Lê Trần Luật - Một vài nhận định tổng quan về thực trạng nhân quyền ở Việt nam (Bài 1)

  • Bởi Hồ Gươm
    27/07/2010
    2 phản hồi

    Lê Trần Luật

    Nhân quyền hay còn gọi là quyền con người, nói một cách vắn tắt là quyền được sống đúng như một con người. Đó là quyền căn bản của mọi con người trong mọi dân tộc, mọi quốc gia.

    Để đạt được chân lý tưởng chừng đơn giản đó, loài người đã phải trả giá bằng cả máu và sinh mạng của hàng triệu người. Biết bao triều đại, bao chế độ chính trị đã sụp đổ vì đi ngược lại mong muốn đó của loài người.

    Ngày 2- 9- 1945 Hồ Chí Minh, trong tuyên ngôn độc lập đã nhắc lại chân lý này: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do….”. Tư tưởng đó đã phản ánh rằng quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc của con người là chân lý, là ước mơ của toàn bộ nhân lọai. Chân lý này hoàn toàn không phụ thuộc vào quan điểm hay thể chế chính trị. Quyền con người là tự nhiên, là ắt có và hằng có, là bất khả xâm phạm, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào việc có hay không thể chế nhà nước.

    Kể từ sau tuyên ngôn này của Hồ Chủ Tịch, những nhà lãnh đạo Việt nam đã “thay đổi” quan điểm, phủ nhận tính tự nhiên và tồn tại độc lập của quyền con người với thể chế chính trị. Họ cho rằng quyền con người phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế và chính trị. Quyền con người không những mang tính phổ quát được nhân lọai thừa nhận mà có tính riêng biệt, phụ thuộc vào đặc tính văn hóa của từng dân tộc. Quan điểm này nhằm bảo vệ cho sự tồn tại của một chế độ chính trị độc tài. Họ đặt sự tồn tại của đảng cộng sản trên các giá trị nhân quyền đã được cả nhân loại thừa nhận. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hệ thống pháp luật lủng củng và mập mờ, mang tính hình thức và thiếu khả năng thực thi trong thực tiễn. Hầu hết các các giá trị quyền con người nhà nước Việt nam đều thừa nhận bằng cách tham gia hoặc ký kết các điều ước quốc tế. Nhà cầm quyền Việt nam cũng cố gắng thể hiện sự thừa nhận các quyền con người của mình trong các hiến pháp. Tuy nhiên, bản thân các hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp hiện tại chứa đựng quá nhiều xung đột giữa quyền con người và chế độ chính trị. Các văn bản luật dưới Hiến pháp luôn có khuynh hướng ưu tiên cho sự tồn tại của chế độ, làm mất khả năng thực thi các quyền con người trong thực tiễn. Sự cản trở này là nguyên nhân chủ yếu gây ra các xung đột giữa chính quyền với người dân, tạo ra các hiện tượng phản kháng xã hội.

    Bảo đảm và phát triển các quyền con người là bảo đảm cho người dân của mình có quyền mưu cầu hạnh phúc và tự do.

    Thực trạng về nhân quyền ở Việt nam có thể nhìn thấy qua các nhận định sau:

    1- Đối với nhóm quyền về kinh tế xã hội, bao gồm các quyền: quyền lao động; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu hơp pháp về tài sản; quyền được bảo vệ sức khỏe; quyền bảo vệ về hôn nhân gia đình; quyền mang tính ưu tiên như quyền trẻ em; quyền phụ nữ.

    Quyền lao động, đó là sự tự do lựa chọn nghề nghiệp phù hơp với mình. Không thể nói nhà nước đã bảo đảm quyền này khi mà gần 70% dân số Việt nam sống bằng nông nghiệp, mà tư liệu sản xuất là đất đai bị nhà nước nắm giữ. Hệ thống các cơ sở công đoàn mang nặng tính hình thức, không dám đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

    Quyền tự do kinh doanh là quyền tự do lựa chọn các ngành nghề kinh doanh không bị nhà nuớc cấm. Trước năm 1999, nhà đầu tư muốn kinh doanh phải xin phép nhà nuớc. Năm 2000, khi cho ra đời luật doanh nghiệp, nhà nước không buộc nhà đầu tư phải có đơn xin phép nữa mà chuyển sang đơn đăng ký kinh doanh. Mặc dù thay đổi ngôn từ từ “xin phép” sang “ đăng ký” nhưng bản chất xin – cho vẫn tồn tại thông qua hồ sơ và trình tự đăng ký kinh doanh. Đó là bước đầu thành lập, khi vào kinh doanh nhà đầu tư phải vựơt qua hàng lọat giấy phép con khác, do các bộ, các ngành quản lý tự đặt ra. Năm 2000, thống kê chính thức của nhà nuớc cho thấy Việt nam có trên 300 lọai giấy phép kinh doanh khác nhau. Khi đó chính Thủ tướng phải ra lệnh bãi bỏ trên 100 lọai giấy phép, nhưng đến nay thì lại hình thành gần 400 loại giấy phép khác nữa. Với một “rừng” giấy phép như “thiên la điạ võng” như vậy làm sao nói Việt nam có quyền tự do kinh doanh. Mặc khác khi nói đến tự do kinh doanh không thể không nói đến sự cạnh tranh lành mạnh, điều này không thể có với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

    Quyền sở hữu tài sản hợp pháp là quyền sơ đẳng nhất bảo đảm cho điều kiện sinh tồn của con người. Đất đai, nhà cửa là một trong những điều kiện đó, ngoài ra nó còn là tài sản có giá trị lớn, là hàng hóa luân chuyển, và đặc biệt là tư liệu sản xuất chủ yếu của đa số người dân Việt nam. Nhà nước cho đến nay vẫn chưa cho người dân có quyền sở hữu về đất đai. Giao quyền sử dụng đất đai như một sự ban phát, nhà nước có thể thu hồi bất cứ lúc nào. Đây là nguyên nhân chủ yếu của hàng loạt vụ xung đột giữa nhà nước và người dân. Ngoài ra còn rất nhiều lọai tài sản khác, nhà nước bắt người dân phải đăng ký để quản lý. Các định chế về quản lý hành chính vô hình chung tước đoạt và hạn chế quyền tự định đoạt tài sản hợp pháp của người dân.

    Quyền đươc bảo vệ sức khỏe, ứng với quyền này là nghĩa vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng của nhà nước. Trước tiên phải thấy rằng hệ thống bệnh viện từ trung ương đến địa phương đã xuống cấp trầm trọng. Các bệnh xá ở vùng cao, vùng xa hết sức sơ sài và lạc hậu, cá biệt có nhiều nơi không có bệnh xá. Hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập, hay thay đổi gây nhiều bất lợi cho người dân, đặc biệt người dân nghèo gần như không thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế công.

    Quyền bảo vệ hôn nhân và gia đình. Nói đến quyền này không thể không nói đến trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn. Đặc biệt là kết hôn với người nước ngoài. Với 19 lọai giấy tờ khác nhau, hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngòai trở thành “ác mộng” với những cặp trai gái yêu nhau và muốn thành vợ chồng. Cá biệt có cặp phải chia tay nhau vì không thể nào hòan thành đủ 19 lọai giấy tờ đó. Chưa hết, sau khi hoàn tất hồ sơ, phải trải qua một cuộc thẩm vấn. Nhiều câu hỏi thẩm vấn hết sức vô duyên của cán bộ cộng chức làm đôi trai gái ngượng đỏ cả mặt, không dám trả lời. Mà không trả lời xem như không thể thành vợ thành chồng.

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bác psonkhanh và TCDY (bài 2),

    Tôi cũng thấy chính sách hộ khẩu và khai báo tạm vắng tạm trú là lạc hậu. Nó gò bó người dân cứ y như là ở trong tù !

    Hồi năm ngoái 2009, một người quen đưa tôi đọc một bài báo về Trung Quốc thời Mao, khi làm cách mạng đại nhảy vọt gì đó (trước khi Mao bị chia quyền với Lưu Thiếu Kỳ). Nếu các bác đòi link hoặc nguồn của báo này thì tôi chịu thua (hình như của Arte thì phải)

    Lúc này Mao bắt vào hợp tác xã, cho luyện thép ở khắp nơi, ... và kết quả là dân đói và chết vì đói. Tuy nhiên Mao vẫn cho tuyên truyền trên báo chí, phát thanh là mọi người đều ấm no, hạnh phúc. Nhưng cái độc ác và khốn nạn nhất của Mao và đảng CS TQ là tất cả những vùng có dân chết vì đói đều bị tuyệt đối cách ly ! Người dân vùng đói không được phép rời vùng đang ở để qua vùng không đói và ngược lại. Tất cả đều bưng bít để tự do chết. Vâng họ không có quyền tự do cư trú nhưng họ có quyền tự do chết đói.

    Chính sách hộ khẩu và kiểm soát cư trú tạo ra sự bất bình đẳng xã hội, ích kỷ và đôi khi có thể nguy hiểm cho cuộc sống. Những gì bất lợi như bác psonkhanh ghi ở trên, tôi không cần phải nhắc lại

    Bác TCDY (bài 2) đề nghị chỉ nên giới hạn kiểm soát cư trú ở những thành phần có tiền án hình sự nguy hiểm như cướp, ma túy, ... thì cũng là điều hợp lý đấy.
    Ở một số nước châu Âu người ta có làm việc này để theo dõi và giúp những thành phần có tiền án này hội nhập xã hội tốt hơn sau khi mãn hạn tù hoặc được ân xá sớm ... Đây là sự phối hợp giữa địa phương, vùng và chính quyền trung ương. Không có cái kiểu thả các con nghiện về cho địa phương cai quản đâu bởi địa phương làm sao có đủ phương tiện làm được việc to lớn này ! Đem con bỏ chợ là cách dễ nhất của các quan tham nhưng làm biếng

    Phản hồi: 

    Bản chất của chính sách Hộ khẩu là mối quan hệ có tính đối đầu giữa nhà nước và dân chúng, giữa quyền lực tuyệt đối của bộ máy cai trị và số đông người dân bị trị. Trong chính sách này, dân là đối tượng và mục đích cai trị của nhà nước và nhà nước tạo ra tập quán phục tùng vô điều kiện đối với mọi công cụ của quyền lực cưỡng chế. Tìm ở đâu ra mối quan hệ “nhà nước là của dân, do dân và vì dân” trong chính sách hộ khẩu này?

    Không có hộ khẩu, không xin được việc làm, không được chữa bệnh, không xin được cho con cái đi học, không được có chỗ ở, không mua được đất, không xin được giấy phép làm nhà, đi đâu phải trình báo, có ai đến nhà, phải khai báo nghĩa là anh không sống, hoặc không tồn tại, hoặc chỉ là một người nhập cư trái phép ngay trên mảnh đất mà anh ra đời, tổ tiên và ông cha anh sinh sống. Anh bị phân biệt đối xử, anh bị tước hết quyền công dân, anh chỉ là một thứ vật nuôi trong tay chính quyền. Hãy di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác, anh sẽ thấy hết nhân quyền Việt Nam là gì, và thế nào là tự do cư trú theo kiểu Việt Nam. Và kết hợp với một vị công an khu vực, mỗi vị giám sát vài nhà, một tuần hỏi thăm vài lần, thì coi như anh không ở trong tù mà giống như vật nuôi trong lồng. Không có gì vi phạm nhân quyền hơn chính sách hộ khẩu mà Nhà nước Việt Nam sử dụng để bảo vệ chế độ độc đảng. Đây là “nhân quyền của riêng Việt Nam” và là “công việc nội bộ” của Việt Nam? Còn chuyện an ninh mạng chui vào hộp thư điện tử của dân, nghe trộm điện thoại và đọc trộm tin nhắn của dân…không phải là vi phạm nhân quyền mà là để chứng minh rằng chính quyền có thể “làm gì cũng được”.