Nguyễn Trung - Định vị Việt Nam trên đường phát triển hiện nay (Phần I)

  • Bởi Hồ Gươm
    29/06/2010
    3 phản hồi

    Nguyễn Trung

    Kính dâng Tổ quốc nhân dịp 1000 năm Thăng Long

    Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21

    (Như tên gọi của nó, bài viết này chỉ tập trung nêu lên những vấn đề chính Việt Nam sẽ phải đối mặt, phải giải quyết trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ này. Với suy nghĩ cho rằng làm rõ được những vấn đề đặt ra là việc phải làm trước khi suy nghĩ về các giải pháp. Vì vậy bài viết này không đề cập tới, mà xin dành việc bàn về các giải pháp cho các dịp khác. Với tất cả tinh thần trách nhiệm của mình, người viết bài này đưa ra cách nhìn riêng về một số vấn đề, để ai quan tâm thì tham khảo. Hiểu biết và điều kiện làm việc rất giới hạn, nên những ý kiến trong bài chắc chắn có nhiều thiếu sót, mong được bổ khuyết.)

    Vấn đề đặt ra

    Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận. Cần nhận định dứt khoát như vậy để rỡ bỏ mọi rào cản, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Cần nhận định dứt khoát như vậy trước khi tìm hiểu những vấn đề đặt ra cho Việt Nam phía trước trên con đường phát triển của mình.

    Mặt khác cũng phải tỉnh táo nhận thấy, so ta với chính ta trước kia, những thành tựu đạt được trong 25 năm qua là rất to lớn; nhưng nếu so với chặng đường 25 năm đầu tiên trên con đường trở thành NIC (nước mới công nghiệp hóa) của Hàn Quốc, Đài Loan.., nước ta phát triển như thế là chậm, so với những thách thức hiện tại và phía trước nước ta phải đối mặt lại càng chậm. Nên có cái nhìn nhiều chiều như vậy để định liệu công việc của mình, và nhờ đó có thể “đỡ” rơi vào cái bệnh “mẹ hát con khen hay”!

    Việt Nam bước vào thập kỷ 2020 đúng vào lúc kinh tế thế giới – trước hết là những nền kinh tế lớn mà đầu tầu là kinh tế Mỹ - đang tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. Trong khi đó Trung Quốc đang dấn bước vào thập kỷ 2020 với mọi nỗ lực quyết liệt nhất để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường vào giữa thế kỷ này; giới nghiên cứu trên thế giới hầu như chia sẻ nhận định chung: Thập kỷ 2010 đánh dấu bước ngoặt mang tính thời đại của Trung Quốc trên con đường đi tới siêu cường, thập kỷ 2020 hiện tượng Trung Quốc sẽ còn nóng bỏng hơn nữa trên trường quốc tế .

    Như vậy, thập kỷ 2020 đến với Việt Nam với ba đặc điểm:

    (1) thế giới đang tìm đường ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay, trên thực tế là đang phải tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới khác trước,

    (2) hiện tượng Trung Quốc trên con đường trở thành siêu cường ngày càng trở nên nóng bỏng trên trường quốc tế - nhất là tại khu vực, và

    (3) Việt Nam vừa phải thích nghi với bối cảnh thế giới mới rất quyết liệt so với trước, đồng thời vừa phải tự mình tìm đường chuyển sang một giai đoạn phát triển cao hơn để có thể đứng vững trong tình hình mới.

    3 đặc điểm của thập kỷ 2020 vừa trình bầy trên đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức mới, tới mức có thể nói:

    Kể từ khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, do đòi hỏi trong nước và bối cảnh quốc tế mới, chưa bao giờ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và tương lai phát triển của đất nước phải đối phó với nhiều thử thách nguy hiểm và quyết liệt như ngày nay. Cụ thể là con đường phát triển của đất nước ta đang đặt ra nhiều đòi hỏi gắt gao, đồng thời cục diện quốc tế và khu vực đang đi vào một bước ngoặt đặt nước ta trước nhiều thách thức mới. Tất cả tạo nên sức ép căng thẳng bên ngoài và bên trong, đòi hỏi cả nước phải dấn lên đối mặt.

    Chỉ cần nhìn vào bức tranh thế giới, bản đồ địa chính trị hiện thời của khu vực nước ta với một Trung Quốc đầy tham vọng, và nhìn vào các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, vào các vấn đề an ninh quốc phòng, vào những đòi hỏi của phát triển và cạnh tranh.., sẽ thấy rõ những điều vừa trình bầy. Tính chất quyết liệt của chặng đường nước ta phải đi trong thập kỷ 2011-2020 là: Làm chủ được tình hình này sẽ tạo ra thời cơ lớn cho tương lai của đất nước, thất bại trong xử lý tình hình này, đất nước đi vào con đường đầy hiểm họa.

    “Cách đây đúng 151 năm, năm 1858, thực dân Bồ Đào Nha và thực dân Pháp nã súng đánh thành Đà Nẵng, dẫn đến 80 năm mất nước, dân tộc ta phải chịu ách nô lệ. Nguyên nhân chủ yếu không phải vì dân tộc ta và triều Nguyễn hồi đó yêu nước kém ngày nay, chiến đâu kém dũng cảm hơn ngày nay! Muôn ngàn lần không phải như vậy! Song mất nước có thể coi như là tất yếu, bởi lẽ nước ta so với kẻ địch tụt hậu hẳn một giai đoạn phát triển. Ngày nay, kinh tế nước ta nếu tiếp tục đi sâu vào cơ cấu các sản phẩm thượng nguồn như đang làm bô-xít, sớm muộn sẽ rơi vào nguy cơ thành bãi thải công nghiêp. Đồng thời nước ta đang phải đối phó với 3 nguy cơ khác nữa; đó là: sự o ép từ bên ngoài, sự xâm lăng về văn hóa, sự tàn phá của môi trường tự nhiên do không được bảo vệ thỏa đáng. Cả 4 nguy cơ này có thể dấn nước ta vào một tình trạng tụt hậu nguy hiểm, đến lúc nào đó có thể sẽ tạo ra cho nước ta một sự nô dịch mới – sự nô dịch của nghèo nàn và lạc hậu, của lệ thuộc, sự nô dịch không có chủ nghĩa thực dân. Đừng để cho việc khai thác bô-xít góp phần làm tăng thêm những nguy cơ này.”

    Nguyễn Trung, tham luận tại hội thảo 09-4-2009 về bô-xít Tây Nguyên, do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.

    Dưới đây xin trình bầy một số vấn đề chính có liên quan.

    I. Những nét mới nổi bật trong bối cảnh quốc tế liên quan mật thiết đến nước ta (trong phạm vi bài này không bàn rộng ra những vấn đề khác)

    Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn cả về kinh tế và chính trị, không náo nhiệt như khi chiến tranh lạnh kết thúc, song hầu như tác động sâu sắc hơn nhiều đến mọi quốc gia. Thậm chí tại nhiều nước – kể cả Mỹ - cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay tác động trực tiếp đến từng gia đình.

    Cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới đang diễn ra là vô tiền khoáng hậu. Sau một năm ròng rã (09-2008 tới 09-2009) đánh vật với cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế lớn đã phải bỏ ra tổng cộng ước khoảng trên 10 nghìn tỷ USD (tương đương với 2/3 GDP của cả nước Mỹ và với 1/6 GDP toàn thế giới), đồng thời phải tiến hành nhiều liệu pháp đau đớn mang tính điều chỉnh vỹ mô và hệ thống để cứu chữa. Hiện nay cuộc khủng hoảng này được xem là đã chạm đáy; nhưng lối ra có lẽ sẽ phải mất nhiều năm, hiện vẫn chưa xác định được; nguy cơ lại xảy ra khủng hoảng mới ngấp nghé.

    Chưa ai dám nói bao giờ và như thế nào kinh tế thế giới sẽ phục hồi và lấy lại được sự phát triển năng động đã có như trong một hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, có khá nhiều người trong giới nghiên cứu chia sẻ ý kiến:

    1. kinh tế thế giới hiện nay vừa phải khắc phục sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bong của hệ thống tài chính tiền tệ thế giới, đồng thời về nhiều mặt đang phải đối phó với một cuộc khủng hoảng thừa rất sâu sắc có những thuộc tính cơ cấu , còn nhiều vấn đề nan giải chưa lường hết được; một khi kinh tế thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng này, có lẽ nó sẽ không thể giữ nguyên cấu trúc và sự vận hành như trước nữa – nói cụ thể hơn: trong và sau cuộc khủng hoảng này của kinh tế thế giới, các quốc gia sẽ không thể giữ nguyên cách làm ăn như lâu nay (kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc),

    2. cơ cấu sản phẩm trong mỗi quốc gia sẽ dần dần có những thay đổi lớn theo hướng quan tâm hơn nữa đến sự bền vững của thị trường nội địa mỗi nước và của môi trường, nghĩa là sẽ xuất hiện những điều chỉnh vĩ mô.

    3. hệ thống tài chính tiền tệ thế giới đang có những xáo trộn lớn, buộc phải cải tổ cơ bản để hạn chế những rủi ro - đặc biệt là trên 2 vấn đề: (1)sự suy yếu ngày càng nhanh chóng của đồng USD và (2)vai trò đang nổi lên đầy tính lũng đoạn của đồng Nhân dân tệ (Trung Quốc);

    4. phải tăng cường hơn nữa vai trò điều tiết của nhà nước để hỗ trợ “bàn tay vô hình” của thị trường; khung khổ WTO tuy vẫn được duy trì, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cọ sát mới gay gắt hơn,

    5. phải sớm có các chính sách và biện pháp thân thiện hơn với môi trường tự nhiên để giảm thiểu các đại họa, tại nhiều nước đã phải hướng mạnh tới nền kinh tế có hàm lượng carbon thấp...

    6. phải thay đổi nhiều điều quan trọng trong tư duy kinh tế; một số học giả nổi tiếng như Krugman, Stiglitz, Fukuyama, thượng nghị sỹ Max Baucus... cho là kinh tế học hiện đại có nhiều điểm lỗi thời.

    6 điểm nêu trên cho thấy kinh tế thế giới hiện nay đi vào thời kỳ khủng hoảng sâu sắc mang tính hệ thống với những dấu hiệu chuyển sang một thời kỳ phát triển khác.

    Trong khi đó cục diện quốc tế có hai hiện tượng nổi bật nhất kết thúc thời kỳ hậu chiến tranh lạnh:

    (a) sự suy yếu nhanh chóng của siêu cường Mỹ, và

    (b) vai trò ngày càng nổi lên của các cường quốc khác – trước hết là Trung Quốc, rồi đến Nga, Ấn Độ.

    * * *

    Về Mỹ: Chiến tranh Iraq và chiến tranh chống khủng bố - trước hết là chống Al-Qeada - Taliban – không đem lại kết quả như Mỹ đề ra, thậm chí chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm, cùng với tình trạng từ năm 2008 Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế nặng nề nhất trong lịch sử quốc gia này, đã dẫn tới Mỹ phải điều chỉnh căn bản chiến lược toàn cầu của mình. Mức độ điều chỉnh gay cấn đến nỗi Singapore cho rằng Mỹ đang tạo ra khoảng trống cho Trung Quốc hoành hành ở châu Á.

    Để hiểu rõ thực trạng kinh tế Mỹ trong khủng hoảng hiện nay, xin trích dẫn phân tích sau đây của Francis Fukuyama: “ ...Chỉ riêng từ năm 2001 đến năm 2008, (trước đó không tính) hơn 5 nghìn tỷ USD tiền tiết kiệm của nước ngoài đã đổ vào nền kinh tế giầu nhất thế giới – nước Mỹ, thúc đẩy một cao trào đi vay và kích thích quá mạnh chi tiêu của các hộ gia đình cũng như các tập đoàn. Mức độ nợ liên tục gia tăng và ở mức rất cao: khi xảy ra suy thoái đầu thập kỷ 1980 tổng nợ tư nhân (hộ gia đình và các tập đoàn, công ty) mới chỉ là 123% GDP, nhưng đã vọt lên 290% GDP năm 2008. Trong khoảng thời gian này, riêng nợ của các hộ gia đình là 48% GDP đầu thập kỷ 1980 đã vọt lên tới 100% GDP vào năm 2008. Vì vậy mọi cố gắng của Quỹ dự trữ Liên bang (FED) tung tiền ra để tăng thêm khả năng thanh toán của nước Mỹ chẳng còn mấy hiệu quả. Các hộ gia đình và các tập đoàn lâm vào tình trạng suy sụp kéo dài hơn các thời kỳ suy thoái trước. Người Mỹ bắt đầu phải học để trở thành người tiết kiệm, nhất thiết phải như vậy. Nhưng việc tỉnh táo quay trở lại với nghịch lý nổi tiếng của Keynes về sự tằn tiện lại gây ra cho nước Mỹ bệnh thiếu máu!..” – xem trong: Thinking About the Future of American Capitalism, Francis Fukuyama

    Sự điều chỉnh này của Mỹ thực chất là sự thoái lui một bước quan trọng có tính bắt buộc trong chiến lược toàn cầu so với thời George W. Bush, nguyên nhân chủ yếu là lực bất tòng tâm. Mỹ hiện nay vẫn còn là siêu cường số 1, song vai trò và ảnh hưởng của nó giảm sút đáng kể so với thời kỳ hậu chiến tranh lạnh.

    Hiện tượng Obama thắng cử không đơn thuần chỉ là một thắng lợi độc nhất vô nhị cho đến nay của thể chế dân chủ Mỹ và trên thế giới. Sâu xa hơn thế, hiện tượng Obama nói lên tầm vóc điều chỉnh chiến lược chưa từng có kể từ sau chiến tranh thế giới II mà Mỹ phải chấp nhận.

    Điều đáng chú ý là so với tất cả mọi thời kỳ khác kể từ chiến tranh thế giới II kết thúc, siêu cường Mỹ trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh chiếm vị thế quốc tế cao nhất trong toàn bộ lịch sử của nó. Song chính trong thế thượng phong này của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, siêu cường Mỹ đã chịu nhiều thất bại và tổn thất nhất, đã sa sút nhanh nhất so với tất cả các thời kỳ trước đó kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới II. Nguyên nhân chủ yếu là “tham vọng và gánh nặng đế chế” quá lớn cùng với sự đổ vỡ thảm hại của chủ nghĩa tân tự do trong kinh tế. Sự thoái lui này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc phát triển “rất nóng” trên con đường trở thành siêu cường, vì thế trên thế giới đang manh nha những biến động chao đảo của quá trình hình thành một trật tự mới, nhiều quốc gia sẽ chịu tác động – trong đó có nước ta. Tình hình quyết liệt tới mức chưa bao giờ sách báo và các phương tiện truyền thông Mỹ lại đầy rẫy như hiện nay các nhận định, đánh giá nói về Hiện tượng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trở thành chủ nghĩa tư bản toàn trị đặc sắc Khổng giáo, về Sự giới hạn của quyền lực Mỹ, về Chiến lược toàn cầu của Washington đang hủy hoại nước Mỹ, về Triển vọng chẳng lấy gì làm sáng sủa của Obamanomics, về Sự cáo chung của đế chế Mỹ, vân vân, - và về Thế giới trong thập kỷ tới này nghiêng về phương Đông!

    Hiện tượng Obama cũng đồng thời cho thấy Mỹ quyết tâm thay đổi và có lẽ có thể thay đổi được – chính điều này cho phép Mỹ sẽ còn tiếp tục duy trì được – dù không còn mạnh như trước - vị trí siêu cường số 1 trên bàn cờ của một thế giới đang tiến vào cục diện một siêu đa cường. Sự điều chỉnh của Obama trong kinh tế thông qua các luật pháp mới và gói kích thích (stimulus) thực chất là một cuộc xắp xếp lại và điều chỉnh lại nền kinh tế. Rất nhiều khó khăn còn ở phía trước, và tiếng nói trong nước Mỹ chỉ trích cái gọi là Obamanomics không phải là ít. Đơn giản là cuộc cải cách nào cũng đau đớn; bởi vì trong phạm vi nguồn lực có hạn xóa sổ ai, cứu ai đều vấp phải cọ sát gay gắt. Hiện tượng Obama đánh dấu một thời kỳ thay đổi sâu sắc đang diễn ra sôi động ở tất cả các nước phát triển trong thế giới phương Tây – mới đây nhất là sự kiện ngày 30-08-2009 thủ tướng Yukio Hatoyama đảng Dân Chủ ở Nhật thắng cử và lên cầm quyền, chấm dứt thời kỳ đảng Dân chủ Tự do ngự trị chính quyền Nhật hơn nửa thế kỷ!

    Nét nổi bật của điều chỉnh chiến lược toàn cầu của nước Mỹ Obama là: Mỹ quyết rút khỏi Iraq để tập trung vào các vấn đề như mặt trận chống Al-Qaeda – Taliban tại Afghanistan, vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran, vấn đề vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên... Ngày 17-9-2009 Mỹ đi thêm một nước cờ chiến lược nữa là quyết định rút bỏ kế hoạch lá chắn tên lửa Châu Âu để tăng thêm hòa hoãn với Nga (đã được Nga hưởng ứng) và tập trung cố gắng tìm kiếm các khả năng xử lý vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran. Bước đi này còn nhằm phân hóa bớt các thế lực gây sức ép khác đối với Mỹ. Quan hệ Mỹ - Nga ấm hẳn lên cho thấy tầm vóc của quyết định 17-09-2009. Khả năng nâng quan hệ với Nga để tranh thủ thêm điều kiện đối phó với Iran đang được Mỹ tính đến. Những cải cách trong đối nội của nước Mỹ đang diễn ra càng làm rõ những thay đổi trong chiến lược đối ngoại của nước này.

    Có thể nói cải cách, thay đổi theo cái mới là việc diễn ra thường xuyên và liên tục năm này qua năm khác ở các nước phương Tây. Tuy nhiên những thay đổi qua cuộc khủng hoảng này thực sự là một đợt cải cách sâu rộng. Đặc biệt tại Mỹ, công việc điều chỉnh vỹ mô hiện nay có lẽ quyết liệt hơn các cường quốc phương Tây khác, được bắt đầu từ cải cách giáo dục, đổi mới việc đào tạo nguồn nhân lực, đặt lại cách nhìn về “outsourcing” (lấy nguồn từ bên ngoài) và cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế Mỹ trong tình hình mới (nhất là trước tình hình sản phẩm Trung Quốc ngày càng thôn tính thị trường Mỹ), cải cách mạnh mẽ các thể chế về tài chính, bảo hiểm y tế, về điều hành kinh tế, v.v... Nói chung là không thể phó thác cho “laissez faire” với bất kỳ giá nào của “chủ nghĩa tân tự do” như đã diễn ra trong mấy thập kỷ vừa qua. Việc Mỹ ngày 11-9-2009 quyết định áp mức thuế 35% (mức cũ là 4%) đối với lốp xe hơi nhập từ Trung Quốc, không đơn thuần chỉ là một hành động “trả miếng”, mà còn liên quan mật thiết đến việc xem lại chủ trương “outsourcing” (lấy nguồn lực từ bên ngoài) hiện nay. Tóm lại, có thể nói: Nội dung cơ bản nhất của điều chỉnh vỹ mô ở Mỹ hiện nay là chia tay với trạng thái cực đoan vừa qua của chủ nghĩa tân tự do, hướng mạnh hơn vào nền kinh tế carbon thấp, tăng cường vai trò kinh tế trong thị trường nội địa. Vì những lẽ này, gọi đấy là sự điều chỉnh mang tính hệ thống. Còn có thể nói một cách khác: Đó còn là sự điều chỉnh có nhiều dân chủ hơn.

    Từ tình hình trên, có thể thấy phát biểu của Tổng thống Obama tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 23-0-2009 "...đã đến lúc thế giới chuyển sang một hướng mới. Chúng ta phải dấn thân vào một thời đại tiếp cận mới dựa trên quyền lợi chung và cùng tôn trọng nhau..." không đơn thuần là một lời nói ngoại giao, mà hàm ý rõ ràng kêu gọi cộng đồng các quốc gia trên thế giới nỗ lực cho một cách sống chung mới. Phát biểu này đánh đi tín hiệu khá rõ: Chính Mỹ cũng đang tìm cách ứng xử mới trong thế giới ngày nay.

    Liên quan đến Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông, nhiều lần các nhà quân sự Mỹ tuyên bố (ngay từ cuối thời George W. Bush): Mỹ đứng ngoài việc tranh chấp biển đảo ở khu vực này, miễn là giữ được thông thương tự do trên eo biển Malacca, các quyền lợi của Mỹ ở khu vực này được bảo đảm, và không được đụng chạm đến Đài Loan. Có thể hiểu đây sẽ là ranh giới cuối cùng Mỹ sẽ có thể chấp nhận một khi tình hình đòi hỏi bắt buộc phải như vậy.

    Mặt khác Mỹ khuyến khích giải quyết những đề tranh chấp trên Biển Đông trên diễn đàn đa phương giữa các nước liên quan ở Đông Nam Á. Trong cuộc nghe điều trần của về Biển Đông tháng 7-2009, Thượng viện Mỹ đã bầy tỏ mối quan ngại sâu sắc của Mỹ về tình hình Trung Quốc ngày càng lấn át về kinh tế và quân sự ở khu vực này. Cuộc điều trần này cho thấy Mỹ chủ trương phải có thái độ chủ động hơn đối với các nước trong khu vực Biển Đông, “...từ quan hệ về chính sách đến đối thoại về chiến lược, lên tới tầm mức hoạt động quân sự, bằng cách gia tăng khả năng quân sự cho các nước đối tác. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng tăng cường hoạt động ngoại giao quân sự với Trung Quốc, gia tăng đối thoại để tránh nguy cơ tính toán sai lầm gây xung đột bất ngờ”.

    Trong khi đó, tại cuộc họp ASEAN - Mỹ 24-07-2009 ngoại trưởng H. Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với ASEAN.

    Cũng không thể bỏ qua một thực tế khác là trong quan hệ song phương Mỹ - Trung hiện nay, phía Mỹ cũng chủ động đẩy mạnh xu thế hòa hoãn.

    Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung (khai mạc phiên đầu tiên tại Washington 27-09-2009) đã thực sự trở thành diễn đàn G2 mà nhiều đồng minh của Mỹ không muốn. Tại diễn đàn này Obama nói “Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ định hình cho thế kỷ 21… Đây là trách nhiệm mà hai bên phải gánh vác.” Trong điện chúc mừng phiên họp đầu tiên của diễn đàn này, Hồ Cẩm Đào viết: “Cả Trung Quốc và Mỹ gánh vác trên vai trách nhiệm quan trọng về những vấn đề trọng đại liên quan đến hòa bình và sự phát triển của nhân loại.”.

    Chắc chắn rồi đây lúc hòa hoãn, lúc căng thẳng, song phía Mỹ sẽ vẫn có các bước đi tiếp mở rộng quan hệ với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, bên nào cũng có thừa khôn ngoan giành cái lợi về cho mình.

    Như vậy có thể thấy chính sách đa dạng của Mỹ nói trên đối với khu vực Biển Đông sẽ còn tùy thuộc đáng kể vào chính thái độ các nước ASEAN (đối với Mỹ và Trung Quốc), đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của quan hệ Mỹ - Trung.

    * * *

    Về Trung Quốc: Sự lớn mạnh của Trung quốc với tính cách là “công xưởng của thế giới” đang thúc đẩy khát vọng của Trung Quốc đi nhanh trên con đường trở thành siêu cường, dự kiến khoảng năm 2050, mặc dù kinh tế và nội trị Trung Quốc còn rất nhiều vấn đề nhạy cảm, thậm chí rất nhạy cảm.

    Sẽ là phiến diện trong đánh giá Trung Quốc nếu bỏ qua những vấn đề nhạy cảm luôn luôn xuất hiện trong kinh tế và trong nội trị của quốc gia này. Báo chí nước ngoài nhận xét: Cái yếu nhất của Trung quốc là Trung Quốc là nước của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (Willi Lam), chính vì lẽ này Trung Quốc không thể trở thành siêu cường với nghĩa lãnh đạo thế giới. Thậm chí cần thấy rõ trong quá trình phát triển của nó, quốc gia này luôn luôn đứng trước không ít những vấn đề nan giải về phân hóa và bất công xã hội, về khoảng cách giầu nghèo quá lớn, nguy cơ phân rã, sự mong manh của hệ thống ngân hàng tài chính tiền tệ, những thách thức thường trực đối với hệ thống chính trị... Thực tế này giải thích tại sao Trung Quốc sẵn sàng thực hiện các biện pháp cực đoan không tưởng tượng nổi và chưa từng có như “cách mạng văn hóa”, “sự kiện Thiên An Môn”, chính sách đối với Tân Cương và Tây Tạng... Nhạy cảm lớn nhất đối với hệ thống chính trị của Trung Quốc là vấn đề dân chủ. Điều cần chú ý: Trung Quốc là một thế giới cho chính nó, nghĩa là trong tình hình cấp thiết, Trung Quốc có thể huy động mọi khả năng và lực lượng có thể, để chế ngự và kiểm soát tình hình nội tại; Trung Quốc có thể làm tất cả mọi việc rất cực đoan với cách nghĩ “mục tiêu biện minh cho mọi biện pháp”, chấp nhận trả giá ghê gớm để giành được mục tiêu Trung Quốc muốn... Lịch sử cho thấy Trung Quốc đã làm được một số việc cực đoan và đẫm máu như vậy. Lịch sử còn chứng kiến, khi nội bộ có khó khăn hoặc cần giải quyết một yêu cầu chính trị nào đó, Trung Quốc thường hướng “ngòi nổ” ra bên ngoài, đó là lúc tiến hành cách mạng văn hoá thì giương cao ngọn cờ chống đế quốc “gió Đông thổi bạt gió Tây”; khi tiến hành cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam tháng 2-1979 thì gương cao ngọn cờ chống tiểu bá và dậy cho Việt Nam bài học…

    Với nguồn tài nguyên Trung Quốc đem về bằng mọi cách từ khắp nơi trên thế giới, trước hết là từ châu Phi và châu Mỹ Latinh, Úc.., Trung Quốc hiện nay đứng đầu thế giới trong sản xuất nhiều nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, đồng, nhôm, ciment..; là cường quốc thứ nhất trong xuất khẩu tầu biển, là cường quốc thứ hai sau Mỹ trong xuất khẩu ô-tô, trong vòng một vài năm tới GDP kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ vượt Nhật ...

    Báo chí thế giới thừa nhận Trung Quốc thành công vượt xa chủ nghĩa thực dân mới của phương Tây tại châu Phi, Mỹ Latinh và một số nơi khác trên thế giới (trong đó có Đông Nam Á...). Những khoản viện trợ lớn của chính phủ Trung Quốc dành cho các quốc gia này với danh nghĩa “không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước nhận viện trợ”. Trên thực tế là Trung Quốc quan hệ trực tiếp và ủng hộ giới thống trị ở những quốc gia này, bất luận bản chất những chế độ này như thế nào. Phương thức hợp tác song phương như vậy của Trung Quốc tại những quốc gia này đang mang lại nhiều kết quả lớn cho Trung Quốc (tuy nhiên gần đây một số nước châu Phi đã phản ứng chống lại sự tham lam thái quá của Trung Quốc). Hơn thế nữa, hiện tượng Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế ngày càng quan trọng với Iran, Iraq, với các nước và lực lượng “cánh tả” (chống Mỹ) ở châu Mỹ Latinh – nơi được coi là sân sau của Mỹ - đang làm cho Mỹ và phương Tây lo lắng.

    Bàn về sự thành công của Trung Quốc, có thể tham khảo các bài:

    - China mixes rice and neo-colonialism http://paguntaka.org/2006/10/07/china-mixes-rice-and-neo-colonialism/

    - China and Neo-Colonialism in Africa: A Warning from South Africa

    - Larry Catá Backer, “The Problems of Being a great Power: China and Neo-Colonialism in Africa, Law at the End of the Day, Nov. 22, 2006.

    - “Mbecki Warns on China-Africa Ties, BBC News, Dec. 14, 2006.

    - Andrew Bast: “China Safari: On the trail of Beijing’s Ex[pansion in Africa – by Serge Michel and Michel Beuret” – bài bình đăng trong World Politic Review ngày 18-09-2009 của hai tác giả người Pháp này, trêm trang:
    http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2009]08/14/AR2990081401094.pf.html

    - Bài của Andrew Bast bình về cuốn sách “China Safari...” đã được dịch ra tiếng Việt dưới tiêu đề: “Chủ nghĩa thực dân Trung Quốc vận hành không cần tư tưởng”, đăng trên trang: http://bauxitevietnam.info/c/9949.html

    - “East Timor hit over 'dirty' power plants” http://www.theage.com.au/world/east-timor-hit-over-dirty-power-plants-20090403-9qqc.html

    Và nhiều bài khác về chủ đề này.

    Những bài nói trên toát lên những ý chính sau đây:

    Với danh nghĩa “không can thiệp vào công việc nội bộ”, Trung Quốc không đặt ra những đòi hỏi về dân chủ hay nhân quyền, hay những đòi hỏi về chấm dứt chiến tranh sắc tộc, nội chiến, về bảo vệ môi trường... đối với các nước nhận viện trợ ở châu Phi, châu Mỹ Latinh... (đặc biệt là đối với Sudan trong vấn đề tàn sát sắc tộc ở Dafur, và đối với nội chiến ở Congo...); Trung Quốc cũng không quan tâm đến những quy định cấm đoán có liên quan của Liên Hiệp Quốc. Trong khi đó các nước phương Tây coi những đòi hỏi nêu trên là chuẩn mực cho hợp tác của họ với những quốc gia này.

    Nói khái quát: Viện trợ chính phủ, xóa nhiều khoản nợ lớn, quà biếu, xuất khẩu nguồn nhân lực dồi dào, cùng với sự hậu thuẫn mãnh mẽ từ phía chính phủ Trung Quốc cho các công ty của họ hoạt động theo phương thức đổi các công trình kết cấu hạ tầng lấy tài nguyên và đất đai... và nhiều phương thức khác, đã giúp cho Trung Quốc thu về được những nguồn nguyên liệu to lớn và làm chủ nhiều khu mỏ quan trọng tại những nơi này. Nạn tham nhũng và quan liêu trầm trọng của nhiều quốc gia nhận viện trợ cũng tự nó góp phần đáng kể vào sự thành công của Trung Quốc. Các nước nhận viện trợ này phát triển ra sao, đời sống của nhân dân những nước này có được cải thiện gì không... không phải là những vấn đề Trung Quốc quan tâm. Tại một số nơi đã xảy ra bất mãn và chống đối của nhân dân với chính quyền tại chỗ, đụng độ giữa lao động Trung Quốc và dân địa phương - có khi rất nghiêm trọng như ở Algérie...

    Với phương thức “Ít ý thức hệ thôi, trước hết vì lợi nhuận!” chủ nghĩa thực dân của Trung Quốc đang thành công vượt hẳn Anh và Mỹ trước đây (Serge Michel và Michel Beuret)...

    Một sự kiện đang gây nhiều sự chú ý trong ngoại giao là trong khi Đại sự quán Trung Quốc ở Dili (thủ đô Đông Timor) nỗ lực tuyên truyền trong dư luận quốc tế về quan điểm “thắng – thắng” thể hiện qua sự viện trợ hào phóng của Trung Quốc cho Đông Timor và sự hợp tác tốt đẹp giữa hai quốc gia này, thì Tòa án Hiến pháp Đông Timor vừa qua đã bác bỏ một dự án nhiệt điện do Trung Quốc làm chủ đầu tư mà thủ tướng Đông Timor đã phê duyệt, lý do: đắt, công nghệ quá lạc hậu, gần như mua sắt vụn, gây ô nhiễm môi trường nặng nề. Hiện nay, nhiều tổ chức phi chính phủ ở Đông Timor đang lên án nhiều dự án khác do Trung Quốc đầu tư – trong đó có nhà máy điện hạt nhân – không thông qua đấu thầu rõ ràng... Báo chí nói rõ mọi nỗ lực của Trung Quốc ở Đông Timor là nhắm vào các mỏ dầu phong phú của quốc gia này.

    Vân Vân...

    Liên quan đến Việt Nam nên tìm đọc toàn bộ quá trình phản biện của cả nước và các trí thức người Việt ở nước ngoài về việc Trung Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.

    Với nguồn dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (2100 tỷ USD) Trung Quốc đang tìm cách thay đổi hệ thống tiền tệ thế giới. Trước mắt Trung Quốc chưa thể “hạ bệ” đồng USD (hiện nay vẫn còn chiếm tới 60% tổng giao dịch tiền tệ và thương mại trên thế giới). Song với tư cách là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, đang nắm giữ khoảng 60% trái phiếu và những giấy tờ có giá khác của Mỹ , Trung Quốc đòi hỏi đồng nhân dân tệ cũng phải được coi là phương tiện thanh toán quốc tế. Đòi hỏi này bị bác bỏ tại cuộc họp G20 (London 02-04-2009) với lý do đồng nhân dân tệ chưa phải là đồng tiền chuyển đổi tự do. Trung Quốc chuyển sang chiến thuật mới là đòi nâng cao vai trò của Trung Quốc tham gia vào “quyền rút vốn đặc biệt” (SDR – một đơn vị được coi như là tiền của IMF) để làm yếu và tiến tới thay thế dần đồng USD. Đồng thời Trung Quốc áp dụng các biện pháp đòi các nước có quan hệ buôn bán với Trung Quốc trực tiếp dùng đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trong quan hệ song phương, một số nước đã chấp thuận. Có thể nói đây là một bước mới bổ sung quan trọng cho việc mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới – đặc biệt là quyền lực mềm.

    Trong số hàng nghìn tập đoàn kinh tế của Trung Quốc đã có nhiều tập đoàn lọt vào danh sách các nhóm TNCs top 100, TNCs top 50 của thế giới, trong đó phải kể đến tập đoàn dầu khí PetroChina có số vốn vượt 1000 tỷ USD và trở thành TNC đứng đầu thế giới về quy mô vốn.

    Tình hình vừa trình bầy trên cho thấy chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc ngày càng tự bộc lộ ra là chủ nghĩa tư bản Trung Hoa thời nay trong hệ thống chính trị một Đảng. Đấy chính là chủ nghĩa tư bản toàn trị với đặc trưng Khổng giáo.

    Thế giới, nhất là các nước láng giềng của Trung Quốc, ngày càng lo ngại trước hiện tượng Trung Quốc cũng đang trên đường trở thành siêu cường quân sự - đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

    Bình luận trên nhật báo Giải phóng quân Nhân dân (Trung Quốc) ngày 12-03-2009, Hoàng Thôn Luận viết:

    “...Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tầu chở dầu của Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ… Quyền lợi quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh của lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến đấy!.. Đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia của chúng ta.”

    Ngân sách quốc phòng hàng năm của Trung Quốc hai thập kỷ nay thường xuyên tăng 2 con số (từ 10 đến 17%/năm). Số liệu thống kê chính thức của Trung Quốc cho biết chi tiêu quốc phòng của nước này năm 2007 ước khoảng 70 tỷ USD. Song theo đánh giá của Bộ Quốc phòng Mỹ, của RAND - cơ quan nghiên cứu của Mỹ, và của RAW (Research and Analysis Wing) – cơ quan nghiên cứu của Ấn Độ, thực chi cho ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2007 ước khoảng 138 – 156 tỷ USD, đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới – nghĩa là ước khoảng 1/4 – 1/3 ngân sách quốc phòng của Mỹ, vượt Nga, gấp 5 lần của nước Anh, và bỏ xa Ấn Độ... Ngày 21-09-2009 Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tuyên bố nước này có hầu hết mọi hệ thống vũ khí hiện đại của các nước phương Tây.

    Trung Quốc đang trở thành cường quốc vũ trụ. Hiện nay Trung Quốc đang đẩy mạnh xây dựng hải quân nước xanh (hoạt động tầm đại dương với hàng không mẫu hạm đang mua của Nga hoặc tự đóng lấy). Trong chuyến đi thăm Trung Quốc đầu năm 2009 của đô đốc Mỹ Timothy Keating, phía Trung Quốc đặt thẳng vấn đề để Trung Quốc quản lý Thái Bình Dương từ đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ sẽ quản lý Thái Bình Dương từ Hawaii về phía Đông. Keating đã đáp lại: “No, Thanks!”. Riêng trên Biển Đông hải quân Trung Quốc giữ vị thế áp đảo, với mục tiêu trước mắt là “cái lưỡi bò”.

    Trên nhiều phương diện, hiện tượng Trung quốc trên đường trở thành siêu cường đang là vấn đề nóng bỏng và rất phức tạp của cả thế giới. Giáo sư Thôi Lý Nhũ, chủ tịch Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại (CICIR – Bắc Kinh), một viện nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc tầm cỡ quốc tế, đầu năm nay phát biểu thẳng thắn trước giới học giả nước ngoài: “Mười năm qua Trung Quốc đã phát triền từ một vị thế tương đối thấp lên một vị thế tương đối mạnh, vì vậy những xung đột giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài không đặc biệt quyết liệt lắm (not particularly vehement). Tuy nhiên, trong vòng mười năm tới, Trung Quốc sẽ đi tiếp từ vị thế tương đối mạnh hiện nay lên một vị thế còn mạnh hơn nữa. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thế giới sẽ còn lớn hơn nữa – và nỗi lo của thế giới về Trung Quốc cũng sẽ tăng theo...”

    Trên thế giới, kể cả Mỹ, không ai đặt vấn đề đối đầu với Trung Quốc. Nhưng tất cả các quốc gia đều phải cùng nhau hay riêng lẻ nỗ lực tìm cách ứng xử và đối xử thích hợp nhất với hiện tượng Trung Quốc trong thế kỷ 21 này sao cho phù hợp với xu thế tiến bộ chung của loài người. Đó còn là phương thức hữu hiệu nhất, khuyến khích hay bắt buộc Trung Quốc cũng phải thích nghi với trào lưu chung của thế giới.

    (còn nữa)

    Từ khóa: Nguyễn Trung

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Văn hóa được bàn đến trong bài chứ sao không? Phần công nghiệp không thuần kinh tế, yếu tố con người được nêu lên tuy không đề cập về vai trò của công đoàn.

    Trích dẫn:
    Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận. Cần nhận định dứt khoát như vậy để rỡ bỏ mọi rào cản, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Cần nhận định dứt khoát như vậy trước khi tìm hiểu những vấn đề đặt ra cho Việt Nam phía trước trên con đường phát triển của mình.

    Trong phần mở đầu, tóm tắt định hướng của bài chỉ nhấn mạnh việc công nhận những tiến bộ do đổi mới mà thiếu phần nhìn nhận những bất cập trong xã hội. Bài tuy rất hay và khá dài nhưng (do vô tình hay cố ý?) lại không nói đến hoặc đề cập quá vắn tắt một số các vấn đề quan trọng, hiện tình nội trị, văn hóa, xã hội mà VN đang đối mặt. Cụ thể là (và ai cũng biết):

    - Tham nhũng
    - Quan liêu
    - Luật pháp
    - Lòng dân
    - Nếp sống văn hóa
    - Môi trường sống
    - Y tế, sức khỏe

    Biết rằng tựa đề do tác giả đặt ra "Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21" hàm ý bài đặt nặng về đối ngoại nhưng lãnh vực này dĩ nhiên tương tác với nội trị, hơn nữa người xưa đã dạy "biết người, biết ta". Phân tích, tìm hiểu, chuẩn bị cho việc đi tìm giải pháp mà chỉ chú trọng một mặt còn mặt kia bỏ qua, thì thật là một thiếu sót trầm trọng.

    Nếu cứ dựa vào cung cách ấy mà đi tìm giải pháp thì e rằng lại sẽ phạm phải những sai lầm mới. Xin lỗi nếu tôi nói sai hoặc quá lời, và xin chỉ giáo.

    Thật ra tác giả cũng đề cập đến công nghiệp và nông nghiệp cũng thuộc về nội trị nhưng lại thuần kinh tế mà thiếu hẳn mặt xã hội, như vấn đề sở hữu đất đai của nông dân, quyền lợi của công nhân, ...

    Xin trích lại các tựa nhỏ cho dễ đọc.

    Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21

    Vấn đề đặt ra

    I. Những nét mới nổi bật trong bối cảnh quốc tế liên quan mật thiết đến nước ta
          - Thế giới
          - Về Mỹ
          - Về Trung quốc
          - Liên quan đền VN

    II. Một số vấn đề đối ngoại đặt ra cho Việt Nam

          1. Vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại hiện nay của các nước trên thế giới
                . . .
                Nói thêm về vấn đề làm bạn với người
                . . .

          2. Một số suy nghĩ về quan hệ Việt – Trung

                2.1. Đại hán, bài Hoa, thần phục Hoa
                2.2. Thực tế quan hệ Việt – Trung hiện nay

    III. Việt Nam đứng trước đòi hỏi sống còn phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới

          1. Một mô hình phát triển theo chiều rộng hiện nay đã đi trọn vòng đời

          2. Tính hiệu quả và chất lượng của phát triển kinh tế ngày càng thấp.

          3. Càng phát triển, nền kinh tế càng tích tụ nhiều ách tắc hay mất cân đối mới, thậm           chí mất phương hướng phát triển

          4. Một số vấn đề lớn trong quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua

                4.1. Trên thực tế chưa có một chiến lược công nghiệp hóa?
                4.2. Hai vấn đề lớn trong xu hướng công nghiệp hóa hiện nay của đất nước
                4.3. Sơ bộ đánh giá một số hệ quả

          5. Vấn đề nông dân trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay
                . . .
                Nông nghiệp bền vững
                . . .

          6. Chuyển sang giai đoạn phát triển mới - giai đoạn phát triển theo chiều sâu - trở           thành đòi hỏi tất yếu của đất nước
                (1) Nói chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu
                (2) Đặt vấn đề như nêu trong điểm (1) là khởi điểm và đồng thời cũng là nền                   tảng...
                (3) Chuyển sang giai đoạn phát triển mới nhất thiết phải cải cách hệ thống                   giáo dục và đào tạo.
                (4) Phải đánh giá lại, quy hoạch và thiết kế lại kết cầu hạ tầng vật chất, kỹ thuật,                   pháp chế và xã hội...
                (5) Phải đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

    Phần kết