Bill Hayton - Việt Nam: Con Rồng Đang Lên (3)

  • Bởi Admin
    20/05/2010
    0 phản hồi

    Bill Hayton<br />
    Diên Vỹ chuyển ngữ

    Một nhân vật chủ chốt phía Việt Nam lúc ấy là Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Lần nào cũng thế, mỗi khi cuộc đàm phán lâm vào điểm bế tắc, người Mỹ liền liên lạc trực tiếp với ông và mọi cản trở liền được giải toả [10] Nhưng thoả thuận của Dũng đã không làm hài lòng một số thành phần trong Đảng vốn vẫn có ác cảm với đầu tư ngoại quốc và Hoa Kỳ. Một buổi lễ ký kết chính thức đã được dự định tổ chức tại hội nghị Châu Á - Thái Bình Dương trong năm đó - nhưng đã bị huỷ bỏ vào phút cuối vì các nhân vật chủ chốt đòi hỏi nội dung bản ký kết cần được xem xét lại bởi cơ quan soạn thảo chính sách của Đảng là Uỷ ban Trung ương.

    Nhưng Việt Nam có thật sự là kiểu mẫu theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới? Câu giải thích quen thuộc về thành công kinh tế của Việt Nam thường là như thế này: cơn khủng hoảng kinh tế trong những năm đầu 1980s đã bắt buộc phải có một lựa chọn tỉnh táo để chấp nhận những thế lực thị trường trong Đại hội Đảng lần thứ 6 vào tháng Mười Hai 1986, sau đấy nền kinh tế được mở cửa, với sự cố vấn của Ngân hàng Thế giới, cuối cùng Việt Nam đã tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007. Nói đúng ra, đây chỉ là một nửa câu chuyện. Để hiểu được một nửa kia ta phải bắt đầu sớm hơn và phải thay đổi hướng nhìn. Một giải thích đúng hơn về sự thành công của Việt Nam là quá trình đổi mới đã bắt đầu nhằm bảo vệ khu vực nhà nước chứ không phải xóa bỏ nó; rằng sự can thiệp của nhà nước vẫn giữ nguyên một cách sâu rộng trong suốt thời kỳ đổi mới; và rằng, cho đến gần đây, những cố vấn về chính sách của Ngân hàng Thế giới đã bị phớt lờ, trừ khi chúng phù hợp với những ưu tiên của Đảng Cộng sản. Để hiểu rõ hơn việc này chúng ta cần đánh một vòng ngắn qua lịch sử của nền kinh tế.

    Cơn khủng hoảng đầu tiên của Việt Nam thống nhất đến vào bốn năm sau khi xe tăng Cộng sản cán đổ cổng Dinh Tổng thống ở Sài Gòn, chấm dứt cuộc "Chiến tranh chống Mỹ" và hai mươi năm hai miền bắc nam bị chia cắt. Nền kinh tế nông thôn đổ nát, miền bắc bị dội bom trở lại thời kỳ tiền công nghiệp và cuộc chiến đã giết, làm bị thương hoặc ly tán hàng triệu người. Nhưng chiến thắng dường như đã chứng minh được ưu thế của kiểu mẫu cộng sản: nó đã đánh bại tầng lớp tư bản và người hậu thuẫn nó là Hoa Kỳ. Nhưng thắng lợi không là vĩnh viễn; chính quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã không hoạt động được. Cho đến năm 1979 ngành công nghiệp nặng đã ngốn hết tài nguyên nhưng lại không có năng xuất, công nghiệp nhẹ bị thu nhỏ và nông nghiệp bị đình trệ, trong khi nông dân ở miền nam cộng sản phản đối quá trình tập thể hoá. Quốc gia này đã bắt buộc phải nhập 200 nghìn tấn gạo để chống đói. Không những thế, Việt Nam đã đánh chiếm Cambodia trong khi Trung Quốc tấn công và cắt đứt mọi viện trợ kinh tế cho Việt Nam. Những lĩnh vực kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc rơi vào khủng hoảng. Cần phải làm một việc gì đấy. Quyết định của Đảng Cộng sản vào tháng Tám 1979 nhằm mục đích giữ vững nền kinh tế cộng sản mà họ đã bỏ ra một phần tư thế kỷ để xây dựng nhưng cuối cùng đã phải từ bỏ. Kế hoạch tập trung hoá kinh tế và tài nguyên do nhà nước phân phối - tất cả những giáo điều này cuối cùng đã phải bỏ đi. Giới lãnh đạo kêu gọi sự "bùng nổ" năng xuất. Những công ty nhà nước vẫn phải giữ cam kết của mình với kế hoạch của trung ương - nhưng giờ đây chúng được phép mua bán sau khi đạt đủ chỉ tiêu đề ra của chính phủ [1]. Đến năm 1979, trước khi Trung Quốc và Liên Xô mở cửa với chủ nghĩa tư bản công nghiệp, những người cộng sản Việt Nam đã bắt đầu thử nghiệm nó.

    Mục đích của chính sách trên không nhằm để phá bỏ việc vạch kế hoạch xã hội chủ nghĩa mà để cứu vãn nó. Một số Công ty Nhà nước (CTNN) đã bắt đầu mua bán một cách không chính thức, và thậm chí một số khác còn có những thương vụ với nước ngoài để trả nợ nần. Với việc ngầm chấp thuận những trao đổi không chính thức này Đảng hy vọng có thể kiểm soát được và ghìm chúng lại dần dần. Nhưng sự việc đã đi ngược lại. Trao đổi bất hợp pháp tăng gấp đôi từ 20 phần trăm của thị trường trong năm 1980, hai năm sau đã lên đến 40 phần trăm [2]. Hiện tượng này được gọi là phá rào - lách luật để được việc [3]. Vào tháng Giêng 1981, giới lãnh đạo cố gắng mạnh tay hơn. Họ đưa ra Chỉ thị 25-CP ra lệnh tất cả các công ty nhà nước phải đăng ký các mặt hàng mua bán của mình. Đây là một nỗ lực nhằm quản lý thị trường đen nhưng đồng thời cho phép các CTNN "tự cân đối" - được quyền buôn bán một cách độc lập - sau khi đã hoàn thành chỉ tiêu được giao từ Kế hoạch Kinh tế của chính phủ. Đây chính là khởi đầu thực sự của việc đổi mới kinh tế. Các nhà lãnh đạo các tỉnh phía nam còn tiến xa hơn nữa. Vào cuối năm 1985, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã phớt lờ luật nhà nước và tự cho phép các công ty sử dụng "phương pháp quản lý mới". Quá trình mở cửa kinh tế đã xảy ra từ lâu trước khi được "chính thức" đổi mới vào năm 1986.

    Và trong năm ấy đã có nhiều việc xảy ra cùng lúc. Tăng trưởng và sản xuất lương thực bị đình trệ, lạm phát tăng đến gần 500 phần trăm [4]. Lê Duẩn, nhà lãnh đạo Đảng Stalinist, người chính thức lèo lái quốc gia sau khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969 (và không chính thức ít nhất là mười năm trước đấy), qua đời. Đảng triệu tập Đại hội toàn quốc và tất cả mọi áp lực dồn nén từ bên trong trong suốt cả thập niên đã bùng nổ. Một phần của lực lượng dẫn đầu là một nhóm những nhà cải cách kinh tế bên trong Đảng, nhưng chủ yếu là những người đứng đầu các công ty nhà nước hiện đang hưởng thụ những thành quả có được từ việc phá rào, đang muốn hợp thức hoá việc tự do trao đổi. Họ đã bắt buộc giới lãnh đạo Đảng huỷ bỏ kế hoạch từ trung ương và để thị trường có ảnh hưởng mạnh hơn - quá trình giờ đây được gọi là đổi mới, có nghĩa đen là "chuyển sang một cái mới hơn", nhưng thường được diễn giải là "cải tổ". Dần dần thị trường "tự do" song song đã chiếm thế thượng phong, cho phép một sự chuyển biến ra khỏi những kế hoạch của trung ương kiểu cũ một cách êm thấm hơn so với những quốc gia xã hội chủ nghĩa khác. Một chương trình cải cách ruộng đất sâu rộng đã cho phép nông dân quản lý ruộng của mình, sản lượng nông nghiệp (chiếm 40 phần trăm tổng sản lượng kinh tế) [5] bùng nổ, Việt Nam rút quân ra khỏi Cambodia và tái lập quan hệ với Trung Quốc, và nước này cũng đã cho phép tái lập việc nhập hàng giá rẻ dọc theo biên giới phía bắc [6]. Hoà bình cho phép cắt giảm lớn trong chi phí quân sự và sự suy giảm viện trợ của Liên Xô nói chung đã bắt buộc phải cắt giảm mạnh hơn chi phí xã hội. Đến năm 1991, lạm phát đã giảm xuống đến mức có thể kiểm soát được.

    Nhưng nếu quá trình chuyển biến được xem là nhẹ nhàng thì nó cũng quá chậm rãi, rối rắm và mâu thuẫn. Thật nực cười khi Việt Nam thường được xem là một điển hình sáng của việc đổi mới kinh tế. Thực tế dường như ngược lại. Sự chuyển đổi của Việt Nam đã được đánh dấu bằng việc tăng cường quản lý của nhà nước vào kinh tế bằng những nỗ lực mạnh mẽ nhằm điều khiển nền kinh tế từ trung ương và quyết tâm của Đảng trong việc từ tìm một con đường độc lập, bỏ qua những lời khuyên của Ngân hàng Thế giới, Quĩ Tiền tệ Quốc tế và những tổ chức hậu thuẫn cho chủ nghĩa tư bản tự do laisez-faire. Trong mọi khủng hoảng và lựa chọn, ưu tiên của Đảng vẫn luôn là sự tồn tại của mình. Sự cần thiết phải làm vừa lòng giới phản kháng, san xẻ tăng trưởng và giảm bớt sự bất bình đẳng vùng miền luôn luôn được dùng để phủ định những kêu gọi cho việc mở cửa hơn nữa, xoá bớt kiểm soát hoặc theo đuổi phát triển kinh tế cá thể. Cho đến nay, kết quả là một tổng hợp của tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và ổn định chính trị mà những quốc gia đang phát triển không thể sánh kịp. Theo lời của Hồ Chí Minh, đấy là: "thành công, thành công, đại thành công."

    Trong khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ ở châu Âu, thì chính các nhà tư bản ngoại quốc và các tổ chức viện trợ quốc tế lại là người giúp Đảng Cộng sản giữ nguyên quyền lực ở Việt Nam. Trong năm 1981, viện trợ từ Liên Xô cung cấp khoảng 40 phần trăm ngân sách nhà nước. Đến năm 1991, nó đã bị cắt đứt hoàn toàn. Đảng tuyên bố Việt Nam mở cửa cho đầu tư nước ngoài và sự kết hợp giữa lương lao động rẻ, nhà máy làm việc dưới công suất và vị thế địa lý lý tưởng đã trở nên quá hấp dẫn để các tập đoàn nước ngoài có thể bỏ qua. Nhưng ngay cả tại thời điểm này, chính quyền vẫn giữ quyền kiểm soát, và đầu tư nước ngoài được đưa vào những liên doanh với các công ty nhà nước. Trong mọi quốc gia cộng sản từng mở cửa thay đổi kinh tế, tỉ lệ thành phần kinh tế do nhà nước kiểm soát đều giảm thiểu. Nhưng tại Việt Nam nó lại tăng lên: từ 39 phần trăm trong năm 1992 lên đến 41 phần trăm vào năm 2003 - không kể đến những công ty đầu tư ngoại quốc, vốn thường là những liên doanh với CTNN [7]. Nhưng không như những quốc gia khác, nhà nước kiểm soát không có nghĩa là kinh tế trì trệ - tăng trưởng đã nhảy vọt lên 8 phần trăm mỗi năm. Sự bùng nổ này đặc biệt mạnh mẽ ở miền nam. Cho đến cuối thập niên, các công ty nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp khoảng phân nửa ngân sách của quốc gia. Có nghĩa là Sài Gòn và những vùng phụ cận đã gánh lấy vai trò của Liên Xô hai thập niên trước.

    Trên hầu hết các quốc gia khác, khi thành phần nhà nước trong kinh tế tăng cao thì thường dẫn đến đình trệ, khủng hoảng ngân sách và lạm phát phi mã. Việt Nam không như thế bởi vì những công ty nhà nước hoạt động với hầu như không có hậu thuẫn của chính quyền; đến nỗi các "ông chủ" - gồm các bộ trung ương, chính quyền các tỉnh, các cơ cấu của Đảng, vân vân... - đối xử với họ như là những công ty tư nhân, mặc dù chúng có những ưu tiên trong việc vay vốn ngân hàng nhà nước cũng như được các cơ quan chính phủ bảo vệ. Adam Fforde, nhà phân tích hàng đầu về kinh tế Việt Nam, gọi chúng là "những công ty cổ phần ảo". Chúng làm ra lợi nhuận, mở rộng và đa dạng hoá: ngành xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp bốn lần từ 1990 đến 1996 [8]. Các giám đốc của chúng thương lượng hợp đồng, mua chuộc những thành phần bảo kê và làm giàu. Rất dễ dàng cho những ai có mối quan hệ tốt dập tắt các đối thủ cạnh tranh, những mặt hàng xuất khẩu hoặc những người ngoại quốc chân ướt chân ráo. Tham nhũng trở thành đại bệnh, các ngân hàng nhà nước vung tiền cho vay và một số công ty tìm cách biến thành những tiểu đế chế - đến nỗi, trong một số trường hợp, chúng đã thiết lập những liên doanh ngầm với những nhà đầu tư bí mật và qua mặt sự kiểm soát của nhà nước, vốn là chủ nhân của chúng. Trong những trường hợp tồi tệ nhất, một số tập đoàn này trở thành những tội phạm chính hiệu.

    Đây không phải kiểu mà các nhà tài trợ quốc tế mong muốn. Từ năm 1993, khi việc chấm dứt cấm vận của Hoa Kỳ cho phép Ngân hàng Thế giới tái lập việc cho Việt Nam vay vốn, cơ quan này - cùng với Quỹ Tiền tệ Quốc tế - từng tìm cách thuyết phục chính phủ đi theo công thức cố hữu về mở cửa thị trường. Năm 1996 Ngân hàng Thế giới, chính phủ và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã đồng ý một Văn bản Chính sách Khung chung, thiết lập những bước cần phải làm. Nó đã không được thi hành. Có rất nhiều người trong Đảng phản đối bất cứ nỗ lực nào nhằm hạ thấp vị trí của các CTNN hoặc mở cửa cho nền kinh tế chịu ảnh hưởng quá nhiều từ nước ngoài. Mô hình kiểu mẫu trước đấy của Ngân hàng Thế giới là Indonesia đã lâm vào tình trạng suy sụp kinh tế khi tìm cách làm việc tương tự này trong năm 1997, làm tăng thêm những khó khăn. Ngân hàng Thế giới đã đề xuất cho vay 300 triệu Mỹ kim dưới hình thức Nợ Điều chỉnh Khung. Việt Nam đã từ chối thẳng. Quốc gia này có quá ít nợ và đã kiếm đủ tiền qua xuất khẩu cũng như đầu tư nước ngoài để phải cần đến tiền mặt. Ngân hàng Thế giới, vốn không quen bị từ chối, đã phải cụp đuôi bỏ đi.

    Đến cuối năm 1998 Ngân hàng Thế giới đã quay lại. Cơ quan này và những nhà tài trợ khác đề xuất với Việt Nam một khoản phụ trợ tăng cường 500 triệu Mỹ kim (bên cạnh 2,2 tỉ tài trợ không điều kiện) nếu quốc gia này đồng ý thực thi một kế hoạch nhằm bán hết các CTNN còn lại, tái cơ cấu lĩnh vực ngân hàng nhà nước và đưa ra một chương trình cải cách thương mại. Chính phủ đã đồng ý với điều kiện trên nhưng lại không làm gì để thực hiện. Đòi hỏi trên quá lớn để những thế lực chính trong Đảng có thể chấp nhận. Tháng Mười Hai 1999, các nhà tài trợ còn hứa sẽ tăng thêm - 700 triệu Mỹ kim - nếu chính quyền chịu làm theo những đề xuất của họ. Câu trả lời đã không cho thấy có thể thương lượng được. Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư Trần Xuân Giá đã nói với các phóng viên, "Anh không thể mua sự cải cách bằng tiền... không ai có quyền ép buộc Việt Nam làm bất cứ việc gì." [9] Không thể có ví dụ nào rõ hơn về các ưu tiên hàng đầu của Đảng. Trong vòng ba năm, họ đã từ chối tổng cộng 1,5 tỉ Mỹ kim vì muốn đặt ổn định chính trị lên trên việc mở cửa thị trường. Mặc dù Ngân hàng Thế giới tiếp tục cho vay những viện trợ lớn khác mà không có điều kiện kèm theo, họ đã thất bại trong việc đòi hỏi các điều kiện của mình. Việt Nam đã đối đầu trực diện với một cơ quan quyền uy từ Washington và đã thắng. Ngân hàng Thế giới đã đi đến kết luận rằng hợp tác với Đảng thì dễ dàng hơn là đối đầu với họ.

    Nhưng trong khi cuộc chiến với Ngân hàng Thế giới vẫn đang tiếp diễn, Đảng đã bắt đầu nhận ra rằng ngay cả với đầu tư từ nước ngoài, lĩnh vực kinh doanh của nhà nước vẫn không thể cung cấp nổi một triệu việc làm mỗi năm. Và họ đã có một quyết định lịch sử: cho phép lĩnh vực tư nhân phát triển. Vào tháng Năm 1999, bộ Luật Doanh nghiệp mới được thông qua, dẹp bỏ hầu hết những thủ tục quan liêu phiền hà từng cản trở các công ty tư nhân trong việc đăng ký chính thức. Khi luật này có tác dụng vào ngày 1 tháng Giêng 2000, nó đã có tác dụng tức khắc: trong vòng năm năm sau đã có 160 nghìn doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Đa số là những công ty không có môn bài đã ra đời trước đấy, nay tận dụng cơ hội của luật mới để ghi danh. Dù sao, bộ luật này cũng có nghĩa là lĩnh vực tư nhân cuối cùng đã có mặt tại Việt Nam - 20 năm sau khi quá trình cải tổ kinh tế bắt đầu. Với nhận thức muộn màng, có lẽ sự chậm trễ này đã cho phép những doanh nghiệp tiểu thương có thời gian để tích luỹ nguồn vốn và kinh nghiệm trước khi cú sốc đột ngột của cơ chế thị trường tự do đè bẹp họ xuống đáy. Việt Nam đã thành công hơn nhiều trong khía cạnh này so với những nền kinh tế "chuyển tiếp" khác.

    Với việc thả lỏng khu vực tư nhân, cuộc đại chiến cuối cùng trong Đảng là cần mở rộng cửa đến tầm mức nào trước nền thương mại quốc tế. Nó được lộ rõ quanh việc có nên ký bản Hiệp ước Thương mại Song phương với Hoa Kỳ hay không. Các cuộc đàm phán đã bắt đầu từ năm 1995, bị Hà Nội bác bỏ vào năm 1997, nhưng sau đó đã được tiếp tục. Sau chín tháng ròng đàm phán - cuộc họp cuối cùng vào tháng Bảy 1999 kéo dài suốt 17 tiếng đồng hồ - hai bên đã đồng ý một thoả thuận được xem là bản hợp đồng thương mại phức tạp nhất trong lịch sử Hoa Kỳ với 100 trang. Một nhân vật chủ chốt phía Việt Nam lúc ấy là Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Lần nào cũng thế, mỗi khi cuộc đàm phán lâm vào điểm bế tắc, người Mỹ liền liên lạc trực tiếp với ông và mọi cản trở liền được giải toả [10] Nhưng thoả thuận của Dũng đã không làm hài lòng một số thành phần trong Đảng vốn vẫn có ác cảm với đầu tư ngoại quốc và Hoa Kỳ. Một buổi lễ ký kết chính thức đã được dự định tổ chức tại hội nghị Châu Á - Thái Bình Dương trong năm đó - nhưng đã bị huỷ bỏ vào phút cuối vì các nhân vật chủ chốt đòi hỏi nội dung bản ký kết cần được xem xét lại bởi cơ quan soạn thảo chính sách của Đảng là Uỷ ban Trung ương. Mãi cho đến tháng Bảy 2000 Uỷ ban Trung ương mới đồng ý ký duyệt. Đấy là một cuộc họp rất quan trọng. Không những Uỷ ban Trung ương đồng ý với nội dung bản Hiệp ước, họ cũng đã thông qua việc mở cửa một thị trường chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ lúc ấy trở đi tăng trưởng trong khu vực tư nhân đã qua mặt lĩnh vực của nhà nước và tiếp tục đi lên cho đến nay [11]. Việt Nam đã được đặt trên con đường hướng tới giao tiếp thương mại quốc tế và từ đó đã dẫn đến (sau những đàm phán dài) việc được nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng Giêng 2007. Lúc đấy Nguyễn Tấn Dũng, người đã giúp Hoa Kỳ thương thảo Hiệp ước Thương mại Song phương, đã là Thủ tướng, là người dẫn đầu quá trình cải cách và con gái ông đã đứng đầu một ngân hàng đầu tư.

    (còn tiếp)
    _____________________________

    Chú thích:

    1. Chuyện về những năm đầu đổi mới kinh tế dựa trên những nghiên cứu của Adam Fforde. Xem Chương I của cuốn sách do ông viết: Công nghiệp Nhà nước Việt Nam và nền Chính trị Kinh tế của Phục hưng Thương mại: Răng Rồng hay Trứng Thối?, Oxford: Chandos; 2007

    2. Phần mở đầu của Chỉ thị Nhà nước 188-HDBT, trích trang 36.

    3. Adam Fforde cho rằng khái niệm này được sử dụng đầu tiên bởi hai nhà kinh tế Dam Van Nhue và Le Si Thiep vào năm 1981 trong một bài viết đăng trong Tạp Chí Kinh Tế số 10, Bộ thứ 5.

    4. Nguyen Tri Hung, Nạn Lạm phát trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam Bài Thảo luận 22, Trung tâm Nghiên cứu ASEAN, Đại học Antwerp, Tháng Giêng 1999, http://webh01.ua.bc/cas/PDF/CAS22.PDF

    5. David Dollar, Paul Glewwe và Jennie Ilene Lietvack, Đời sống Gia đình và Thời kỳ Quá độ ở Việt Nam, Bài viết Kỹ thuật của Ngân hàng Thế giới 389, 1998.

    6. Fforde, Công nghiệp Nhà nước Việt Nam, tr. 43.

    7. Trích nguyên văn từ thống kê của chính phủ Việt Nam, tr. xxiii.

    8. Martin Gainsborough, "Những vấn đề chủ yếu trong nền kinh tế chính trị của Đổi Mới", trong cuốn Thẩm định Việt Nam, London và New York: Routledge Cuon, 2004, tr.43.

    9. Agence France Presse, 15.12.1999. Trích từ Carlyle Thayer, "Chủ nghĩa thụ động: tương lai của đổi mới". Văn bản trình bày tại Học viện Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp Nitze, 11.2001. http://www.vpa-inc.org/conference/pdf/thayer.pdf

    10. Carl Thayer, "Sự hoà nhập của Việt Nam vào trongkhu vực và cơn khủng hoảng tài chính châu Á". Bài phát biểu tại Hội nghị EuroViet 4, Passau, Đức, 16.09.1999. http://www.unsw.adfa.edu.au/hass/ima...ct/vietnam.pdf

    11. Gainsborough, "Những vấn đề trọng yếu", tr. 50.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi