âm thanh ban đầu. Và âm thanh có tốt hay không là do chất lượng chiêng, kỹ thuật đúc, còn cái “huyền thoại máu thú” nghe “hấp dẫn kia” thì tôi chưa nghe ai nói, và khó mà chứng minh được. Còn việc các chàng trai Tây Nguyên mà sáng chế, chỉnh sửa lại bộ cồng chiêng nào đó mà chơi pop, rock... được thì quả tuyệt vời chứ, sáng tạo đáng khen chứ, sao lại chê. Khi nó chỉ là sáng tạo ở vài điểm, nó chỉ làm phong phú thêm, chứ khó mà biến đổi hết cả văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được. Các giai điệu cồng chiêng Tây Nguyên ở mỗi nơi đều khác khác nhau rất rõ, và có lẽ nó cũng đã có nhiều biến chuyển, bổ sung, thêm mới theo thời gian.

    Ông Hải cho rằng hiện thiếu các dự án hỗ trợ cho bà con Tây Nguyên bảo vệ vốn quý truyền thống. Theo tôi, vấn đề hiện nay của cồng chiêng Tây Nguyên không phải là không có các dự án hỗ trợ. Ngược lại đang có quá nhiều, mà lại làm một cách tạp nham, thiếu hiểu biết. Những chiếc chiêng “dự án” liệu có tốt không khi chỉ cần giảm một lượng thiết nhất định trong hỗn hợp đồng-thiết là giá thành chiêng sẽ giảm nhiều, vì giá thiếc đắt gấp nhiều lần giá đồng. Kéo theo đó chất lượng sút giảm theo, đánh chỉ một thời gian là điếc, vứt xó. Có nhiều dự án, đưa cồng chiêng lên Tây Nguyên nhiều hẳn đã hay? Có khi lại gây bội thực, chán chê, người Tây Nguyên không mua cồng chiêng nữa, chỉ chờ đem cho. Rồi các lễ hội giả tạo do nhà nước bỏ tiền ra tổ chức, các buổi biểu diễn công chiêng theo kiểu sân khấu. Nó có làm sống lại được không gian cồng chiêng tồn tại bao đời? Không, nó chỉ là những xác ướp, thậm chí còn không phải xác ướp của không gian công chiêng truyền thống Tây Nguyên. Là những xác ướp “lạ” từ xa đem tới, phủ lớp áo Tây Nguyên. Các dự án đó chỉ có “bức tử” luôn những giá trị văn hóa hãy còn sống của Tây Nguyên mà thôi.

    Văn hóa Tây Nguyên vốn đã bị “đứt gãy” nhiều bởi di dân ồ ạt, bởi những giá trị mới xô đến đột ngột, đè nát những giá trị cũ, bởi mất rừng, mất đất, mất rẫy... Bây giờ lại xúm vào giữ. Mà giữ với những “dự án” moi tiền,với những tác động thô bạo, thiếu hiểu biết... thì chỉ làm Tây Nguyên tổn thương thêm thôi.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Phản hồi: 

    ‘Không gian Văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên’ được UNESCO công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại” vào ngày 15 tháng 11 năm 2005. Vì vậy vấn đề xuất xứ Cồng Chiêng không quan trọng nhưng có nhiều điều rất thú vị về âm vang của tiếng Cồng Chiêng .
    ‘Nhã nhạc cung đình Huế’, cũng được nhận danh hiệu này, nhưng điều khác là văn hóa Cồng Chiêng không chỉ có "làn điệu" như Nhã nhạc cung đình Huế mà ngoài “bản chất âm nhạc” phải kèm theo cả một “không gian văn hóa” (lễ hội ) không thể tách rời với âm nhạc Cồng Chiêng, vậy nên Văn hóa Cồng Chiêng còn có thêm từ ‘không gian’ khá đặc thù.

    Văn hoá Cồng Chiêng được phát triển từ nền văn hoá dân tộc, tiêu biểu là Trống đồng Đông Sơn ra đời cách đây 3.000 năm.

    Cồng Chiêng là nhạc cụ của nhiều nước, nhưng ở các nước Cồng Chiêng chỉ là nhạc cụ chuyên nghiệp và cung đình, như Indonesia, Thái Lan, Malaixia, Mianma, Lào với cách sử dụng đơn điệu ngồi gõ nhịp Còng Chiêng như nhịp Trống .

    Cồng Chiêng có thể mua ở nhiều nguồn sản xuất và chỉ mới được gọi là “phôi“. Tùy chất liệu tỷ lệ hợp kim và cách chế tác lại sẽ có âm thanh có mức đặc sắc bền lâu khác nhau. Công việc mất nhiều thời gian là chế tác âm vang của Cồng chiêng chứ không phải việc đúc phôi Cồng Chiêng .

    Kỷ năng chế tác để "phôi Cồng Chiêng" thành nhạc cụ có âm vang đặc biệt chính là tài hoa riêng của người Tây Nguyên mà người sản xuất Cồng Chiêng không thể sở hữu. Không bao giờ có cái Cồng cái Chiêng mua sẵn có âm thanh đúng như người Tây Nguyên cần. Kể cả người Kinh VN có muốn cũng không thể làm thay họ được! Mỗi một hoặc vài làng bản lại có một người chuyên lên chiêng (hay gọi là người chỉnh chiêng), sửa để chiêng có một âm thanh đúng như mong muốn.
    Có thể kinh nghiệm mày mò nhiều năm tháng hoặc có gì liên hệ mô phỏng theo cách làm mặt trống đồng là đều cần nghiên cứu!

    Theo một nghiên cứu, trong chức năng của một nhạc khí, khi đánh Trống đồng vào các vành khác nhau sẽ có nốt nhạc Mi, Fa, Si...khác nhau v.v... Việc chế tác, kỷ thuật đúc trống đồng Đông Sơn thành nhạc khí, cội nguồn văn minh VN, cũng còn rất nhiều điều tinh tế cần nghiên cứu !

    Một điều cần xác định là theo quan điểm của UNESCO, một bộ môn nghệ thuật khi được công nhận là "kiệt tác" có nghĩa là đạt đỉnh cao nghệ thuật thì không được phép thay đổi.
    Tất cả các nước trên thế giới đều thống nhất áp dụng cho những bộ môn nghệ thuật đã được xếp loại di sản phi vật thể của thế giới.

    Việc nhóm trẻ làm phong phú thêm để Cồng Chiêng có thêm lịch sử đương đại và tương lai không nên là chuyện cấm đoán hay chê bai. Nhưng những ‘biến tấu’ này cần tách rời chứ không nên làm thay đổi những gì đã và đang được coi là ‘kiệt tác’ rồi.

    Tuy không ngăn sáng tạo mới, song cũng không phải vô lý khi sợ sự pha trộn bất cẩn sẽ làm mất đi ‘không gian văn hóa’ của tiếng Cồng Chiêng là lễ hội tâm linh, một khi mang Cồng Chiêng dùng vào sinh hoạt vui chơi, phục vụ sân khấu cung đình như các nước khác đang làm. Cồng Chiêng tách khỏi không gian văn hóa lễ hội tâm linh sẽ chỉ là một dàn nhạc cụ bình thường, lại không có ưu thế về thanh âm đấy!

    Nếu người Tây nguyên trẻ chưa học được hết các ‘kiệt tác’ Cồng Chiêng cỗ điển đặc sắc, mà tạo ra biến tấu ...không hay hơn thì e sẽ làm mai một nguyên tác. Giống như việc VN ta đang phục chế các di tích Đền Chùa nhà cỗ một cách thô thiển làm mất đi dáng dấp di tích vậy !
    Âu Châu có phong trào Phục Hưng chú ý tìm kiếm các giá trị của người cổ đại và nhờ đó nhiều giá trị ngàn năm trước, được ghi bằng cổ tự hoặc bị chôn vùi theo thời gian, được khai quật, ghi chép, phục chế, giử gìn, tôn tạo.

    Trần Thị Hồng Sương

    Phản hồi: 

    Trước hết phải cám ơn Tác giả về bài viết làm sáng tỏ nhiều điều về cồng chiêng Tây Nguyên. Dưới con mắt thô thiển của tôi, có hai điều chú ý: Một là MÁU GIA SÚC BÔI LÊN CỒNG CHIÊNG CHO PHÁT ĐÚNG ÂM THANH NÚI RỪNG TÂY NGUYÊN. Hai là DỰ ÁN CỒNG CHIÊNG.Ông Giáo sư này hơi bị HUYỀN BÍ HOANG DÃ HOÁ, ông thích thú sự ÂM U của tiếng cồng chiêng để rồi đem luôn vào bài viết của mình. Có thể người Tây Nguyên bôi máu gia súc lên nhạc cụ với mục đích tâm linh khác như thông linh thánh thần, tổ tiên, rừng núi, chứ ko phải để .... điều chỉnh âm thanh nhưng ông Giáo sư bị ..... lệch nên nhìn ra VẤN ĐỀ ÂM THANH. Tiếp theo đó là DỰ ÁN, kiểu này thì thấy rỏ là DỰ KIẾN sẽ thành ÁN đây. Dưới Kinh này toàn những người sắc sảo, thông tuệ mà mấy cái dự án còn qua mặt vèo vèo,nhan nhản hàng ngày, thì đem DỰ ÁN lên với người thật thà Tây Nguyên quả là một nước cờ cao.

    Phản hồi: 

    PHI VẬT THỂ?

    *
    Tôi định hỏi ông giáo sư Trần Quang Hải có chuyên môn gì, nhưng sau khi đọc bài gốc thì thấy không cần thiết nữa. Lý do cũng đơn giản: các chức tước kiểu Tiến sỹ (Kandidat), Tiến sỹ khoa học (Doktor), … ở Việt Nam thường không (có / đi kèm) … chuyên môn, rất thuận tiện cho qu ý vị sở hữu văn bằng … dỏm!
    Tuy nhiên cũng cảm ơn tác giả Duy Ngọc đã chỉnh lý tri thức cho GS âm nhạc (?) này. Đúng là đúc cồng chiêng không cần đến „cả năm trời“ và với kiến thức hóa học phổ thông cũng biết cách thực nghiệm để xác đinh hợp phần kim loại; Ngoài ra, „đồng đen“ là hợp kim đồng-vàng chứ không phải đồng-thiếc…

    *
    Nhưng câu hỏi sau đây thì thực muốn được các bậc thức giả chỉ dùm: Thế nào là „di sản văn hóa phi vật thể“? „cồng, chiêng“ có phải là „phi vật thể“ không? Nếu „phi vật thể“ là cái hồn âm nhạc, cái lản điệu „thấm đẫm“ âm hưởng Tây Nguyên thì thực là việc cồng chiêng làm ở đâu cũng có thể không nhất thiết coi là … trầm trọng.

    Trân trọng.

    Phản hồi: 

    [quote]Văn hóa Tây Nguyên vốn đã bị “đứt gãy” nhiều bởi di dân ồ ạt, bởi những giá trị mới xô đến đột ngột, đè nát những giá trị cũ, bởi mất rừng, mất đất, mất rẫy[/quote]
    Theo sự đoán mò của tôi, không biết có phải do những điều nêu trên mà vụ lộn xộn ở Tây Nguyên (hình như là vào năm 2004) đã xảy ra?
    Nghe đồn người Kinh lên xứ Thượng làm ăn đã giở nhiều thủ đoạn bỉ ổi để cướp đất của họ. Những việc đó không biết thực hư thế nào?