Nguyễn Đình Chú - Sự áp đảo của Phương Tây đối với Phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần truyền thống

  • Bởi Admin
    06/06/2010
    5 phản hồi

    Nguyễn Đình Chú

    A. SỰ ÁP ĐẢO NÀY LÀ CÓ THẬT VÀ CÓ NGUYÊN NHÂN

    1. Ai cũng biết: trong thời cổ đại, thế giới có 3 nền văn minh tiêu biểu và rực rỡ nhất thì trong đó, phương Đông chiếm hai: Văn minh cổ đại Ấn Độ và văn minh cổ đại Trung Hoa. Còn phương Tây chỉ một: Văn minh cổ đại Hy La. Vậy mà, trải qua thời kỳ trung đại, do điều kiện địa lý, lịch sử của hai bên khác nhau mà dẫn đến tình trạng: phương Tây bứt lên, phát triển ào ạt, tạo dựng được một nền văn minh vật chất, văn minh động (chữ dùng của Đông kinh nghĩa thục trong Văn minh tân học sách) của phương Đông. Từ đó mà có cuộc tấn công, áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên mọi mặt: chính trị, kinh tế văn hóa, tinh thần…

    2. Tại sao có hiện tượng một bên thì tiến nhanh, một bên thì tiến chậm để đến bị áp đảo? Có thể có nhiều cách giải thích. Sau đây là hai cách giải thích đáng được lưu ý.

    - Do điều kiện sống của hai bên khác nhau để tạo cho mỗi bên một kiểu tư duy khác nhau. Với phương Tây là kiểu tư duy thiên về tuyến tính (linéaire), kèm theo là năng lực tư duy phân tích (analytique), từ đó đi vào con đường phát triển khoa học, đặc biệt là khoa học thực nghiệm, thực dụng (pragmatique), tạo ra một nền văn minh vật chất đồ sộ, phi thường, kèm theo là một nền văn minh tinh thần kiểu phương Tây, có nhiều mặt khác phương Đông. Trong khi, với phương Đông lại có kiểu tư duy thiên về cầu tính (globale, sphèrique) mang tính chất hỗn hợp giữa trực giác và lý tính, vô thức và hữu thức, tiềm thức và ý thức, ít năng lực duy lý, phân tích, do đó không phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật, không xây dựng được đời sống văn minh vật chất bề thế như phương Tây, để rút cục bị phương Tây tấn công áp đảo. Sau này, đặc biệt là hiện nay, nhờ có sự giao lưu Đông Tây được mở rộng, sự xâm nhập lẫn nhau tăng tiến trong mọi lĩnh vực của đời sống thì sự khác biệt giữa hai kiểu tư duy trên, tuy có được rút ngắn rõ rệt, nhưng không phải là không còn. Điều này hoàn toàn có thể chứng minh bằng nhiều phương diện.

    - Cách giải thích thứ hai lại muốn đi theo một hướng khác là cho rằng xét trong tổng thể và ở cấp độ vĩ mô nhất, trường cửu nhất trong sự sống nhân loại, thì cái gọi là cao thấp về văn minh giữa Tây và Đông, chưa hẳn đã đúng. Ở đây là sự lựa chọn giữa hai con đường xây dựng và duy trì sự sống. Con đường xây dựng sự sống của phương Tây trước mắt là được, là cao tuyệt, nhưng xét lâu dài, vào các kỷ nguyên sau, chắc gì đã được. Bởi cái mặt trái của tấm huấn chương này cũng là tày trời. Ở đây quả thật có quy luật như Tản Đà đã nói: Sự văn minh tiến hóa bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hóa bấy nhiêu (Giấc mộng con, tập 1) Còn phương Đông, đành là chịu thua kém về cuộc sống vật chất, nhưng lại chăm lo nhiều hơn đến cuộc sống tinh thần, và như thế, xét lâu dài, chắc gì đã dại. Ở đây, luật đối trọng và luật cân bằng giữa hai phương diện vật chất và tinh thần là điều quan trọng nhất để duy trì và phát triển sự sống lâu dài. Cách lý giải thứ hai này liệu là một sự ngụy biện, một thứ AQ theo chủ nghĩa chiến thắng tinh thần từng bị Lỗ Tấn chế giễu không? Thiết tưởng không thể đơn giản trong sự kết luận về kiến giải này được.

    3. Dù nói gì thì nói, hiện tượng phương Đông bị phương Tây áp đảo trên phương diện văn hóa – tinh thần vẫn là một sự thật không thể chối cãi và đáng buồn là cho tới hôm nay vẫn chưa được chính người phương Đông (ở đây hẵng cứ nói người Việt Nam) nhận rõ tới mức cần thiết để có cách thanh toán, có lợi cho sự phát triển của mình. Quy luật của sự áp đảo và bị áp đảo là quy luật của cái mạnh đối với cái yếu. Cái mạnh nhờ mạnh mới áp đảo được. Cái yếu thì vì yếu nên mới bị áp đảo. Nhưng không chỉ thế. Phía mạnh không phải cái gì cũng hay. Ngược lại, phía yếu không phải cái gì cũng dở. Có điều là một khi đã bị áp đảo thì cái dở của phía mạnh cũng tham gia chiến thắng, và cái hay của phía yếu cũng thành chiến bại. Nhìn vào cuộc hôn phối Tây Đông gần hai thế kỷ qua cho tận hôm nay, thấy rõ quy luật phức tạp vừa nói.

    B. NHỮNG ĐIỀU BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA SỰ ÁP ĐẢO

    1. Nhìn từ mặt ngoài: sự áp đảo đã diễn ra trên nhiều lãnh vực thuộc đời sống văn hóa – tinh thần như: triết học, văn học, y học, võ thuật, thể dục, trò chơi…

    - Về triết học: đó là hiện tượng làm mất địa vị chủ nhân và mai một những điều không đáng mai một đối với các học thuyết Nho, Phật, Lão sản phẩm bản địa của phương Đông, một cách rất oái ăm là: tự người phương Đông (tất nhiên không phải tất cả, nhưng là khá đông) vì choáng ngợp, vì “trông người mà ngậm đến ta”, không đủ độ tỉnh táo, quay ra chê bai, phủ nhận thành quả triết học của cha ông tổ tiên mình. Chưa dám nói đâu xa, cứ nói chuyện, không ít người người Trung Quốc và người Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX lại đây, chê bai Nho giáo, coi thường Phật giáo, bỏ rơi Lão Trang, khinh thường Kinh Dịch… trong khi sùng bái một chiều tư tưởng Phục hưng, chủ nghĩa duy vật, triết học ánh sáng, chủ nghĩa duy lý… phương Tây, kể cả cách đón nhận chủ nghĩa Mác theo kiểu đã có… thì không thể không nghĩ đến sự áp đảo đó, trên phương diện triết thuyết. Điều cần nói thêm cho hiểu hết độ oái ăm của hiện thực là không phải người ít học, ngược lại có người thuộc bậc đại trí đại thức, không phải không yêu phương Đông, và dân tộc mình, ngược lại đều là yêu nước, yêu phương Đông đã làm nên việc này. Ví như Lỗ Tấn ở Trung Quốc. Và ở Việt Nam, cũng là thế. Xin miễn ví dụ.

    - Về văn học: đó là hiện tượng kiểu tư duy lý luận, phê bình văn chương thiên về cầu tính, hỗn hợp trực giác và lý tính, rất coi trọng trực giác chân lý nghệ thuật và có nhiều khả năng tiếp cận chân lý nghệ thuật, tồn tại lâu đời, nay đã bị lép vế hẳn so với kiểu tư duy lý luận, phê bình văn chương thiên vào sự phân tích, duy lý, thậm chí là lạm phát lý tính, ít nhiều xa với chân lý nghệ thuật vốn từ phương Tây đến. Ví dụ phê bình Truyện Kièu của Nguyễn Du ngày trước, cụ Mộng Liên Đường chỉ cần một câu rằng “Nguyễn Du có một con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời”, còn ngày nay, ông Lê Đình Kỵ viết cả một cuốn sách “Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du trong Truyện Kiều” hơn 500 trang. Ở đây không thể coi thường giá trị cuốn sách của Lê Đình Kỵ. Nhưng thử hỏi: giá như Nguyễn Du sống lại, hỏi tiên sinh: ai tri âm với mình hơn? Không khéo tiên sinh đáp: Mộng Liên Đường! Mộng Liên Đường! Bởi Lê Đình Kỵ nói đến chủ nghĩa hiện thực bằng hệ thuyết phương pháp phân tích của lý luận văn học hiện đại được du nhập từ phương Tây, từ Liên Xô tới, tuy có đưa đến nhiều sự khám phá lý thú, nhưng thật ra vẫn chưa thấm vào đâu so với luận điểm “con mắt trông thấu sáu cõi” mà Mộng Liên Đường đã tặng cho Nguyễn Du. Cũng vậy, Lê Đình Kỵ nói về chủ nghĩa nhân đạo trong truyện Kiều cùng với không biết bao nhiêu nhận xét hấp dẫn. Nhưng cũng chưa nói hết cái sức hàm chứa trong lời của Mộng Liên Đường rằng: Nguyễn Du có “Tấm lòng nghĩ tới muôn đời!”. Vậy mà ngày nay, giới phê bình văn học, kể cả các thầy giáo trong nhà trường dạy văn, có mấy ai để ý tới kiểu cách phê bình của Mộng Liên Đường mà cũng là của truyền thống tiếp nhận văn chương của phương Đông xưa nữa đâu. Và biết bao giờ, trong đời sống văn học Việt Nam mới có được sự phối hợp bình đẳng Đông Tây trong tiếp nhận nghệ thuật này.

    - Về y học: đó là hiện tượng nền y học cổ truyền của phương Đông, đặc biệt là của Trung Hoa với những tên tuổi vĩ đại như Biển Thước, Hoa Đà… đã là kỳ diệu trên cả hai phương lý thuyết và thực hành, có cơ sở triết học độc đáo và sâu sắc, in cá tính tư duy thiên về cầu tính của phương Đông, từng là phương tiện chữa trị rất thần hiệu cho người phương Đông, vậy mà từ đầu thế kỷ XX đến nay đã bị nền Tây y lấn át rõ rệt, sống lay sống lắt, bị dè bỉu bởi mấy ông đốc tờ Tây. Tất nhiên hiện nay đã có khác, y học cổ truyền phương Đông đang có cơ hội hồi sinh.

    - Về võ thuật: Đó là hiện tượng nền võ thuật phong phú lâu đời, hấp dẫn của phương Đông vốn dựa trên nguyên tắc tổng hợp sức mạnh của trí lực, của cơ bắp, đặc biệt là sức mạnh tiềm ẩn thuộc nội tại cơ thể con người, vậy mà từ đầu thế kỷ XX này đến nay đã bị lép vế rõ rệt trước nền võ thuật của phương Tây xem ra có vẻ thiên vào sức mạnh trí lực, cơ bắp và những năng lực hiển hiện, trông thấy được ở con người. Cả về mặt sự luyện tập của con người, đó là hiện tượng các hình thức cổ truyền của phương Đông như khí công, khinh công, nội công… bị lép vế trước các hình thức thể thao thể dục của phương Tây. Nghĩ thêm sang chuyện trò chơi giải trí cũng thấy như vậy. Bao nhiêu hình thức vốn là đặc sản phương Đông: cờ tướng, cầu lông, tổ tôm, mã chược, vật cầu… nay chỉ là thứ sống dở chết dở, trước sự áp đảo của các trò chơi phương Tây. Nghe tin em bé tỉnh Thanh vừa qua đạt giải vô địch cờ vua thế giới ở độ tuổi 12, người Việt Nam ai mà không sướng bụng. Nhưng giá gì có một em nào đó của Việt Nam lại đạt được giải nhất như thể về cờ tướng, thì còn sướng biết mấy. Tất nhiên là trước khi mong điều này, còn phải mong là thế giới sẽ có giải thi quốc tế về cờ tướng đã.

    2. Nhìn thêm vào trong: trở lên là những hiện tượng bị áp đảo dễ thấy vì nó lộ ra trước mắt mọi người. Nhưng quan trọng hơn, còn là những vấn đề thuộc phía bên trong, tức là thuộc quan niệm triết lý, đạo đức, xã hội, thuộc đời sống văn hóa, tinh thần của con người, vốn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn nhưng lại tồn tại dưới dạng trừu tượng không dễ gì nhận ra với số đông, nhất là với những ai đã ly hôn với chúng lâu ngày. Người viết bài này, vừa chưa đủ sức dàn dựng vấn đề một cách hệ thống, vừa do khuôn khổ bài viết không cho phép, nên tạm ghi lại đôi điều như sau:

    2.1. Quan niệm về con người: quả thực có sự khác nhau bên cạnh sự giống nhau giữa Tây và Đông chung quanh quan niệm về con người. Và trên phương diện này, không phải cái gì thuộc phương Đông cũng thua phương Tây. Thậm chí còn ngược lại. Ví như quan niệm “tam tài” (thiên-địa-nhân) “Vạn vật tương đồng”, “thiên nhân hợp nhất”, “Thiên nhân nhất thể” của Nho giáo và quan niệm con người và muôn loài là bình đẳng của Phật giáo, chứ con người không phải là trung tâm vũ trụ, chúa tể của muôn loài theo kiểu phương Tây. Quan niệm tam tài rõ ràng là đặt con người trước hết là trong quan hệ với vũ trụ với đất trời rồi mới đến quan hệ giữa con người với nhau giữa cõi nhân gian. Quan niệm con người bình đẳng với muôn loài từ đó dẫn đến sự kêu gọi tình thương tới muôn loài, chủ trương không sát sinh, đúng là có mặt phi thực tế nhưng không hẳn hoàn toàn phi lý. Cũng như quan niệm coi con người là trung tâm của vũ trụ, chúa tế của muôn loài, thực tế đã đưa đến cho con người một đời sống vật chất và tinh thần vô cùng lớn lao, nhưng không phải là không có mặt trái. Khoa chiêm tinh học và học thuyết về môi trường sinh thái nhân loại, các lý thuyết nhân văn hiện đại đã cho phép suy nghĩ một cách phức tạp hơn trước những quan niệm trên, ít ra là không thể quá đơn giản trong việc khẳng định sự hơn thua đã có mà xét cho cùng chính là sự áp đảo gây nên ở nhiều thập kỷ qua do ảnh hưởng phương Tây. Đó là chưa muốn nói rằng đã có loại ý kiến muốn đặt quan niệm “tam tài” lên trên hết mọi quan niệm khác về con người và muốn cuộc sống nhân loại được triển khai theo quan niệm đó.

    2.2. Cách xử lý mối quan hệ đức – trí, đức – tài trong cuộc sống con người: quả đây cũng là chỗ có sự khác nhau giữa Tây và Đông. Ở phương Đông cổ trung đại, nói chung thiên về đức trị hơn là pháp trị. Nhiều người từng cho đó là chỗ thấp kém của phương Đông so với phương Tây sớm biết coi trọng pháp trị. Cách kết luận đó, ít nhiều vẫn có mặt chưa thỏa đáng bởi lẽ chưa nhìn hết tính năng của việc coi trọng đức trị. Phương Đông có Nho giáo với thuyết NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN trong đó TRÍ đứng thứ tư sau NHÂN LỄ NGHĨA thuộc phạm trù đạo đức. Với thuyết NHÂN, TRÍ, DŨNG thì TRÍ vẫn là thứ hai sau NHÂN. Với thuyết “Tiên học lễ, hậu học văn”, VĂN là sau LỄ. Với thuyết “tam lập” (tam bất hủ) thì trên hết là lập đức rồi đến lập công. Còn lập ngôn đứng cuối. Rõ là đặt ĐỨC cao hơn TRÍ. Với chữ TÀI cũng vậy. Phải sau TÂM (cũng là ĐỨC), đúng như Nguyễn Du nói: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Trong khi ở phương Tây, khuynh hướng chủ đạo là đặt TRÍ trên hết và từ đó đã tạo ra những thành tựu vĩ đại về khoa học kỹ thuật, tạo ra một đời sống vật chất và tinh thần bề thế như mọi người đã biết. Nhiều người cũng đã cho rằng như thế là ở mặt này, phương Tây cao hơn phương Đông. Nhưng nếu xét ở cấp độ vĩ mô nhất, vĩnh hằng nhất của sự sống nhân loại thì có thể nghĩ khác. Công trình của Cao Minh Trí, quốc tịch Trung Hoa, quan chức cao cấp của Unesco thuộc Liên hiệp quốc có nhan đề “Văn hóa và phát triển: từ mô hình đạo đức – vị kỷ - nhân loại đến mô hình đạo đức – sinh thái – vũ trụ” gửi tới hội thảo quốc tế về vấn đề “Con người với tư cách mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội” họp tại Hà Nội vào tháng 8/1994 đã muốn đặt lại vấn đề theo hướng thiên về giải pháp của phương Đông cổ truyền.

    2.3. Thuyết âm dương và luật đối trọng, cân bằng (quân bình) để đảm bảo sự sống nói chung, sự sống con người nói riêng: Học thuyết âm dương vốn là đặc sản triết học vô cùng cao diệu của Trung Hoa cổ đại và đã có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của nhiều nước phụ cận Trung Hoa tại phương Đông. Nó có dáng vẻ siêu hình nhưng chính là có giá trị thực tiễn lớn lao trong sự sống con người ở mọi lĩnh vực. Vậy mà từ ngày bị phương Tây áp đảo, người đời, trước hết vẫn là người phương Đông, hầu như đã bỏ rơi mất ý nghĩa thực tiễn để chỉ nhìn thấy bề mặt siêu hình của nó và từ đó dường như đã phủ nhận trơn nó nốt. Giá trị thực tiễn của thuyết âm dương chính là ở chỗ đã đưa con người tới quy luật đối trọng để tạo sự cân bằng; vốn là quy luật lớn nhất đảm bảo độ vững chải cho sự sống nói chung, sự sống con người nói riêng. Nhận thức tường minh về học thuyết âm dương và quy luật đối trọng, cân bằng này và dùng nó làm hệ quy chiếu, làm công cụ rà soát, kiểm tra lại nhiều phương diện cơ bản trong sự sống Việt Nam hôm nay, hẳn là có sự bổ ích rất lớn. Nhưng biết tới ngày nào mới có được như thế một khi nó vẫn bị sự áp đảo của nhiều lý thuyết từ phương Tây đến. Tất nhiên, khả năng phục sinh của nó không phải là không có với nhiều dấu hiệu gần đây. Xin chờ.

    2.4. Tôn giáo và sự sống con người: nói thế này đã đúng chưa: trước khi tiếp xúc với phương Tây, ở phương Đông chưa hề sa vào chủ nghĩa vô thần và phương Đông đã tồn tại vừa trong sự kìm hãm vừa trong sự nâng đỡ của tôn giáo. Phật giáo quả có ru ngủ con người nhưng trước hết là sự níu kéo con người ở lại với cõi thiện. Nho giáo không phải là tôn giáo nhưng có cách ứng xử về tôn giáo thật là tuyệt với hai luận điểm ngắn gọn mà cần thiết nhất, không dễ gì các học thuyết khác đã có: “Tế thần như thần tại” ( tế thần thì như có thần) “kính nhi viễn chi” (kính thần nhưng phải xa thần vậy). Vậy mà chủ nghĩa vô thần, với trạng thái này trạng thái khác từ phương Tây tới, lần lượt đã gây ra sự chao đảo cho người phương Đông mà tới nay xem ra cũng không dễ gì gỡ được. Trên đất nước ta hiện nay, đang có chiều hướng muốn gỡ. Nhưng muốn gỡ nhanh, thì lại cần có sự tường minh về tôn giáo. Lại xin chờ.

    2.5. Về chế độ phong kiến và ông vua của nó: sự tấn công và áp đảo của phương Tây đối với phương Đông, ngoài sự mạnh yếu của hai bên, còn là sự tấn công áp đảo của hai hình thái xã hội, một bên là chủ nghĩa tư bản, một bên là chế độ phong kiến (kiểu phương Đông không giống hệt chế độ phong kiến phương Tây trước đó). Chế độ phong kiến phương Đông bị tấn công, bị hạ bệ, cơ bản là đáng kiếp, nhưng cũng có điều đáng thương đáng tiếc, nhất là những gì nhân dân, đất nước đã tạo dựng được hoặc cùng giai cấp phong kiến phối hợp tạo dựng được trong lòng chế độ phong kiến mà thực tế đã có giá trị tích cực, lớn lao trong sự sống của đất nước, của nhân dân mình. Tâm lý coi trọng đức trị, cùng với đó là hệ thống lý thuyết đạo đức, coi trọng gia đình, cùng với đó là những thiết chế cần cho sự tồn tại vững chãi của gia đình để đóng được vai trò tích cực là tế bào khỏe của xã hội, coi trọng sự học vấn, cùng với đó là việc tổ chức xã hội dựa trên cơ sở học vấn… có bao nhiêu đáng giá như thế, vậy mà sau này, vì lẽ này lẽ khác, trong đó có lẽ là bị lý thuyết này khác của phương Tây ám, áp đảo để rồi chính tự mình giáng lên chúng mấy chữ đơn sơ nhưng rất tai hại là “đồ phong kiến”, “đồ lạc hậu”, đáng vứt bỏ, phải cải tạo lại. Nhân đây xin nói thêm về khái niệm ông vua vốn là biểu trưng số một của chế độ phong kiến và đó là đối tượng số một của sự phủ định, tiêu diệt, điều đã được xem là chân lý hiển nhiên, miễn bàn luận. Nhưng trở lại nguồn gốc thì lại thế này. Trong hệ thống quan niệm tam tài (thiên địa nhân), thiên nhân hợp nhất, thiên nhân nhất thể, vua trước hết là con trời (thiên tử) được trời giao cho quyền chăn dân, trị dân theo ý trời, mà ý trời lại là ý dân như có sách đã nói. Trị dân mà dân được sung sướng, thanh bình là hợp ý trời. Trị dân mà để dân nghèo đói chết chóc là trái ý trời, và như thế thì vua phải làm lễ sám hối, tạ tội với trời đất. Điều này sử sách đã có chép nhiều. Lễ tế Nam giao hàng năm chính là dịp để vua tự kiểm điểm trước trời. Trong thực tế, vua đã có quyền uy tối thượng, trên tất cả, nhưng vẫn là dưới, chịu sự chi phối của trời, dù là một biểu tượng siêu hình nhưng lại có quyền uy tuyệt đối. Cho nên, cũng trong thực tế, không ít ông vua xấu, gọi là hôn quân, nhưng vua tốt, minh quân nào có hiếm. Vua tốt là vua biết theo ý trời, biết sợ trời, để làm điều thiện với dân. Thử so sánh hai mô hình tổ chức xã hội giữa phương Đông cổ trung đại và phương Tây hiện đại:

    + PĐ: TRỜI + VUA + LUẬT PHÁP PHONG KIẾN + THIÊN HẠ

    + PT: 0 + TỔNG THỐNG + HIẾN PHÁP + THIÊN HẠ

    Rõ ràng không thể kết luận về sự hơn kém một cách quá đơn giản như lâu nay đã có (coi mô hình trên là lạc hậu, thua hẳn mô hình dưới) vì thực ra mỗi bên đều có cái hay và cái dỡ. Có vua được trời hướng vào cõi thiện là hay nhưng không có trời hỗ trợ theo điều lành thì chúa đất dễ biến thành chúa trời để rồi mặc sức tung hoành trước sinh mạng người dân. Điều này quả không hiếm ví dụ, chẳng phải chỉ trong quá khứ, mà còn là ở hiện tại. Xin nhớ rằng, hiến pháp có chặt chẽ đến đâu, pháp luật dù có quy định ngóc ngách đến đâu, so với sự sống thiên hình vạn trạng, vẫn còn khe hở. Cảnh sát trần gian dù đông đặc nghiêm túc đến đâu (mà thực tế làm gì có nghiêm túc cả) vẫn không đủ bao hết sự đời. Phải có thêm loại cảnh sát cõi âm, loại cảnh sát nằm ngay trong chính tâm linh mỗi người không loại trừ ai, kể cả ông vua có quyền uy tối thượng, trị vì trăm họ, mới mong đảm bảo có cuộc sống tốt lành nhiều hơn trong điều kiện thiện ác vốn dĩ cứ tranh chấp nhau triền miên cùng nhân loại. Thực tiễn lịch sử phương Đông đã chứng minh cho lý thuyết của nó trên đây. Xin đừng chối bỏ và cũng xin đừng để lý thuyết phương Tây cứ áp đảo mãi nữa ở phương diện này. Vấn đề là phải có sự kết hợp Đông Tây.

    C. KẾT LUẬN

    1. Những điều được trình bày trên đây dù là kết quả suy ngh của bản thân trong nhiều năm nhưng vẫn là bước đầu và có tính chất gợi ý. Chỉ mong có sự tiếp nối, thậm chí có cả sự phản bác theo hướng cùng nhau tìm chân lý

    2. Nêu những ý kiến như trên, bản thân tự cho rằng mình không sa vào chủ nghĩa vị kỉ phương Đông, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi bởi lẽ chính mình đang tha thiết và mong muốn có dịp sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề tác động tích cực của văn hoá và tinh thần của phương Tây đối với phương Đông. Hai vấn đề có vẻ là nghịch lý nhưng thực ra là thuận ý.

    3. Trong khi nói những điều trên đây, người viết đã để Nhật Bản ra ngoài, bởi Nhật Bản đã không chịu đi theo quy luật chung của phương Đông. Do đó, để rõ hơn những vấn đề nêu ra rất cần lấy Nhật Bản làm đối tượng so sánh.

    4. Những vấn đề nêu lên như trên có lẽ thiên về lịch sử, tư tưởng hơn là lịch sử thông sử. Nhưng muốn được chứng minh rõ nét hơn lại rất cần được vai trò của lịch sử thông sử hỗ trợ.

    ________________

    Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội, 1995, số 3 và Văn hoá học đại cương và cơ sở Văn hoá Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    ....mong muốn có dịp sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề tác động tích cực của văn hoá và tinh thần của phương Tây đối với phương Đông. Hai vấn đề có vẻ là nghịch lý nhưng thực ra là thuận ý. ( Nguyễn đình Chú )
    Chẳng lẽ cái thói chạy chọt, vây cánh, cửa quan, cửa quyền, bợ đỡ... rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất Tố cũng tại cộng sản hay sao ? Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả một thế kỷ 15 chỉ được một ông Nguyễn Trãi, cả một thế kỷ 16 hầu như cũng toàn nhạt nhẽo và trung bình cả thì cũng tại cộng sản hay sao?
    — Phạm thị Hoài (Tư cách trí thức Việt Nam)

    *****
    Cũng trong mục tiêu giống như tác giả Nguyễn Đình Chú, tôi chú ý bài nói chuyện về trí thức của nhà văn Phạm thị Hoài bởi ngạc nhiên khi thấy tư duy bế tắt trong lý luận thiếu ’Khai Sáng‘ không thấy con đường ...đi tới, đi lên rất thênh thang trong dân chủ tự do của các triết gia, nhà văn các nước tự do. Họ có môi trường xã hội để họ có thể làm công việc ghi nhận, tái hiện chân dung thật của cuộc sống hay dẫn lối suy tưởng của con người một khi được Khai Sáng khỏi sự cấm kỵ tôn giáo không tự do tư tưởng hay hủ tục ! Còn Việt Kiều cũng có gông cùm thế hệ dành cho Việt kiều . Đó là cuộc di dân bất dắc dĩ khiến phải lao vào mưu sinh ổn định cuộc sống là chính ! Thế hệ thanh niên kế tiếp sẽ không còn có cảm nhận quê hương sâu đậm để đi hy vọng con đường văn học VN từ nước ngoài !
    Phong kiến, đô hộ, nội chiến hay cộng sản đều trói buộc khốc liệt như nhau đưa đến tình trạng Việt Nam có ...‘nghĩa địa văn học’ như nhà văn Nguyễn Thị Hoài nhận thấy !

    Việt Nam chịu sự áp đặt nặng nề của ba nền triết học, một Khổng giáo phương Đông, kế đến là Hegel-Marx ủng hộ cả sự sát nhân của thứ mà qua chử nghĩa hàn lâm triết học các ông gọi đó là ‘nền văn minh đi trước’ coi sát nhân để cải hóa là nhiệm vụ, khi VN được coi là nền văn minh ...tụt hậu đi sau ! Nó đã hình thành và bị các nước theo chủ nghĩa đô hộ tàn bạo lợi dụng triệt để bốc lột làm giàu cho các nước đô hộ. Để biện minh,Pháp đã giới thiệu VN ra thế giới qua hình ảnh người Thượng Tây Nguyên và hình ảnh hòn ngọc Viễn Đông Sài gòn hoa lệ, sau khi nhờ Pháp đến ...khai hóa !

    Cho đến năm 1945 Mỹ và các nước đồng minh nhận định phát xít, đô hộ là nguyên nhân chiến tranh. Nga đã hình thành một chế độ thực dân mới dưới danh nghĩa Xô viết, Pháp Anh hình thành khối Liên Hiệp Anh, Liên Hiệp Pháp để tránh đối đầu với Mỹ !
    Ý thức hệ chánh trị phong kiến quân chủ đô hộ khai hóa hay vô thần, bạo lực giai cấp, tuy dẫn đến hình thái xã hội hoàn toàn khác nhau, thậm chí đối kháng nhau nhưng đối với con người đều coi con người như phương tiện phục vụ chánh trị và sự thật luôn bị bẻ cong. Ba thể chế chánh trị đó đều coi con người như ‘thần dân’, bị đày đọa buộc phải tùng phục. Tất cả đã nối tiếp nhau đưa văn nhân vào ...giấc ngủ đông miên vài ngàn năm không lối thoát !
    VN có một thời cánh cửa sổ văn đàn hé mở, lập tức chúng ta có ‘Tự lực văn đoàn’ gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Trần Tiêu và Xuân Diệu. Chỉ hoạt động trong khoảng 10 năm, với tám người chủ chốt thực sự đã trở thành những tác giả truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ trữ tình và thơ trào phúng có vị trí trong văn học VN ! Sau truyện Kiều và các nhà thơ Nôm, các tác phẩm Tự lực văn đoàn trước tiên đã làm giàu cho tiếng Việt !

    Thất bại của giới văn nhân Việt Nam nhiều thế kỷ trước và sau 1945 đều là bị nhấn chìm, bị bao vây trong ý thức hệ phong kiến rồi đô hộ tiếp đến là cộng sản mang đến bi kịch nội chiến và sự bức bách của cuộc sống đói nghèo cho cả dân tộc. Không có sự thật, không có gì đáng tự hào không có gì để thiết tha thì ...làm sao mà viết văn ! Vụ án ‘Nhân văn giai phẩm' đặt dấu chấm hết lên tương lai các nhà văn trí thức và cả tương lai đất nước !
    CSVN chỉ còn có các nhà văn biến chất thành nhà tuyên truyền giáo điều CS và các thơ điên như Tố Hữu ca tụng máu đổ, ca tụng cái chết, ca tụng chiến tranh, mà hôm nay ...không còn ai muốn nhắc lại thứ tư duy hủy diệt đó !
    Cho nên khi nhà văn Nguyễn Thị Hoài khi còn ẩn mình trong bóng râm Cộng Sản mà phóng ra tầm nhìn thì...làm sao
    khỏi tình trạng chỉ thấy các dấu hỏi, làm sao lý giải được nguyên nhân !

    Tây phương bị tôn giáo dìm vào giấc ngủ ‘thần quyền và thần thoại’còn Châu Á là giấc ngủ của chánh sách ngu dân trãi dài từ phong kiến, nô lệ, đến CS. Con người phương Tây bỗng thức giấc trước mâu thuẩn thấp kém đến ngạc nhiên của sự xác tín tôn giáo, không chút logic khi coi con người vừa là tội đồ vừa là sản phẩm, làm gì cũng là ...do ý Chúa và thời kỳ Khai sáng phương Tây là ra khỏi các định kiến từ xác tín về thần quyền. Con người dùng óc duy lý thay cho xác tín mông muội !

    Giấc ngủ văn hóa Châu Á khác hẳn phương Tây, nhà văn Châu Á Phật giáo rất ít cảm nhận ra tinh thần khai sáng khỏi thần quyền này mà chỉ thấy cần ra khỏi sự mông muội của ...chính con người !
    Con người VN đã xây dựng một xã hội độc tài độc đoán và đến 1945 sự xuống cấp xã hội còn tồi tệ hơn nửa khi ca ngợi bạo lực của thành phần kém văn hóa ! Trong tình cảnh trước họng súng nhà tù này văn nhân còn ...biết viết gì đây ?
    Phải lo đòi sự thật và quyền tự do trước là vì thế !

    Bản thân vật chất không có lỗi gì chúng ta vẫn muốn tiến đến ăn ngon mặc đẹp mà! Nhưng nếu cướp của người khác để riêng mình được hưởng như quan chức đỏ hiện nay là tội ác.

    Thứ tư duy tùng phục cái ác của quyền lực hay thiếu trách nhiệm gây ra nổi khổ cho người khác sẽ phải cần thay đổi. Biết ca ngợi những chính phủ coi dân là thần dân để bốc lột là tội ác, không coi những cha mẹ sinh con rồi sống chết mặc trẻ là cha mẹ đáng được tôn trọng. Không ca ngợi mẫu hình phụ nữ chỉ biết làm máy đẻ và chăm chỉ lo cho chồng con thời phong kiến v.v...! Xã hội sẽ kết án ai không chung tay xây dựng xã hội mà chỉ tạo ra gánh nặng thí dụ cha mẹ sinh mà không lo chăm sóc nuôi con nên người là :" Cha mẹ của tội ác tương lai ! "Nhiều tư duy nhân bản và h5anh phúc con người lắm nhưng bao giờ văn nhân mới được tự do nói ? Đó chính là vấn đề !

    Trần Thị Hồng Sương

    Khách viết:
    tôi thì đang cảm nhận thấy rằng tinh thần văn hóa thiên về vật chất của phương Tây đang giết dần giết mòn trái đất của chúng ta. mặc dù có sự phát triển khoa học để hạn chế những tác động bất lợi đến trái đất, nhưng không đủ bù đắp cho những gì chúng ta đang lấy đi. con cháu chúng ta sau này là những người gánh chịu hậu quả.

    Bạn chỉ cảm nhận thôi chứ không chắc cái cảm nhận đó dựa trên cơ sở nào!
    Khi ta nói:"Tinh thần văn hoá" thì tức là nói tới đời sống tinh thần.
    "Văn hoá"không hướng tới vật chất mà hướng tới cái thiện,cái đẹp của cuộc sống.
    Khi ta nói hướng tới vật chất(hay coi trọng vật chất)hoặc hướng tới thiên về tinh thần thì khái niệm đó không phải là"Tinh thần văn hoá"như bạn hiểu,mà đó là "Lối sống"thiên về vật chất hay thiên về tinh thần.
    Còn bạn nói phương Tây đang giết dần trái đất của chúng ta thì bạn nói sai hoàn toàn.
    Khi chúng ta được sinh ra là con người thì tất cả mọi tình cảm,suy nghĩ đều giống nhau và tương đồng,bất kể màu da,chủng tộc,nơi cư trú...
    Bạn hãy học và ngẫm nghĩ câu nói của Sec-spi-ơ:TO BE OR NOT TO BE!
    Chỉ một câu nói này thôi mà hậu sinh phải viết cả ngàn trang giấy để có thể diễn giải hết ý nghĩa của nó đấy chứ không dịch sang được tiếng Việt một cách đơn giản:TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI! đâu.
    Chính vì vậy tôi rất thích câu thơ của cụ Nguyễn Du:
    * Thiện căn ở tại lòng ta,
    Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài*

    NCM

    tôi thì đang cảm nhận thấy rằng tinh thần văn hóa thiên về vật chất của phương Tây đang giết dần giết mòn trái đất của chúng ta. mặc dù có sự phát triển khoa học để hạn chế những tác động bất lợi đến trái đất, nhưng không đủ bù đắp cho những gì chúng ta đang lấy đi. con cháu chúng ta sau này là những người gánh chịu hậu quả.

    .....cái gọi là cao thấp về văn minh giữa Tây và Đông, chưa hẳn đã đúng. Ở đây là sự lựa chọn giữa hai con đường xây dựng và duy trì sự sống. Con đường xây dựng sự sống của phương Tây trước mắt là được, là cao tuyệt, nhưng xét lâu dài, vào các kỷ nguyên sau, chắc gì đã được.

    ******
    Chính những sự biện hộ lan man kiểu câu nói trên đã khiến cho nền khoa học Châu Á cực kỳ ...trì trệ. Sống thì mục đích là ‘xây dựng phát triễn sự sống’ chứ chỉ ‘duy trì’ sự sống là lối sống thiếu mục đích của sinh vật giửa rừng xanh và các bộ tộc. Chúng ta đã nhìn thấy sự diệt vong của các tộc người thiểu số nơi thiếu hẳn trường học nhà thương và sự tuyệt chủng của nhiều loài vật đang diễn ra trước mắt vì thiên tai bệnh tật và bị hủy họai ở rừng xanh thế nào. Chúng ta chứng kiến cuộc sống đói nghèo của các dân tộc không phát triễn khoa học mà theo thần học như Trung Đông và Châu Phi ! Ngay cạnh chúng ta là bài học Campuchia cỗ tức Khmer Angkor đã gần tàn lụi vì dùng sức người chỉ để lo xây ‘lăng mộ tượng đài’ cung phụng ...cho thế giới siêu nhiên và chỉ lo cho cuộc đời sau cái chết ...mơ hồ !

    Nhu cầu tồn tại rất ít chỉ có nhu cầu phát triễn hưởng thụ mới cao và vô cùng .... Có lúc quá cao khiến mất cân bằng sinh thái phải có kế hoạch hạn chế như hiện nay!

    Xã hội loài người luôn bắt đầu bằng tư duy triết học thần học quay quanh một thế lực siêu nhiên. Sau thời kỳ khai sáng phương Tây mạnh mẻ chuyển sang tư duy duy lý tức khoa học trí tuệ và chánh trị ứng dụng khoa học như câu nói 'Khoa học dẫn đường chánh sách'. Phần thần học vẫn cần tồn tại nhưng lý do đó là ‘nhu cầu tâm linh’ của con người chứ không phải vì nhu cầu của thần thánh !

    Người ta cố gắng phân tích có nhiều nền văn minh thật ra ‘chỉ có một nền văn minh và xoay quanh con người’ nhưng có nhiều tầng nấc và nhiều hình thái khác nhau !

    Điều người Châu Á không hiểu là nền triết học Châu Á qua đạo Phật đã có tư duy vô thần sớm sủa hơn phương Tây nhiều ngàn năm khi Phật giáo coi Phật chỉ là ‘người giác ngộ‘và con người ai cũng có thể thành Phật :“Ta là Phật đã thành, người là Phật sẽ thành ! “ Đạo Phật lại rất nhân văn, hòa bình khi cấm sát sanh. Ngày nay đạo Phật phát triễn ở các nước phương Tây sau khi hoàn toàn chinh phục được nhà bác học Albert Einstein . Hiện nay chân lý Phương Đông được nhìn nhận tôn vinh chứ Triết học Phương Tây từ Hegel, Karl Marx, Angels với kiểu phân loại ‘con người đáng sống’ và ‘con người không đáng sống’ đã sản sinh ra những xã hội bất công và con người rất tàn bạo như Hitler, Stalin, Mao trạch Đông...tạo thành xã hội phát xít, đô hộ và Cộng Sản dẫn đến chiến tranh tàn khốc, rất kinh khủng cho nhân loại ... Triết học phương Đông như Bà La Môn của Ấn độ cũng lầm lạc trong việc phân chia giai cấp nên cũng sẽ dần tiêu vong theo lẻ tự nhiên ...Còn Ông Albert Einstein góp phần khẳng định giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.

    Ông Albert Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó" (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học" (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, because it embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein.

    Tư tưởng triết học về nền hòa bình vĩnh cửu của Immanuel Kant và chủ nghĩa nhân văn đang là xu thế thời đại .

    Tôi muốn nhắc lại công lao to lớn và số phận đau đớn của trí thức VN tiền nhân của chúng ta 60 năm về trước trong Phong trào Nhân văn giai phẩm, chính là những người dẫn lối một con đường đúng đắn. Vô cùng đáng tiếc khi đã bị CSVN dốt nát tàn bạo theo triết học khủng bố bạo lực phương Tây bóp chết. Ngày nay, nếu chỉ nói đến đòi dân chủ thật sự là chưa đủ mà phải toàn diện hơn. Giải thưởng trao cho người chết không làm thỏa nguyện bằng nghiên cứu tư tưởng đó để áp dụng cho mục tiêu chủ nghĩa nhân văn là Con người hạnh phúc (Happy Humain). Đó là cách thế hệ hậu sinh tri ân những người lên tiếng vì sự tiến bộ của dân tộc ! Đâu phải VN kém, đâu phải VN cần học Mao trạch Đông mà Nguyễn Tât Thành chạy theo học ! Tôi căm thù Mao trạch Đông của Trung Quốc không phải vì ông ta là CS, tôi không hề ghét Gorbachev khi ông còn là CS mà vì dùng tay Nguyễn Tất Thành trì độn háo danh làm tay sai kẻ giết người không gớm tay đó gây ra những cái chết đau thương cho dân VN qua truyền bá thứ tư tưởng sống tàn nhẫn thấp hèn giết người mà lương tâm không xúc động như thú vật đó của bọn người này !

    Một quốc gia phải dựa vào tư duy triết học Phật giáo, tư duy xã hội học chánh trị học theo Immanuel Kant gia nhập thế giới góp phần xây dựng nền hòa bình vĩnh cữu và chủ nghĩa nhân văn. Về khoa học phải chú tâm phát triễn khoa học chứ không phải một dàn văn nhân trí thức đầy thiên kiến coi lừa dối là khôn ngoan, coi bạo lực là sức mạnh !
    Trần Thị Hồng Sương

    Tác giả đưa ra những luận điểm rất đáng chú ý.
    Chỉ có điều tôi nhận thấy rằng,văn hóa Đông,Tây từ xưa đến nay vẫn luôn tìm cách hòa nhập với nhau,luôn tìm cái hay,cái dở của nhau để áp dụng vào một hoàn cảnh cụ thể.
    Thí dụ có một nhà tư tưởng nổi tiếng người Đức nói:Đừng làm với người những gì bản thân mình không muốn.
    Thật ra ý tưởng này đã được nói tới trong Đông chu liệt quốc(Nếu ta xem xét tư tưởng này trên mặt triết học).
    Hay là những ý tưởng đúng đắn thường gặp nhau?(Đồng thanh tương ứng,đồng khí tương cầu?)!
    NCM