Bill Hayton - Việt Nam: Con Rồng Đang Lên (4)

  • Bởi Admin
    21/05/2010
    0 phản hồi

    Bill Hayton<br />
    Diên Vỹ chuyển ngữ

    Nhưng tăng trưởng cũng làm lộ ra những yếu điểm của Việt Nam. Những nhà sản xuất thường xuyên than phiền về việc đường xá bị hư hỏng và các bến cảng bị tắt nghẽn. Trầm trọng hơn, khi Intel bắt đầu tuyển nhân viên và phát hiện ra rằng trên tổng số 2,000 người xin việc, chỉ có 40 người đủ điều kiện để làm việc trong nhà máy của họ, một tỉ lệ thấp nhất trong tất cả các quốc gia mà hãng này hoạt động.

    Nhìn những đường phố đông đúc ở các thành phố lớn tại Việt Nam - Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh - rất dễ để tin rằng Việt Nam đã hoàn toàn là thị trường tự do và không còn là xã hội chủ nghĩa. Những bảng hiệu quảng cáo lộn xộn trên đầu với đám đông thương nhân ở dưới, mỗi con hẻm là một tiềm năng của một quán phở và mỗi bóng cây có thể là một hiệu cắt tóc. Sự phát triển thực sự mang nghĩa "lăn bánh tự do"; được sinh ra trên những chiếc xe gắn máy cũ mèm. Nhưng hoạt động hỗn loạn này cũng phóng đại sự quan trọng của lĩnh vực tư nhân trong nước. Nó đã tạo ra rất nhiều việc làm và hưng phấn nhưng chỉ có vài doanh nghiệp tư nhân với bất cứ dạng cỡ. Từ những bà nông dân bán rau quả đứng chật các ngã tư ở khu phố cổ Hà Nội cho đến những người chủ cửa hàng đứng nhìn họ một cách khinh bỉ, đa số các doanh nghiệp tư nhân tồn tại với mức vốn rất nhỏ.

    Lịch sử của lĩnh vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam thực sự được xây nên từ một cửa hàng ở góc phố Hàng Chiếu và Nguyễn Thiện Thuật (tên một kháng chiến quân chống Pháp) trong khu Phố Cổ. Bên trên sự nở rộ của hàng hoá tiêu dùng, những người qua lại có thể thấy được di sản của nó. Những dòng chữ bằng vôi xã hội chủ nghĩa xưa vẫn cho thấy ngôi nhà vẫn là một cửa hàng nhà nước. Đây là nơi người dân từng xếp hàng để mua những khẩu phần lương thực ít ỏi dưới thời nhà nước bao cấp. Nguyen Quang Hao từng là một trong những người quản lý cửa hàng thời ấy và ông vẫn còn nhớ rõ khoảng thời gian đó. "Dưới hệ thống bao cấp anh chỉ được mua đúng tiêu chuẩn của mình," ông kể. "Người dân phải đem theo tem phiếu. Họ chỉ được mua 15 ký gạo mỗi tháng." Hao hiện giờ là một người tương đối giàu có, ông đeo mắt kính hàng hiệu để kiểm tra một núi hàng thức ăn đóng gói nội địa lẫn nhập khẩu đang chất đầy chung quanh quầy tính tiền. Ông sở hữu cửa hàng vào vào năm 1989 và hiện nay điều hành nó như là một ông chủ của một doanh nghiệp tư nhân thành công. Hao rất vui với sự cải cách kinh tế. "Ngày nay anh có thể mua bất cứ thứ gì mình muốn, miễn là có tiền," ông vừa nói vừa cười.

    Cũng có những công ty lớn nhưng ít hơn. Mặc dù có 350 công ty nằm trong danh sách của hai sàn chứng khoán trong nước, 99 phần trăm các công ty trong nước vẫn nằm trong dạng nhỏ và trung. Năm 2005 chỉ có 22 công ty tư nhân trong nước nằm trong danh sách 200 công ty hàng đầu và, như chúng ta sẽ thấy ở phần sau, "tư nhân" là một thuật ngữ có nhiều nghĩa khác [12]. Điều quan trọng hơn đối với quốc gia trong thời điểm này là lĩnh vực tư nhân quốc tế. Nếu đi về hướng đông từ cửa hàng của Hao, qua cầu Chương Dương trên sông Hồng và ra khỏi ngoại thành, chúng ta sẽ nhanh chóng hiểu được tầm quan trọng của sự đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại Việt Nam. Con đường xa lộ giữa Hà Nội và Hải Phòng từng chạy qua những cánh đồng lúa. Giờ đây hầu hết những cánh đồng đã bị che khuất sau hàng loạt những khu công nghiệp và nhà máy chạy dài gần 50 dặm giữa hai thành phố. Ở vùng ngoại ô Hải Phòng, một trong những nhà máy lớn ấy là Xí nghiệp Giày Stella do Đài Loan sở hữu. Trong khuôn viên khổng lồ này có 7 nghìn công nhân lao động trong bốn dãy nhà rộng. Hai hoặc ba đường dây chuyền chạy dài theo từng dãy nhà với những tấm biển cho biết những loại giày này đang được sản xuất cho ai: Ủng cho hiệu trang phục dã ngoại Hoa Kỳ Timberland và Merrell, giày cho công ty Anh Quốc Clarks và thậm chí hàng thời trang cho một thương hiệu của Ý. Clarks - một trong những thương hiệu giày lớn nhất châu Âu - có một phần ba sản lượng hàng hoá sản xuất từ Việt Nam. Máy móc đóng hiệu và làm mềm da, làm đế giày và hoàn tất phần dán keo nhưng đa số những công đoạn khác đều làm bằng tay. Khâu kéo da và đóng đinh một cách chuẩn xác là những công việc phức tạp. Tiếng động dồn dập và công việc thì liên tục, nhưng đối với các xí nghiệp giày thì đây là một nơi khá tốt. Nơi đây sáng sủa, mát mẻ và công nhân có một phòng y tế và phòng trợ giúp phúc lợi. Graeme Fiddle, Quản trị viên của Clarks ở Việt Nam, từng đi qua những rất nhiều xí nghiệp giày ở Việt Nam nhưng công ty của ông không bao giờ muốn làm việc với họ. "Chủ nhân của Clarks là những người theo đạo Quakers, có nghĩa là họ luôn cố gắng đi đúng với các chuẩn mực đạo đức," ông giải thích.

    Graeme đã thực sự theo dõi xí nghiệp này được xây từ một cánh đồng xanh chỉ vài năm trước đó. Những công nhân đầu tiên là những người vừa bước ra khỏi ruộng đồng và đã phải được đào tạo từ bước đầu. Rất nhiều người trong họ chưa bao giờ dùng đến cầu tiêu hiện đại và thay vì thế, họ mang theo lá chuối để dùng. Nhưng họ đã từ từ học được những kỹ năng mới cần thiết để sản xuất giày thể thao và khi khả năng của họ được nâng cao, đã chuyển sang sản xuất giày da. Vào giữa năm 2006 mỗi công nhân trung bình kiếm được từ 60 đến 80 Mỹ kim mỗi tháng. Nếu ở châu Âu hoặc Hoa Kỳ thì con số này nằm dưới mức sống, nhưng lúc ấy nó đã gấp đôi mức lương thấp nhất ở Việt Nam. Nó cũng hơn thu nhập của một nông dân địa phương rất nhiều. Vũ Thị Thắm, một công nhân làm việc trong công đoạn giày trẻ em, có vẻ không quá vui sướng với công việc của mình, nhưng lương bổng cũng khá hơn là làm ruộng. Bà nói: "Cùng bình thường. Tôi làm việc ở đây vì thu nhập ổn định. Trước đấy tôi làm nghề nông và thu nhập của tôi tuỳ thuộc vào thời tiết. Nếu thời tiết tốt, tôi có thể kiếm tiền nhiều. Nhưng nếu xấu thì tôi không thể. Ngay cả vào thời điểm tốt nhất tôi cũng chỉ kiếm được 30 Mỹ kim mỗi tháng. Nhưng khi làm việc ở đây tôi kiếm được 60 Mỹ kim hoặc hơn nếu tôi làm tăng ca."

    Những ngành công nghiệp gia công với tay nghề thấp như giày dép thường là trạm đầu tiên của những quốc gia đang công nghiệp hoá. Tại Việt Nam, chúng đã tạo ra hàng trăm nghìn việc làm và là trụ cột của sự bùng nổ kinh tế. Nhưng để tiếp tục tăng trưởng quốc gia này cần hấp dẫn các ngành công nghiệp với kỹ năng cao vì chúng trả lương cao hơn. Việt Nam đã rất may mắn vì đã mở cửa kinh tế đúng lúc khi những tập đoàn đa quốc gia bắt đầu nghi ngờ chủ thuyết dựa dẫm quá nhiều vào Trung Quốc. Nhiều công ty đã bỏ những món đầu tư khổng lồ vào khu vực dọc bờ biển phía nam và phía đông Trung Quốc nhưng giờ đây đang có những kế hoạch dự phòng để ngừa trường hợp xấu xảy ra với họ. Chiến lược "Trung Quốc+1" đã đem nhiều công ty đến Việt Nam. Hãng điện tử khổng lồ Canon là một trong những công ty ấy. Hiện nay hãng này đã sản xuất hơn phân nửa tổng số máy in vi tính tại một khu phức hợp bao gồm các nhà máy chung quanh thành phố Bắc Ninh, nằm ở phía đông bắc Hà Nội. Trong năm 2005 nó đã là công ty lớn thứ mười ba tại Việt Nam [13] Khởi đầu với loại máy phun mực tương đối đơn giản, giờ đây nó đã mở rộng đầu ra với loại máy in laser hiện đại.

    Các xí nghiệp là những khối hộp không cửa sổ to lớn, xám xịt. An ninh là mối quan tâm hàng đầu; những người lạ không được phép vào bên trong vì e rằng họ sẽ thấy được những bí mật kỹ thuật của công ty. Bên trong, mọi khâu đều giữ kỷ luật cao. Khi những cánh cổng được mở vào sáng sớm, hằng trăm công nhân cưỡi xe đạp đi vào, thay đồng phục bảo hộ và xếp hàng cùng hát bài ca chính thức của công ty. Đây cũng là kiểu trẻ em Việt Nam bắt đầu mỗi ngày học, vì thế Canon đã rất dễ dàng tìm được loại công nhân vừa ý. Tổng Giám đốc Việt Nam của công ty, Sachio Kageyama, biết rất rõ tại sao Canon chọn địa điểm tại Việt Nam. "Trước hết ở đây có nền chính trị rất ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng rất ổn định và một lực lượng lao động rất thông minh. Đây là những lợi thế lớn." Đa phần công nhân Canon ở Việt Nam chỉ lắp ráp các linh kiện được sản xuất từ nơi khác. Suốt ngày những chiếc xe tải lớn chạy vào cổng nhà máy để đem các bộ phận sản xuất từ nước ngoài. "Hiện tại chúng tôi nhập khẩu phần đông các linh kiện từ đông bắc Trung Quốc vì nền công nghiệp Việt Nam vẫn chưa trưởng thành," Ông Kageyama giải thích. "Nhưng chúng tôi đang cố gắng để tăng tỉ lệ của các bộ phận nội địa và chúng tôi cũng đang sản xuất một số linh kiện chính yếu tại nhà máy." Triển vọng quan trọng của Việt Nam hơn là những chiếc xe tải lớn ngoài cổng là vài chiếc xe nhỏ hơn đang chuyên chở một phần nhỏ các bộ phận sản xuất từ những nhà máy được xây dựng tại địa phương để cung cấp cho khâu lắp ráp của Canon.

    Và không chỉ có mỗi Canon. Việt Nam đang hấp dẫn ngày càng nhiều những công ty kỹ thuật cao. Hãng Samsung của Nam Hàn đang xây dựng một nhà máy điện thoại di động trị giá 700 triệu Mỹ kim kế bên. Hãng sản xuất chip Intel của Hoa Kỳ đã xây một nhà máy trị giá 1 tỉ Mỹ kim ở ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh; Hon Hai, một công ty sản xuất iPod của Apple và máy tính cho Dell và Hewlett-Packard, đã khai trương một nhà máy trị giá 1 tỉ Mỹ kim gần Hà Nội; và nhiều công ty khác, bao gồm NEC, Foxconn, Brother và Matsushita cũng đã tham gia. Năm 2006 Việt Nam có trị giá hàng hoá xuất khẩu là 40 tỉ Mỹ kim - đa phần là từ lĩnh vực đầu tư ngoại quốc. Đất nước này đang khấm khá.

    Nhưng tăng trưởng cũng làm lộ ra những yếu điểm của Việt Nam. Những nhà sản xuất thường xuyên than phiền về việc đường xá bị hư hỏng và các bến cảng bị tắt nghẽn. Trầm trọng hơn, khi Intel bắt đầu tuyển nhân viên và phát hiện ra rằng trên tổng số 2,000 người xin việc, chỉ có 40 người đủ điều kiện để làm việc trong nhà máy của họ, một tỉ lệ thấp nhất trong tất cả các quốc gia mà hãng này hoạt động. Những công ty công nghệ ngoại quốc khác cũng gặp phải những khó khăn tương tự. Mặc dù Việt Nam đã rất thành công trong việc phổ cập giáo dục - thống kê của chính phủ cho thấy trình độ biết đọc biết viết cao hơn 90 phần trăm – nhưng giáo dục đại học từ lâu đã lâm vào tình trạng tham nhũng và quá chú trọng vào những môn nghiên cứu chủ nghĩa Marxist-Leninist và thực tập quân sự quốc phòng. Những yêu cầu tốt nghiệp từ một trường đại học nhà nước ở Việt Nam thường bao gồm việc có thể chạy được 100 mét và bắn được súng AK-47. Việc đào tạo kỹ năng hướng nghiệp ít được chú trọng. Bộ Giáo dục cho biết đang dự định tăng gấp đôi đội ngũ giáo sư đại học với học vị tiến sĩ lên đến 30 phần trăm vào năm 2015. Liệu việc này có giải quyết được vấn đề hay chỉ đơn giản làm nó thêm tồi tệ vì khuyến khích các trường đại học mướn nhân viên với bằng tiến sĩ giả, tình trạng này có thể không được phát hiện ra trước khi quá trễ.

    Một trở ngại quan trọng khác đối với các công ty nước ngoài tại Việt Nam là hiện trạng yếu kém của pháp luật, như tình trạng của ngân hàng lớn thứ 20 trên thế giới lúc ấy là ABN Amro của Hà Lan bị lâm vào trong năm 2006. Sự việc bắt đầu từ một phụ nữ tên Nguyễn Thị Quỳnh Vân. Vào tháng Ba 2006, không lâu sau sinh nhật thứ 36 của mình, Vân đã bị bắt vì bị tình nghi là đã “gây tổn thất lớn cho tài sản nhà nước” trong vai trò Phó phòng Tài trợ Thương mại tại chi nhánh Hải Phòng của Ngân hàng Công thương, ngân hàng lớn thứ tư tại Việt Nam, gọi tắt là Incombank. Bà bị buộc tội là đã làm thất thoát 5,4 triệu Mỹ kim trong hàng loạt những hợp đồng kinh doanh ngoại tệ với ABN Amro và ít nhất là hai ngân hang nước ngoài khác có trụ sở tại Việt Nam. Tại nhiều nước khác, đây sẽ là một vụ án tương đối rõ ràng nhằm truy tố những đối tượng “giao dịch bất hợp pháp”. Nhưng tại Việt Nam, làm thất thoát tài sản nhà nước là một tội danh với mức tử hình. Thay vì chú trọng vào những hành vi phạm pháp của nhân viên mình, Incombank lại xoay sang kiện ABN Amro để đòi bồi hoàn tiền, họ nhấn mạnh, theo lời của một viên chức, rằng “Nhiều loại ngoại tệ đã được rút một cách bất hợp pháp và nguyên tắc của chúng tôi là một khi có người cố tình gây thiệt hại đến công ty, họ phải có trách nhiệm bồi hoàn những gì họ đã lấy đi.” ABN Amro cho rằng “Những giao dịch trên là hợp lệ và tất cả các chuyển đổi đã được giải quyết xong” và đã từ chối việc trả lại tiền. Những gì xảy ra trong tám tháng sau đã chứng tỏ sự giới hạn của nền kinh tế thị trường lẫn luật pháp ở Việt Nam, khi Incombank dựa vào chính quyền và lực lượng an ninh làm một việc trông giống như một chiến dịch tống tiền ABN Amro. Những kẻ giao dịch và ngân hàng rõ ràng là đã hưởng lợi từ sự bảo kê từ những người có chức quyền mà người Việt gọi là “ô dù”.

    Sáu tuần sau khi Vân bị bắt, công an đã bắt giữ hai nhân viên thuộc chi nhánh địa phương của ABN Amro với tội danh cấu kết với Vân để biển thủ tiền. Giám đốc ABN Amro Việt Nam là bà Phạm Đệ, một người Mỹ gốc Việt, bị cấm ra khỏi nước mặc dù đang mang bầu và cần được xuất ngoại để khám thai, một giám đốc Việt kiều khác cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự. Vào tháng Bảy, hai nhân viên địa phương khác của ABN Amro nữa bị bắt, cả hai đều là nhân viên giao dịch, và toà án Hà Nội đã ấn định ngày xử vụ kiện của Incombank. Vào thời điểm này, vụ kiện của Incombank đang dựa trên một luật lệ vô cùng tối nghĩa: một chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ra đời bảy năm trước nhưng đã không được thực thi cho đến sau khi những vụ bắt giữ xảy ra. Theo Quyết định 101/QĐ-NHNN ngày 23 tháng Năm 1999, những nhân viên giao dịch ngoại tệ có nhiệm vụ phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước và, theo lời của các quan chức Incombank "Những người liên quan tại ngân hàng chúng tôi đã không đăng ký và những nhân viên ở ngân hàng kia đã biết việc này nhưng vẫn tiến hành việc giao dịch với họ, vì thế rõ ràng là họ cũng đã phạm tội." ABN Amro phản đối rằng luật này nhằm áp dụng cho những ngân hàng bán ngoại tệ cho công chúng - không phải cho những giao dịch giữa các nhà băng với nhau - và chỉ ra rằng NHNN đã yêu cầu các ngân hàng đăng ký những giao dịch viên mãi sau khi vụ việc trở nên rắc rối. NHNN đã từ chối giải thích hành động của mình, mặc dù chính họ là người có trách nhiệm chính thức đối với những qui định tài chính. Một quan chức tối cao chỉ trả lời rằng "Quá trình điều tra là trách nhiệm của Phòng Tội phạm Kinh tế của Công an. Chúng tôi phải đợi kết quả điều tra của họ."

    Nhận định chung của giới thương gia ở Hà Nội là Vân và Incombank đang được bảo vệ bởi những người có quan hệ sâu rộng với Bộ Công an. Công an đã đơn giản gạt NHNN sang một bên. Vấn đề không phải là luật pháp mà là sự thô bạo của quyền lực. Với sáu nhân viên ABN Amro hoặc là bị bắt vào tù, giam giữ tại gia, hoặc bị cấm xuất cảnh, rõ ràng là quyền lực đang nằm trong tay của Bộ Công an. Nhưng sau đấy đã có dấu hiệu của những phản ứng. Cộng đồng doanh nghiệp quốc tế, vốn im lặng trước đây về vụ án đã bắt đầu lên tiếng. Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ Tom O'Dore nói ông rất quan ngại về "việc tội phạm hoá những giao dịch thương mại bình thường, cũng như sự thiếu can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trong các thủ tục pháp lý liên quan đến các cơ quan tài chính", và cảnh báo rằng việc này "có thể làm đông cứng thương mại tại Việt Nam và gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tài chính Việt Nam nói chung và các thị trường ngoại hối nói riêng". Vụ án bắt đầu gây chú ý từ giới truyền thông quốc tế và Thủ tướng đã ra lệnh điều tra. Không bao lâu sau đó Phạm Đệ được phép ra khỏi nước để chữa bệnh, với điều kiện là bà phải đóng 10 nghìn Mỹ kim thế chân và hứa sẽ quay lại. Nhưng cùng lúc ấy truyền thông Việt Nam bắt đầu đăng tin rằng những tội danh chống lại bà sẽ được huỷ bỏ, "Nếu ngân hàng Hà Lan hoàn trả những thất thoát cho ngân hàng Việt Nam". Đối với những nhà quan sát nước ngoài thì đây là một việc ghê tởm. Nếu nhà cầm quyền tin rằng đã có hiện tượng phạm tội thì họ phải tiến hành điều tra hoặc là bãi miễn toàn bộ cáo buộc. Trong khi ấy những gì họ đã làm lại giống như một vụ tống tiền.

    Vào tháng Chín 2006 chính quyền Hà Lan gửi vị Bộ trưởng Hợp tác Phát triển đến Hà Nội để bày tỏ mối quan ngại của họ nhưng trả lời duy nhất từ công an là quá trình điều tra đang được mở rộng. Thiếu tướng Phạm Quý Ngọ, người chủ trì cuộc điều tra, tìm cách phản biện lại những cáo buộc rằng công an đã hình sự hoá những giao dịch thương mại bình thường, nhưng những phát biểu của ông tại cuộc họp báo lại cho thấy rằng đội điều tra của ông chẳng hiểu biết tí nào về hệ thống ngân hàng hiện tại; ông đã tỏ ra ngạc nhiên khi biết rằng "500 hợp đồng [hối đoái ngoại tệ] đã được ký kết mà chẳng có việc giao dịch tiền tệ"; dường như ông không hề biết đến thao tác "hưởng chênh lệch" giữa lợi nhuận và lỗ lã qua một thời điểm nhất định. Nhưng sau đó ông lại đưa ra một cáo buộc mới: một số giao dịch giữa Incombank và ABN Amro đã có những tỉ giá nằm ngoài biên độ cho phép của việc trao đổi ngoại tệ. Ông cho rằng việc này "là một hình thức hoạt động tội phạm mới". Vào thời điểm này, các ngân hàng chỉ được phép trao đổi đồng Mỹ kim và Việt Nam Đồng trong biên độ 2,5 phần trăm của tỉ giá do Ngân hàng Nhà nước đưa ra. (Nhưng cộng đồng tài chính hiểu rõ rằng giao dịch thường xuyên xảy ra bên ngoài biên độ qua việc sử dụng những lựa chọn và những công cụ tài chính khác.) Nhưng lần nữa ông lại đề nghị "Nếu ABN Amro hoàn trả lại số tiền, Phạm Đệ chắc chắn sẽ không bị tuyên án hình sự."

    Đây dường như là một đòn chí mạng. Ngân hàng Nhà nước đã về phe với công an, tuyên bố vào cuối tháng Mười rằng "Việc kiểm tra chi nhánh Hà Nội của ABN Amro và điều tra khởi đầu của công an đã xác nhận rằng chi nhánh Hà Nội của ABN Amro đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam cũng như các nguyên tắc quốc tế." Cũng có những tin tức rằng Ngân hàng Nhà nước có thể bắt đầu điều tra những giao dịch giữa ABN Amro và một nhà băng chính phủ khác - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, được biết là đã làm thất thoát 18 triệu Mỹ kim. ABN Amro bắt đầu nhận thấy điềm xấu. Luật lệ quá mơ hồ khiến họ không thể chứng minh sự vô tội của mình trong khi nhân viên thì bị giam giữ, họ đã đầu hàng. Vào cuối tháng Mười Một 2006 họ tuyên bố đã chuyển 4,5 triệu Mỹ kim vào một tài khoản do công an quản lý. Công bố duy nhất của họ chỉ nói rằng họ "đã không mong muốn kiếm lợi từ những hoạt động bất hợp pháp của người khác". Không bao lâu sau, tất cả các nhân viên của ABN Amro đang bị giam giữ dưới nhiều hình thức đã được trả tự do và chính quyền Việt Nam thông báo rằng nhân viên giao dịch của Incombank sẽ không bị tuyên án tử hình. Mọi việc lắng dịu đi nhưng rồi bảy tháng sau, Uỷ ban Thanh tra Nhà nước công bố kết quả điều tra của mình về sự việc trên. Họ đã đặt toàn bộ trách nhiệm lên Ngân hàng Nhà nước và thống đốc ngân hàng Lê Đức Thuý, họ nói rằng "Những sai phạm xảy ra là do thiếu sót các qui định đúng mực về giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng" - Đúng như những gì ABN Amro từng nói một năm về trước. Việc này dường như đã chấm dứt vụ án, ngoại trừ vào tháng Tư 2008, Incombank đổi tên thành Vietinbank. Giới doanh gia Hà Nội cho rằng vì tai tiếng của nó trong vụ án đã lan ra cộng đồng quốc tế. Vào lễ Giáng Sinh 2008 Vietinbank trở thành ngân hàng nhà nước thứ hai nằm trong danh sách của thị trường chứng khoán.

    (còn tiếp)

    _______________________________

    Chú thích:

    12. Scott Cheshier và Jago Penrose, Top 200: Chiến lược Công nghiệp cho các Công ty lớn nhất ở Việt Nam, Hà Nội: UNDP Việt Nam, 2007.

    13. Cùng nguồn ở trên.

    14. Jago Penrose, Jonathan Pincus và Scott Cheshier, "Việt Nam: bên ngoài cá và thuyền", Bình luận Kinh tế Viễn đông, 09.2007.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi