Phạm Ngọc Uyển - Dân chủ và Tự do tư tưởng

  • Bởi Admin
    23/05/2010
    2 phản hồi

    Phạm Ngọc Uyển

    Dân chủ ít nữa có hai nội dung chính: nội dung chính trị và nội dung xã hội. Dân chủ là: “Chính quyền (kratos) của nhân dân (demos)“.

    Nhưng dân chủ còn là khái niệm xã hội, thuộc nền văn minh, văn hoá chung của tất cả mọi người. Chính dân chủ ở nội dung thứ hai bao hàm quyền tự do tư tưởng. Có dân chủ về kinh tế, văn hoá, về tư tưởng… Về tư tưởng, dân chủ hoá chính là bảo đảm cho tư tưởng được tự do, không bị đàn áp, là hợp pháp hoá tự do tư tưởng, cho phép mọi tư tưởng, dù chỉ của một người, miễn là không chống lợi ích sống còn của loài người, được quyền tồn tại, tôn trọng và truyền bá. Tự do tư tưởng do đó không phải là vô hạn độ.

    Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, đang xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh thì mọi tư tưỏng gieo rắc hiếu chiến, nô dịch, chia rẽ Nam Bắc, phản dân chủ và làm nghèo đất nước đều không được tự do truyền bá. Gieo rắc những luận điệu ấy phải cấm kỵ. Nhưng ta chủ trương một mặt trận dân tộc lấy liên minh công, nông, trí làm nền tảng thì tự do tư tưởng là điều nhất thiết phải thực hiện. Dân chủ hoá đối với nông dân là được ruộng cày, được giảm tô tức… Dân chủ hoá đối với trí thức không gì khác trước hết trí thức được tự do tư tưởng. Tự do tư tưởng là tư duy một cách tự do, không bị ràng buộc bởi ý thức hệ bởi thiên kiến, sợ sệt. Tự do tư tưởng, người nghiên cứu khoa học được trung thực với cái mà mình quan niệm, thành tâm quan niệm là chân lý khoa học. Họ không bị tha hoá, không bị phân thân (dedoublement): nghĩ một đằng, nói một nẻo vì lo sợ cho sinh mệnh chính trị (bị quy kết, chụp mũ), vì mưu lợi ích tầm thường… là điều luôn xảy ra trong một xã hội bị hệ tư tưởng hoá tuyệt đối. Trong khoa học, không có tư tưởng chính thống và tà thuyết mà chỉ có chân lý (tương đối) và sai lầm. Có tự do tư tưởng, người nghiên cứu mới phát huy được nhân cách.

    Ở Việt Nam, tự do của cá nhân con người (individu) về nhân thân (personne) phải được thừa nhận về mặt luật pháp thì mới có được tự do tư tưởng. Đó là tiền đề chính trị – xã hội hàng đầu. Về lĩnh vực tinh thần, có tự do tư tưởng rồi thì mới có các tự do khác: tự do xuất khẩu, tự do hội họp, tự do lập hội … Có thể nói tự do tư tưởng là điểm xuất phát của các tự do khác của người lao động trí óc, người nghiên cứu khoa học.

    Nhưng tự do tư tưởng, như mọi tự do khác, là kết quả của đấu tranh, cả với bản thân . Nói cách khác, tự do tư tưởng đòi hỏi tiền đề chủ quan và khách quan. Tiền đề chủ quan thứ nhất là người nghiên cứu khoa học có óc nghi ngờ khoa học, tức là có đức tính hoài nghi đặc thù cho nhà khoa học, không bị mê hoặc bởi những định kiến, những uy tín, không cả tin mà luôn luôn thắc mắc: vì sao? như thế nào? ai? Nhà nghiên cứu nghiêm túc được quyền nghi ngờ cả những nghị quyết của Đại hội Đảng khi thấy cuộc sống bắt đầu bác bỏ chúng. Là đảng viên, nhà nghiên cứu khoa học nghiêm túc chấp hành nghị quyết của Đảng. Là nhà khoa học, anh ta có nghĩa vụ phải “hoài nghi khoa học“ nghị quyết khi nó là đối tượng nghiên cứu.

    Có óc hoài nghi rồi vẫn chưa đủ, còn rất cần có dũng cảm khoa học, dám nói lên sự thật khoa học, dù sự thật này gây tổn thất lớn đến quyền lợi thiết thân của mình. Brunô, Galilê, Tư Mã Thiên…. Là những gương sáng ngời về dũng cảm khoa học. Dũng cảm khoa học khác với bảo thủ, ngu trung như thường thấy khi một hệ tư tưởng hết nhiệm vụ lịch sử. Trong xã hội cổ truyền ở nước ta, Chu văn An, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trường Tộ… tiêu biểu được về chống ngu trung đối với hệ tư tưởng chính thống khi nó đang còn thịnh trị cũng như lúc nó tàn tạ.

    Tiên đề chủ quan thứ ba là cách tiếp cận khoa học, biết lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và tiêu chuẩn của chân lý, biết sử dụng những phương pháp luận khoa học nhất, mới nhất (nghiên cứu liên ngành, tiếp cận hệ thống, toán học hoá …), Người tự do tư tưởng không bị một thứ ism (chủ nghĩa) nào ràng buộc mà cái ràng buộc nhà khoa học là đối tượng nghiên cứu, là hiện thực khách quan. Phải như Pasteur là con chiên ngoan đạo (ông theo đạo kitô) nhưng không hề bị hình Chúa ám ảnh khi ngồi trước kính hiển vi. Nhà khoa học phải phục tùng hiện thực khách quan chớ không bắt hiện thực khách quan tuân theo những giả thiết của mình rồi gọt đẽo hiện thực theo kiểu ép chân cho vừa giày. Trong thế giới vật lý, từ không gian ba chiều sang không gian n chiều, từ Newton sang Einstein, khoa học tự nhiên phải đổi paradigme ( hệ thống phạm trù). Trong xã hội, từ chủ nghĩa tư bản tự do sang chủ nghĩa đế quốc, học thuyết kinh tế Mac-Xit đã chuyển từ Mác sang Lê Nin, nay xã hội tư bản đã thích nghi và sử dụng được Cách Mạng khoa học-công nghệ giai đoạn ba, lý luận về xã hội không thể dừng ở paradigme cũ, nếu muốn giải đáp được những vấn đề mà cuộc sống mới đặt ra. Và cũng vậy, trước hết, cùng với truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc, chủ nghĩa Mác-Lê Nin đã giúp dân tộc ta tự giải phóng khỏi ách nô lệ ngoại bang.

    Nhưng rõ ràng nó chưa giúp ta trong mấy thập kỷ liền (từ năm 1954, từ năm 1975) làm cho dân giàu, nước mạnh: đất nước cứ càng ngày càng tụt lùi giữa lúc nhiều nước láng giềng đang đi lên phơi phới; tất nhiên họ không tránh khỏi còn nhiều vấp váp, nhiều nghiên cứu xã hội, nhà nghiên cứu khoa học phải có cách tiếp cận thích hợp để nhìn nhận rõ và góp phần cải tiến thực trạng trên.

    Tiền đề khách quan đầu tiên, rất quan trọng, có tính chi phối, để nhà nghiên cứu có được tự do tư tưởng là Nhà nước không tự trói mình bằng một hệ tư tưởng nào, như Nhà nước ta hiện nay “nguyện làm bạn của tất cả các nước trên thế giới“. Hệ tư tưởng là vấn đề của các đảng phái, các tổ chức xã hội, các đoàn thể chính trị… còn quốc gia, dân tộc là chung cho mọi công dân nên không thể chịu sự thống trị của chỉ một hệ tư tưởng.

    Tiền đề khách quan thứ hai là Nhà nước tôn trọng quyền được thông tin của người dân, điều đã nêu từ lâu trong các hiến pháp tư sản ngay từ thế kỷ XVIII (còn thực hiện đầy đủ đến mức nào là do tương quan lực lượng , do đấu tranh của nhân dân). Hiện nay quyền này chưa được các cơ quan thông tấn, báo chí của ta thực hiện bao nhiêu. Trong khi đó, rõ ràng nhà nghiên cứu mà thiếu các “liên hệ ngược“, nhất là liên hệ ngược khách quan, chính xác thì rất khó suy xét, khó có tự do tư tưởng .

    Nguyên cán bộ giảng day trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Lão thành cách mạng

    Phạm Ngọc Uyển

    @tq.net

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Đây là bài viết ngụy biện về mục đích, ngay từ đầu; và hời hợt về nhận thức.
    Chính trị là phương thức thực hành vai trò quản trị xã hội và là kết quả của cuộc tranh đấu/biện tư tưởng. Xếp „quyền tự do tư tưởng“ vào „nội dung xã hội của dân chủ“ là ngụy biện nhằm gạt bỏ tự do tư tưởng trong chính trị để giữ nguyên vai trò độc quyền chính trị. Một xã hội mà Nhân dân không có quyền tự do tư tưởng trong lĩnh vực chính trị để tham gia quản trị xã hội thì không thể nào gọi xã hội đó là „dân chủ“ được.
    Vì đặt vấn đề (chủ đích bài viết) sai lạc („phản động“?) như thế nên lý luận trong bài không chặt chẽ và phải dùng những giọng điệu „đanh thép“ để lấn át đi.
    Buồn cho tác giả!

    TP

    Bài viết hay, có nhiều ý tưởng khách quan, trung thực.
    Nhưng phải thấy rằng đảng đã và đang độc quyền cưỡng đoạt trói buộc tư tưởng, tự do dân chủ của người dân, những người yêu nước khác chính kiến còn bị tù đày rất lố bịch, chính người dân không còn tin đảng thì làm sao mà các nước thực lòng muốn làm bạn với chúng ta ?

    Nói một đàng làm một nẻo là sự lừa dối bất minh bất chính, nó xuất phát từ chính học thuyết tư tưởng độc tài bạo lực đã quá lỗi thời, gây rất nhiều tai họa cho đất nước của đảng CSVN.