Kép Tư Bền - Phản biện bài viết "Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đang 'ăn thịt' chính mình"

  • Bởi Admin
    08/06/2010
    6 phản hồi

    Kép Tư Bền

    Bài viết "Doanh nghiệp xuất khẩu đang 'ăn thịt' chính mình" của tác giả Trần Quang Vũ hầu hết chỉ lặp lại những ý kiến đã được phát biểu, đăng tải trên báo chí, không có điểm nào mới mẻ cả. Hơn nữa, vì thiếu cái nhìn phê phán nên tác giả không nhận thấy trong các ý kiến đó có nhiều điều rất không xác đáng. Xin lấy một vài điểm làm ví dụ.

    1. "Thực tế, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, như khoáng sản, nguyên liệu từ nông, lâm, thủy, hải sản..."

    Tác giả lặp lại cái ý kiến của khá nhiều người rằng kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào xuất khẩu tài nguyên, nhưng lại đèo thêm một đoạn rất láo nháo khi liệt cả các sản phẩm nông, ngư nghiệp vào "tài nguyên thiên nhiên". Lúa gạo, sắn lát, tôm, cá tra v.v... mà là "tài nguyên thiên nhiên" thì cũng đến chịu. Nên nhớ, Mỹ, Úc cũng xuất khẩu khá nhiều nông sản, và không ai coi đó là tài nguyên thiên nhiên hết.

    VN không xuất khẩu gỗ nguyên liệu, mà toàn nhập gỗ, nên tác giả thêm cả nguyên liệu từ lâm nghiệp vào cơ cấu xuất khẩu là sai.

    Tài nguyên thiên nhiên mà VN xuất khẩu thực ra không nhiều, chỉ bao gồm dầu thô, than đá, một vài loại quặng, cát trắng, sa thạch..., trong đó dầu thô chiếm kim ngạch lớn nhất. Khi nói rằng kinh tế VN nói chung, xuất khẩu nói riêng, chủ yếu dựa vào bán tài nguyên, liệu những người nói có thử tìm hiểu xem kim ngạch xuất khẩu tài nguyên chiếm bao nhiêu % trong tổng kim ngạch xuất khẩu không?

    Theo số liệu thống kê, năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu tài nguyên của VN chỉ vào khoảng 8 tỷ USD, trong đó dầu thô chiếm 7 tỷ USD (bán 15,85 triệu tấn dầu, tính cả lượng dầu bán cho Dung Quất, giá trung bình 60$/thùng). Năm 2010 dự tính sản xuất 15 triệu tấn dầu thô, trong đó 5 triệu tấn dành cho Dung Quất, số còn lại xuất khẩu, với kim ngạch khoảng 6,2 tỷ USD (giá trung bình 80$/thùng).

    Như thế kim ngạch xuất khẩu tài nguyên chỉ chiếm khoảng 10-13% kim ngạch xuất khẩu (60 - 65 tỷ USD), 8-9% GDP. Không thể nói là xuất khẩu và kinh tế chủ yếu dựa vào bán tài nguyên được.

    2. “Một chuyên gia kinh tế cho rằng, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam kể cả trước mắt và lâu dài bị đe doạ bởi cả hai yếu tố cạnh tranh đó là chất lượng và giá cả.”

    Chất lượng hàng hóa, đặc biệt là hàng xuất khẩu, của VN ngày nay so với trước kia ngày càng cao, đó là thực tế. Mà đó là VN mới chỉ trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền sản xuất tiểu nông lạc hậu sang con đường hiện đại hóa, công nghiệp hóa, hội nhập hóa. Cùng với quá trình phát triển thì hàng hóa VN sẽ ngày càng tốt hơn, ta có thể tin vậy. Dĩ nhiên cạnh tranh về chất lượng là chuyện bất kỳ doanh nghiệp của bất kỳ nước nào cũng phải đối đầu, chứ không riêng gì VN “bị đe dọa” hết.

    3. Vấn đề lãi suất:

    Nếu bỏ qua cơn bão tăng giá, lạm phát kéo đến tăng lãi suất một cách chóng mặt trong năm 2008, thì trong suốt chục năm nay lãi suất huy động ở VN trung bình vào khoảng 8%/năm, còn lãi suất cho vay khoảng 12%/năm. Suốt một thời gian dài lãi suất ở mức cao như thế mà kinh tế không những không suy sụp, trái lại vẫn phát triển đều, trong khi ở các nước phát triển tuy lãi suất rất thấp nhưng kinh tế vẫn cứ trì trệ, khủng hoảng, không ngóc lên được, điều đó nói lên cái gì?

    Nó nói lên một điều đơn giản, đã được các nhà kinh tế học chỉ ra từ rất lâu: nếu loại trừ yếu tố lạm phát do phát hành tiền bừa bãi, thì nói chung lãi suất cao là biểu hiện của nền kinh tế đang tăng trưởng, còn lãi suất thấp biểu hiện nền kinh tế đang trì trệ, vậy thôi.

    Vì kinh tế đang tăng trưởng, tỷ suất lợi nhuận trung bình của nền kinh tế ở mức cao, ví dụ 20-25%/năm, cho nên doanh nghiệp mới cần thêm vốn để mở rộng sản xuất, và chịu chấp nhận để ngân hàng đẩy lãi suất cho vay lên 12%/năm. Trái lại, ở những nơi kinh tế đang trì trệ, tỷ suất lợi nhuận rất thấp, thì có điên mới đi vay lãi suất cao.

    Lãi suất là cái mà ngân hàng không thể tự ý nâng lên hay hạ xuống; nó hoàn toàn phụ thuộc vào sức khỏe của nền kinh tế. Do không hiểu vấn đề nên tác giả cứ tưởng rằng ở nơi lãi suất thấp thì giá vốn thấp và nền kinh tế có tính cạnh tranh cao hơn nơi có lãi suất cao. Điều này tương tự như người không hiểu gì về kinh tế cứ tưởng rằng ở những nơi giá thuê đất, văn phòng rẻ như Lai Châu thì nền kinh tế ắt có tính cạnh tranh hơn những nơi có giá thuê đất, văn phòng cao như TP HCM, Bình Dương.

    4. “theo quy định hiện hành, trên đường giao thông cứ 70km có một trạm phí giao thông. Một xe công-te-nơ chạy Bắc Nam cả chiều đi có hàng và chiều về không hàng thì doanh nghiệp phải chi đến chục triệu tiền phí giao thông. Phí ấy đương nhiên tính vào giá hàng hoá. Đó là chưa kể qua trạm thu phí, nhiều xe bị ùn tắc vừa mất thời gian vừa phí tổn xăng dầu. Hiện nay, hầu như các nhà quản lý Việt Nam chưa có quan niệm chi phí thời gian là chi phí sản xuất.”

    Đây rõ ràng là ý kiến của người không hiểu gì về kinh tế. Người hiểu về kinh tế, cả lý thuyết lẫn thực tiễn, thì không bao giờ nhìn vấn đề một cách phiến diện, nông cạn rằng “phí cầu đường khiến giá thành hàng hóa tăng lên” như vậy. Anh ta sẽ tính toán xem trước đây, khi chưa có đường rộng, cầu cao, một chuyến xe chạy từ TP HCM tới Cần Thơ mất 7 tiếng đồng hồ, thì chi phí sẽ thế nào so với bây giờ chạy mất có 4 tiếng đồng hồ và phải chịu phí cầu đường. Mọi tính toán đều cho thấy dù phải trả phí cầu đường nhưng chi phí vận tải (xăng, khấu hao, tiền công lái xe, thời gian vận chuyển v.v...) bây giờ giảm đi so với trước kia. Nói rằng “hầu như các nhà quản lý Việt Nam chưa có quan niệm chi phí thời gian là chi phí sản xuất” là nói xằng nói bậy. Nếu không quan niệm chi phí thời gian là chi phí sản xuất thì việc gì người ta phải đổ ra hàng trăm ngàn tỷ đồng xây dựng hệ thống giao thông để rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa?

    Nhiều người kêu ca hệ thống hạ tầng giao thông của VN là lạc hậu, yếu kém. Muốn cải thiện hệ thống đó thì cần có tiền, nhưng tác giả lại không muốn để các doanh nghiệp phải trả phí cầu đường. Tác giả quả là có tấm lòng nhân hậu đối với các doanh nghiệp. Chắc tác giả cho rằng đường sá, cầu cống là cái từ trên trời rơi xuống chắc?

    Dựa trên những cái gọi là “phân tích” như thế, thì cái câu kết luận của tác giả rằng “Cứ đà này, đến một lúc nào đó, doanh nghiệp Việt Nam hết khả năng cạnh tranh” là hoàn toàn vô nghĩa.

    Kép Tư Bền

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Khách viết:
    Trích dẫn:
    Khách gửi lúc 6:33 pm, 06/08/10

    Đọc bài của bác Kép Tư Bền tôi xin có một vài ý kiến sau:

    1- Về vấn đề xuất khẩu bác trích dẫn có 1 nửa về của đánh giá bài báo rồi phân tích, liệu có là chính xác không?

    "Thực tế, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, như khoáng sản, nguyên liệu từ nông, lâm, thủy, hải sản... Các mặt hàng công nghiệp như dệt may, giày da, điện tử và linh kiện máy tính... chỉ mang tính chất gia công là chính."

    Theo ý tôi hiểu thì ở đây tác giả có vẻ diễn đạn chưa được rõ ràng lắm, ngoài các sản phẩm tai nguyên, nông nghiệp... thì các mặt hàng VN ta xuất khẩu chủ yếu là gia công, giá thành thấp, không mang tính đột biến. Có lẽ đánh vào câu chữ giữa tài nguyên vói nông sản rồi "bỏ quên" vân đề công nghiệp gia công, may mặc... để phản biện có vẻ không được xác đáng lắm.

    ...

    Nhiều người không nắm rõ vấn đề nên cứ kêu gào cải tiến giống lúa để bán gạo cao cấp cho bằng Thái Lan. Đâu phải VN không trồng được lúa cao cấp - gạo ta ăn hàng ngày, giá 15 ngàn/kg trở lên chính là gạo cao cấp đấy. Cái chính là: Dở hơi à mà đi nhảy vào cạnh tranh với Thái Lan trong phân khúc gạo cao cấp, trong khi bán gạo thấp cấp có khi còn lời hơn. Gạo ngon ta ăn, gạo tồi đem xuất khẩu, thế mới gọi là hay chứ!
    Bản thân Thái Lan tuy biết rằng gạo thấp cấp chi phí thấp, năng suất cao, nhưng họ vẫn không dại gì nhảy vào phân khúc này để cạnh tranh với VN. Nước sông không phạm nước giếng, cả hai bên cứ chung sống hòa bình là tốt nhất.

    Kép Tư Bền

    Đây là giá vài loại gạo ở siêu thị VN :

    http://sieuthisgtt.com.vn/?portal=proestore&page=product_browse&estore_name=sieuthisgtt&category_id=56061

    Giá thay đổi từ 15000 - 20000 VND/kilo (0,66 - 0,89 euro/kilo)

    Ở một vài nước châu Âu :
    - gạo thơm Thái, hạt bể (khá lớn hạt chứ không phải gạo tấm) bán một bao 20kilo giá 20 euros (1 euro/kilo)

    - gạo thơm Thái, hạt nguyên, giá bao 20kilo là 34 euros
    (1,7 euro/kilo)

    Như vậy giá gạo cao cấp bán ở VN, tính theo giá trị tuyệt đối, thì rẻ hơn bên Au châu

    Nếu tính theo giá trị tương đối dựa theo mức lương tối thiểu thì giá gạo cao cấp ở VN quá cao ...

    Tôi có nghe nói và có gặp ở VN, nhiều người giàu lắm, một cách cực kỳ nhanh chóng trong khi đó công việc chính thức của họ thì có vẻ không tương xứng với mức thu nhập của họ !! Tuần nào cũng đi nhậu, xài 2-4 triệu VND, nhưng nghe họ kể lương tháng 10 triệu ! Vợ con họ nhịn đói ư ?

    Những người VN giàu này (chưa phải là đại gia) thì cho dù là giá gạo cao cấp của Thái cũng chẳng là cái đinh gì phải không bác Kép Tư Bền

    Trích dẫn:
    Khách gửi lúc 6:33 pm, 06/08/10

    Đọc bài của bác Kép Tư Bền tôi xin có một vài ý kiến sau:

    1- Về vấn đề xuất khẩu bác trích dẫn có 1 nửa về của đánh giá bài báo rồi phân tích, liệu có là chính xác không?

    "Thực tế, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, như khoáng sản, nguyên liệu từ nông, lâm, thủy, hải sản... Các mặt hàng công nghiệp như dệt may, giày da, điện tử và linh kiện máy tính... chỉ mang tính chất gia công là chính."

    Theo ý tôi hiểu thì ở đây tác giả có vẻ diễn đạn chưa được rõ ràng lắm, ngoài các sản phẩm tai nguyên, nông nghiệp... thì các mặt hàng VN ta xuất khẩu chủ yếu là gia công, giá thành thấp, không mang tính đột biến. Có lẽ đánh vào câu chữ giữa tài nguyên vói nông sản rồi "bỏ quên" vân đề công nghiệp gia công, may mặc... để phản biện có vẻ không được xác đáng lắm.

    Không có chiện tôi bỏ quên một nửa sự thực đâu bác. Ý của t/g Trần Quang Vũ rất rõ: xuất khẩu CHỦ YẾU dựa vào tài nguyên, còn hàng công nghiệp chỉ là thứ yếu, giá trị thấp, không đáng kể.
    Tôi đưa số liệu cho thấy điều ngược lại: kim ngạch xuất khẩu tài nguyên chỉ chiếm 1/10 kim ngạch xuất khẩu. Tức là sản phẩm đã qua chế biến chiếm 90%. Vậy cái gì mới là chủ yếu?
    Rất nhiều người có quan điểm giống bác, tức là "không nên so ta với chính ta để mà tự sướng, hãy so ta với người khác để mà phấn đấu". Ở đây không có vấn đề tự sướng. Muốn biết ta có phát triển hay không thì trước hết phải so với chính mình cái đã. Tiếp đó so với các nước có cùng trình độ phát triển, có các điều kiện phát triển tương đương. Còn so VN với các nước đã có quá trình phát triển hàng trăm năm là chuyện vô nghĩa, không giúp gì cho việc hoạch định chiến lược phát triển. Ví dụ, quy luật là càng phát triển thì tốc độ tăng trưởng càng chậm lại. Mỹ, Nhật... tốc độ tăng trưởng GDP gần như giậm chân tại chỗ. Ta không nên lấy tốc độ tăng trưởng của ta so với Mẽo để cho là ta tài giỏi, thì cũng không nên lấy hệ thống hạ tầng giao thông, trình độ quản trị v.v.. của Mẽo so với ta để mà tự ti, tự chê.
    Nhìn lại quá trình phát triển của VN trong 15-20 năm qua để thấy gì? Để thấy rằng trong những điều kiện còn rất khó khăn mà kinh tế VN vẫn phát triển đều đều, thì không lẽ gì giờ đây, khi thực lực đã mạnh hơn, đã biết cách rút kinh nghiệm các sai lầm, vân vân, VN lại không thể phát triển hơn nữa.
    Riêng vấn đề gạo, tôi không rõ bác lấy thông tin ở đâu ra là VN muốn xuất gạo đi châu Âu thì phải qua Thái Lan? Tôi từng trực tiếp xuất khẩu gạo nên nắm khá rõ tình hình. Thị trường gạo có thể chia làm 2 khu vực chính: khu vực gạo cao cấp và khu vực gạo thấp cấp. Gạo cao cấp do Mỹ, Thái... cung cấp. Gạo của họ giá cao, bán cho các nước giàu, nhưng chi phí sản xuất cũng cao. Khu vực gạo thấp cấp do VN cung cấp là chính, cho các nước nghèo. Gạo thấp cấp giá thấp, bù lại chi phí sản xuất cũng thấp. Cho nên tính theo tỷ suất lợi nhuận thì chưa chắc gạo Thái đã lời hơn gạo Việt Nam đâu bác. Ngay ở VN, nông dân trông lúa IR 50404, là gạo thấp cấp, chuyên dùng để xuất khẩu, năng suất rất cao (8 tấn/ha/vụ) thường là lời nhiều hơn so với gạo thơm giá cao gấp đôi nhưng năng suất thấp, thời gian canh tác dài ngày, dễ sâu bệnh.
    Nhiều người không nắm rõ vấn đề nên cứ kêu gào cải tiến giống lúa để bán gạo cao cấp cho bằng Thái Lan. Đâu phải VN không trồng được lúa cao cấp - gạo ta ăn hàng ngày, giá 15 ngàn/kg trở lên chính là gạo cao cấp đấy. Cái chính là: Dở hơi à mà đi nhảy vào cạnh tranh với Thái Lan trong phân khúc gạo cao cấp, trong khi bán gạo thấp cấp có khi còn lời hơn. Gạo ngon ta ăn, gạo tồi đem xuất khẩu, thế mới gọi là hay chứ!
    Bản thân Thái Lan tuy biết rằng gạo thấp cấp chi phí thấp, năng suất cao, nhưng họ vẫn không dại gì nhảy vào phân khúc này để cạnh tranh với VN. Nước sông không phạm nước giếng, cả hai bên cứ chung sống hòa bình là tốt nhất.

    Kép Tư Bền

    Còn tôi thì lại không được lạc quan như bác Kép :(

    Hiện tại Việt Nam có nhiều lợi thế, trong đó phải kể đến một dân số đông và trẻ, nguồn nhân lực dồi dào. Các nguồn tài nguyên của Việt Nam không nhiều, nhưng hiện tại cũng đủ dùng để đẩy nhanh nền kinh tế. Sau khi mở cửa, chúng ta đã thu hút được vốn đầu tư quốc tế, khi có làn sóng muốn lợi dụng sức lao động giá rẻ ở Châu Á mà không phải đầu tư hết vào Trung Quốc v.v...

    Nhưng tất cả những lợi thế đó chỉ là tạm thời, kéo dài 30-40 năm. Khi lớp trẻ bây giờ về già, tài nguyên thiên nhiên đã khai thác kanj kiệt, và khi mức sống tăng lên và Việt Nam không còn là nơi lao động giá rẻ nữa, thì con cháu chúng ta mới thấy hết gánh nặng mà ông cha để lại. Ở Nhật Bản hay Hàn Quốc, khi họ có cơ hội làm giàu, họ đã lao như điên vào làm việc, mà bạn tôi gọi là "sống cho thế hế mai sau", và họ đã thành công. Họ để lại cho con cháu một nền tảng vững chắc để tiếp tục phát triển: Nói đến các quốc gia này, người ta nói đến những thương hiệu với công nghệ cạnh tranh trực tiếp với Châu Âu hay Hoa Kỳ. Đó là những sản phẩm có thực, tạo ra những giá trị có thực...

    Còn nếu nói đến Việt Nam thì sao? Tôi có nói chuyện với nhiều người bạn của tôi, và nhận thấy rằng họ giàu lắm, nhưng rất ít người giàu vì có một cơ sở sản xuất danh tiếng, hay một thương hiệu thực sự cạnh tranh. Đa số giàu lên từ buôn bán đất đai, chứng khoán, hoặc phi vụ lòng vòng móc tiền từ nhà nước. Những khoản tiền khổng lồ được đổ vào thị trường "ảo" như chứng khoán hay vàng, trong khi những người thực sự sản xuất lại khó kiếm vốn, khiến nông nghiệp không ra nông nghiệp, công nghiệp cũng chẳng ra công nghiệp. Tôi biết rằng quốc gia nào cũng có những người sống nhờ thị trường "ảo", nhưng tỷ lệ những người như thế trên những người sản xuất thực sự là bao nhiêu? Liệu chúng ta có sống mãi được nhờ chênh lệch chứng khoán, vàng và bất động sản không?

    Admin viết:
    Như phân tích trên đây, phải chăng bác Kép Tư Bền muốn nói rằng các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam không có các nguy cơ lớn, không cần phải lo lắng gì?

    Tôi rất muốn nghe phân tích của bác Kép về những nguy cơ và khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, nếu có :D

    VN là nền kinh tế mới bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì dĩ nhiên phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức - chủ quan có, khách quan có. Nó cũng như một doanh nghiệp mới thành lập vậy thôi - vốn liếng ít ỏi, kinh nghiệm non nớt, khả năng quản trị lơ tơ mơ, trả lương cho nhân viên không thể cao, nhiều khi phải bắt đầu bằng việc thầu lại hoặc gia công cho các doanh nghiệp khác, vưn vưn. Nhưng nếu dựa vào những điều đó mà la lối lên rằng doanh nghiệp thế là rất yếu kém, là bị đe dọa bởi nguy cơ kém sức cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác, rằng mày chỉ nó nước chết thôi con ạ, thì xem ra rất vớ vỉn. Doanh nghiệp nào mà chả phải trải qua giai đoạn đó; các quốc gia cũng vậy.

    Kép tôi rất lạc quan về tương lai của VN, vì sao? Vì những yếu kém của nền kinh tế VN hiện nay mang tính tạm thời, và chắc chắn sẽ mất dần đi cùng với sự phát triển của đất nước. Ví dụ nhá:
    - Hạ tầng giao thông hiện giờ yếu kém, đương nhiên trong tương lai sẽ chỉ có tốt dần lên.
    - Khả năng quản trị non nớt, thì chắc chắn sẽ hoàn thiện dần dần, chứ không thể kém đi hoặc giậm chân tại chỗ.
    - Kinh tế không phụ thuộc quá lớn vào xuất khẩu tài nguyên, nên chẳng có gì phải lo sợ khi giảm xuất khẩu tài nguyên.
    - Công nghệ lạc hậu thì cũng sẽ cải thiện, kéo theo chất lượng hàng hóa, năng suất lao động.
    - Khu vực công nghiệp, dịch vụ phát triển dần dần thu hút ngày một nhiều lao động từ khu vực nông thôn, một mặt làm tăng GDP của đất nước, mặt khác giúp cho diện tích canh tác và thu nhập đầu người của nông dân tăng lên nhiều lần.
    - Hệ thống luật pháp cũng hoàn thiện dần dần.

    Vưn vưn.

    Chỉ cần so sánh những điều trên đây ở VN trong thời điểm cách đây 10 - 20 năm với hiện tại, sẽ thấy rằng chẳng có bất cứ lý do gì để cho rằng trong tương lai VN sẽ không khá hơn bây giờ.

    Kép Tư Bền

    Đọc bài của bác Kép Tư Bền tôi xin có một vài ý kiến sau:

    1- Về vấn đề xuất khẩu bác trích dẫn có 1 nửa về của đánh giá bài báo rồi phân tích, liệu có là chính xác không?

    "Thực tế, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, như khoáng sản, nguyên liệu từ nông, lâm, thủy, hải sản... Các mặt hàng công nghiệp như dệt may, giày da, điện tử và linh kiện máy tính... chỉ mang tính chất gia công là chính."

    Theo ý tôi hiểu thì ở đây tác giả có vẻ diễn đạn chưa được rõ ràng lắm, ngoài các sản phẩm tai nguyên, nông nghiệp... thì các mặt hàng VN ta xuất khẩu chủ yếu là gia công, giá thành thấp, không mang tính đột biến. Có lẽ đánh vào câu chữ giữa tài nguyên vói nông sản rồi "bỏ quên" vân đề công nghiệp gia công, may mặc... để phản biện có vẻ không được xác đáng lắm.

    2- Vấn đề hàng hóa. Bác khảng định hàng Việt Nam ta đã tiến bộ so với trước đay, hoàn toàn đúng, đó là quy tắc của sự phát triển, nhưng bác so với "trước đây", nghe khá chung chung... đôi khi nên nhìn rộng ra một chút, nên nhìn anh nhìn em, nhìn bạn bè, để làm chút so sánh sẽ biết mình ở đâu. Việt Nam ta là một trong những nước xuất khạo gạo lớn nhất thế giới, nhưng bác có biết gạo Viet Nam muốn xuât đi các nước Châu Âu vẫn phải qua Thái Lan không? Ở Châu Âu ăn gạo cũng chỉ thấy đồ Made in Thai lan là nhiều... không biết gạo VN ta xuất đi đâu. vân đề chắc mọi người cũng biết do đâu, tôi xin không bình luận nhiều.

    3- Tôi xin không được bình luận, người trong lĩnh vực sẽ có cái nhìn vĩ mô hơn.

    4- Vấn đề vận tải. Bác lại so sánh với "trước kia", VN muốn vuơn lên tầm khu vực và thế giới thì phải nhìn về phái trước chứ không nên tự hài lòng là mình đã tiến bộ so với "trước kia". Vẫn biết là đường xá, giao thông của Vn ta còn lạc hâu, đang được sủa sang dần đân, nhưng 70 km có 1 tram thu phí là nhiều < số liệu theo bài báo > so với các nước trong khu vực, liệu khả năng cạnh tranh có còn không khi mà mỗi khoản phụ trội sẽ đuọc đánh lên đầu người tiêu dùng, rất nhiều nước họ co chính sách hỗ trợ doanh nghiệp rất tốt giúp cho giảm chi phí sản xuất vận chuyển. Có lẽ đây là bài toán kinh tế mà chúng ta phải xem xét để cân đối chư không thể đưa ra luận điệu chúng ta còn nghèo, cần tiền => thu tiền doanh nghiệp, cuối cùng đổ cả lên đầu người dân thôi.

    Bác nêu ra đuọc vài điểm "không hơp lí" để rồi phủ nhận hoàn toàn đánh giá bài báo có lẽ không được đúng lắm, vậy kết luận của bác là gì? Điều ngược lại chăng?

    Một vài ý kiến góp ý. Cảm ơn.

    Như phân tích trên đây, phải chăng bác Kép Tư Bền muốn nói rằng các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam không có các nguy cơ lớn, không cần phải lo lắng gì?

    Tôi rất muốn nghe phân tích của bác Kép về những nguy cơ và khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, nếu có :D