Nguyễn Ngọc Già - Mạn đàm với Tiến Sĩ Trần Nhơn (phần I)

  • Bởi Admin
    12/05/2010
    0 phản hồi

    Nguyễn Ngọc Già

    Thưa ông, sau khi đã đọc xong toàn bộ luận văn của ông qua bốn bài viết với năm phần, tôi mạo muội có đôi lời với ông căn cứ theo khung dàn bài mà ông đưa ra.

    Thưa thật với ông, thời tôi nghiên cứu (chắc là sau ông khá xa) cũng là thời mà khoa học kỹ thuật còn rất kém đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam bị cô lập, nghèo khó và cấm vận cách đây hơn 30 năm, nên tôi chỉ xin phép dùng hình thức "mạn đàm" để thưa với ông câu chuyện về Triết học Marx, bởi lẽ không còn tài liệu lưu trữ để xác tín. Hình thức "mạn đàm" chủ yếu bằng trí nhớ và tri thức tích lũy về một vấn đề nào đó và danh dự cá nhân để nói lên quan điểm riêng.

    Trước tiên, theo lời dẫn của ông Vũ Duy Phú (biên tập cho luận văn của ông), thì bài luận này đã được gởi cho Ban chấp hành TƯ ĐCSVN vào ngày 22-3-2009 nhân sắp đại hội XI, ba tháng sau, ông lại có “Tâm Ngôn” gửi đảng, có lẽ khoảng tháng 6/2009 ? Nếu điều này là không lầm lẫn thì bài luận của ông đã có phản hồi từ nơi được gởi đi chưa, thưa ông? nếu có thì tôi xin phép được xem để khi phản biện với ông đảm bảo những phân tích, dẫn chứng xác thực hơn. Tuy nhiên, tôi tạm coi bài luận của ông chưa có phản hồi từ phía ban chấp hành TƯĐCSVN cho đến hiện nay (tháng 5/2010 -đã gần một năm).

    Thứ hai, tại phần 1.1, ông nói qua khái quát học thuyết Marx có bốn phần chính a,b,c,d là lầm lẫn và cách phân chia của ông không phải là cách mà các sách vở chính thống của Nhà nước Cộng sản giảng dạy. Thưa ông, học thuyết Marx - Lénine có ba bộ phận chính sau đây :

    - Triết học gồm: Triết học duy vật biện chứng và Triết học duy vật lịch sử
    - Kinh tế - chính trị học gồm : Kinh tế chính trị học phần chủ nghĩa tư bản và Kinh tế chinh trị học phần chủ nghĩa xã hội
    - Chủ nghĩa cộng sản khoa học.

    Đó là những giáo trình chính thống của Nhà nước được giảng dạy đại trà, đầy đủ cho tất cả các trường Đại học trên toàn quốc (đặc biệt đối với các trường khối kinh tế, sinh viên thời trước 1990 phải học với thời lượng gấp ba lần so với sinh viên các khối trường khoa học kỹ thuật dù cùng vào một khóa). Vì sao tôi đề cập trước 1990, vì hầu như tất cả các vị trong Bộ Chính Trị hiện nay đều được học về học thuyết Marx theo kiểu cũ trước cả thập niên 90, mà theo tôi biết họ học tập về Marx vào những năm 70 - 80 của thế kỷ trước. Phần cương lĩnh năm 1991 do ông Nguyễn Phú Trọng chủ biên soạn thảo cũng đã nêu rõ cái cách dò dẫm theo Chủ nghĩa Marx. Không riêng ông Trọng, 15 người đang ở trong bộ chính trị hiện nay có đủ thời gian để nghiên cứu sâu sát và thấu hiểu Marx hay chưa cũng là điều cần phải xem lại.

    Thưa ông,

    Theo ông: "Học thuyết Mác có những bộ phận chính sau đây: a) Triết học, b) Chính trị, kinh tế, xã hội học, c) Giai cấp và giai cấp đấu tranh, d) Chủ nghĩa Mác về đấu tranh giai cấp (Chủ nghĩa Cộng sản) v.v…"

    Theo tôi ngay từ đầu ông đã phân chia chưa đúng những gì thuộc học thuyết Marx.

    Phần a, ông đã dẫn chưa đủ hai phần triết học của Marx. Đây chính là hai phần cơ bản làm nên học thuyết Marx và cũng là hai phần mâu thuẫn nhau đến độ tôi cho rằng phần duy vật lịch sử đã bị bóp méo và được ấn vào tay Marx, mà không phải do Marx tự viết ra (tôi sẽ phân tích sau về mâu thuẫn giữa hai phần duy vật biện chứng và duy vật lịch sử).

    Trong phần duy vật biện chứng, tôi xin điểm qua 3 quy luật cơ bản và sáu cặp phạm trù để tiện dẫn giải và phản biện, phân tích tại sao duy vật lịch sử mâu thuẫn rất nhiều với duy vật biện chứng mà Marx không lẽ có thể tự mình mâu thuẫn với mình như thế:

    * Ba quy luật:

    - Quy Luật 1: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
    - Quy Luật 2: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất (mà người ta hay gọi tắt là quy luật lượng đổi chất đổi)
    - Quy luật 3: Quy luật phủ định của phủ định

    * Sáu cặp phạm trù:

    1- Cái riêng - cái chung - cái đơn nhất.
    2- Nguyên nhân - kết quả.
    3- Tất nhiên - ngẫu nhiên.
    4- Nội dung - hình thức.
    5- Bản chất - hiện tượng.
    6- Khả năng - hiện thực.

    Tôi chỉ xin tóm lại, ba quy luật và sáu cặp phạm trù của Marx đưa ra để nói rằng, theo Marx mọi sự vật hiện tượng luôn :"Vận động là tuyệt đối, đứng yên là tương đối". Các mặt đối lập luôn đấu tranh để thống nhất, thống nhất xong lại đấu tranh để cho ra đời cái hay hơn, tốt hơn theo "vòng xoáy trôn ốc", cái sau luôn mang một ít dáng dấp cái trước nhưng tiến bộ hơn, văn minh hơn, hợp thời đại hơn từ đó để Marx khẳng định bằng quy luật thứ hai, chất chỉ đổi khi lượng đã đổi đủ, theo đó không bao giờ nên phủ định sạch trơn bất cứ sự vật hiện tượng nào thông qua quy luật thứ ba. Đó cũng là cách sắp xếp theo thứ tự quan trọng và biện chứng giữa 3 quy luật này. Tất nhiên, quy luật quan trọng nhất là quy luật 1. Không có nó thì không có quy luật hai và ba. Quy luật hai và ba tác động trở lại quy luật một và hai quy luật này tác động lẫn nhau để bảo đảm đó là một quá trình vận động liên tục không ngừng. Điều này cũng phù hợp và nhất quán với bài học nhập môn đầu tiên "Vật chất và ý thức", theo Marx vật chất quyết định ý thức và ý thức có tác động trở lại đối với vật chất - Marx cho đó là mối quan hệ hữu cơ.

    Phần b, Marx chỉ có bộ "Tư bản luận", còn cái gọi là "Kinh tế - chính trị học" như tôi trình bày là tài liệu của các "nhà kinh tế -chính trị học" thời sau Marx viết ra căn cứ vào bộ "Tư bản luận của Marx", Marx không hề viết bất cứ học thuyết "Kinh tế - chính trị học", cũng không có cái "Chính trị, kinh tế, xã hội học" như ông trình bày. Tại đây tôi xin nhấn mạnh, cái dấu gạch ngang giữa kinh tế và chính trị để các nhà "kinh tế - chính trị học" nhấn mạnh vai trò không thể tách rời giữa kinh tế (Vật chất) và chính trị (ý thức) nhằm phản ánh đúng tinh thần của Triết học Marx (phần duy vật biện chứng).

    Phần c và phần d như ông trình bày, thật ra nó nằm trong "Chủ nghĩa cộng sản khoa học" cũng do thời sau Marx viết.

    Tóm lại, cách phân chia của ông cho thấy ông chưa nắm rõ về học thuyết Marx.

    Tôi nhớ, cách đây hơn 30 năm, khi lần đầu tiên tôi thi vấn đáp môn Triết học Marx, đó là những kỷ niệm, suốt đời tôi không bao giờ quên, đó cũng là lý do tại sao gần 30 năm qua tôi vẫn nhớ như in để có cuộc mạn đàm với ông hôm nay. Tôi xin phép kể lại câu chuyện.

    Chúng tôi, những tân sinh viên lần đầu thi một môn học mà đứa nào cũng thấy khó hiểu nên chuẩn bị khá kỹ bằng cách cố gắng... học thuộc lòng (!)học mà không hiểu thì học thuộc lòng càng khó. Thôi thì cố vậy chẳng có cách nào hơn.

    Ngay buổi thi đầu tiên. Đứa bạn thứ nhất bước ra khỏi phòng, đám bạn xúm lại hỏi:

    Câu chuyện thứ nhất:

    - Sao, mày bốc câu gì? thầy hỏi sao?
    - Câu "vật chất và ý thức".
    - Vậy ngon rồi. Sao tiu nghỉu vậy.
    - Tao cũng thấy ngon. Trả lời ro ro như trong sách.
    - Rồi sao?
    - Thì ông thầy nghe chăm chú. Xong ổng vừa cười vừa móc túi lấy ra tờ giấy bạc và hỏi :"Theo em, tờ giấy bạc này có phải là vật chất không?"
    - Tao trả lời: "Dạ phải.
    - Rồi sao?
    - Ông cho tao 4 điểm và bảo về học lại.
    - Rồi mày có hỏi sao không?
    - Có. Ổng nói :"Em nói vậy, hóa ra tiền quyết định ý thức sao?" Vậy thì người ta nói tiền quyết định ý thức cho rồi chứ cần gì nói vật chất quyết định ý thức!!!
    - Rồi sao nữa?
    - Lẽ ra mình phải nói tiền là một dạng của vật chất thì mới đúng.

    Câu chuyện thứ hai:

    Một đứa bạn khác lại bước ra

    - Sao rồi mậy?
    - Tao bốc trúng câu "quy luật phủ định của phủ định"
    - Rồi trả lời sao?
    - Thì cũng ro ro như trong sách vở.
    - Rồi ông thầy hỏi sao?
    - Ông cũng nghe tao trình bày một cách chăm chú và hỏi rằng:"Vậy tôi hỏi em, cái quần ống túm có phủ định cái quần ống loe không?"
    - Rồi mày trả lời sao?
    - Tao ngần ngừ rồi nói"Em nghĩ không phải"
    - Ông thầy nói "Vậy em giải thích xem tại sao không phải?"
    - Tao không giải thích được nhưng vẫn giữ ý kiến.
    - Rồi sao?
    - Ổng cho 6 điểm và giải thích. Vì cái quần ống túm hay ống loe cũng đều là cái quần, dùng để che thân, nó không hề thay đổi bản chất nên không thể là "quy luật phủ định của phủ định" được.

    Câu chuyện thứ ba:

    Đứa bạn thứ ba bước ra.

    - Tao bốc câu "lượng đổi chất đổi", cũng trả lời ro ro
    - Biết rồi, nhưng ông thầy hỏi sao?
    - Ổng hỏi:"Giả dụ bây giờ cái đuôi ngựa, em nhổ vài sợi lông đuôi của nó thì đó có phải là quy luật lượng đổi chất đổi không?
    - Tao trả lời: không. Ổng biểu giải thích
    - Tao nói: Thưa thầy, nhổ vài sợi lông đuôi thì nó vẫn là cái đuôi ngựa, khi nào nhổ hết gần 2/3 hay cắt trụi lúc đó lượng đổi (số sợi lông đuôi) thì chất mới đổi (cái đuôi ngựa không còn là cái đuôi ngựa nữa, đuôi ngựa không còn giữ đúng bản chất là đuôi ngựa). Chín điểm.

    Đó là những câu chuyện triết học ứng dụng kể cho vui , chứ tôi nghĩ ông chắc còn rành hơn tôi, mục đích tôi kể cho một ít độc giả Dân Luận để chia sẻ một việc nhỏ: Triết học không khô khan, khó hiểu nếu giảng viên biết giúp sinh viên nhận ra từ những việc đơn giản, gần gũi trong cuộc sống rồi hãy nói đến những cái cao siêu hơn, lúc đó triết học sẽ rất thú vị. Tôi chỉ tiếc là đa số giảng viên dạy triết không tìm những ví dụ, câu hỏi đời thường, gần gũi cuộc sống như giảng viên ngày xưa của tôi, do đó làm cho sinh viên chán học Triết vì thấy khô khan, khó hiểu và vô vị chẳng có ý nghĩa gì trong cuộc sống. Điều quan trọng là giảng viên phải làm cho sinh viên nhận ra triết học luôn ở quanh ta, từ những cái nhỏ nhặt nhất mà ta thấy hứng thú với môn học này thì ta sẽ đào sâu nâng cao tri thức về môn học bổ ích này cho tầm cao hơn đó là triết học ứng dụng trong chính trị, trong tự nhiên, trong quan hệ xã hội, trong y học (chữa bệnh bằng tâm lý) và còn nhiều ngành học khác rất cần đến triết học nói chung và triết học Marx nói riêng (theo thiển ý của tôi, tôi chỉ chấp nhận phần duy vật biện chứng là khoa học, còn duy vật lịch sử hoàn toàn bóp méo, không phải của Marx).

    Hẹn ông kỳ sau sẽ mạn đàm tiếp.

    Nguyễn Ngọc
    (không phải nhà văn Nguyên Ngọc :D)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi