Bỉ Nhân - Tốc độ của phép biện chứng

  • Bởi Khách
    12/05/2010
    0 phản hồi

    Bỉ Nhân

    Những người marxist đã sử dụng phép biện chứng của triết học duy vật vốn cơ bản đúng trong giải thích thế giới tự nhiên để chứng minh cho sự vận động của lịch sử xã hội và trên cơ sở đó hình thành cái gọi là triết học duy vật sử quan hay duy vật lịch sử. Thông qua sự tác động qua lại của một số phạm trù, đặc biệt là phạm trù nhân – quả, lịch sử được giải thích như một một chuỗi công thức toán học (các hàm số, phương trình phát triển lịch sử). Trong chuỗi vận động, tiến hóa ấy, một sự kiện, một giai đoạn có thể là quả của những nguyên nhân xác định được và có thể là nhân của một quả sau đó cũng dự báo được. Một trong những cái làm nên giá trị nguyên nhân của một sự kiện, một giai đoạn lịch sử là mâu thuẫn trong nó, mâu thuẫn giữa nó với các sự kiện liên quan. Các mâu thuẫn thường được nói đến là mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giữa hạ tằng cơ sở và thượng tầng kiến trúc của một thời kỳ, một giai đoạn, một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế - xã hội, một phương thức sản xuất…

    Từ cách giải thích đó, lịch sử xã hội loài người được chủ nghĩa Marx dựng lại trong một kịch bản với 5 hình thái – 5 thời kỳ phát triển mà tất cả những người nhập môn nào cũng biết. Tuy nhiên, trong sự khái quát đó, những người marxist cũng không chứng minh được tính phổ quát của lịch sử phát triển (có những ngoại lệ về kiểu phát triển và có những ngoại lệ chứng tỏ không phát triển) và mặt khác, không xác định được tốc độ của các vận động biện chứng đó. Cụ thể, trong lịch sử, có những trường hợp có bản chất mâu thuẫn như nhau nhưng lại vận động theo các kiểu khác nhau, tốc độ khác nhau hoặc chẳng phát triển gì cả (chẳng hạn sự tồn tại của những hình thái xã hội nguyên thủy cho đến hiện nay). Do bất lực đó, các nhà sáng lập chủ nghĩa marx đã bỏ ngỏ cái gọi là “phương thức sản xuất châu Á “, hoặc cho đến nay vẫn chưa giải thích được nguyên nhân của sự hình thành các nhà nước và dân tộc ở khu vực này mà không phụ thuộc vào cuộc cách mạng tư sản, hoặc ngay khi nhận định chuẩn bị cho cách mạng Nga năm 1917, họ đã nói đến khả năng thành công của cách mạng vô sản ở khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản (tức nước Nga) mà đúng ra về lý thuyết, nó chỉ có thể thành công ở khâu mạnh nhất vì ở đó mâu thuẫn mới đến ngưỡng. Khái niệm thời cơ được đưa ra giải thích cho trường hợp này hoặc một loạt sự kiện sau 1945 chỉ là ngụy biện và do đó không biện chứng vì trong phép biện chứng không có qui hoạch cho thời cơ và bản thân thời cơ theo nghĩa đó lại nằm trong một chuỗi biện chứng khác.

    Cũng do bế tắc nên trong kịch bản lịch sử sau cách mạng vô sản đã nảy sinh một số khái niệm tù mù như chủ nghĩa xã hội, giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bước đầu của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những khái niệm gắn với định hướng và mô hình phát triển xã hội như vậy hoàn toàn không có trong trước tác của Marx. Nó có mục đích tình thế sau khi những người cộng sản không thể hướng xã hội theo quĩ đạo và tốc độ của chủ nghĩa cộng sản như đã dự báo và mong muốn. Và cho đến nay, khi một số nước vẫn kiên trì về mặt quyết tâm chính trị (mà thực chất là để làm chỗ dựa cho sự ổn định quyền lực theo từng nhiệm kỳ), họ vẫn không trả lời được với nhân dân về hình ảnh của xã hội mới cũng như thời gian phải tiêu tốn để đến được xã hội ấy. Nếu tính toán được các yếu tố “nhân” để đạt được “quả” một cách chắc chắn, nhân dân có thể sẽ hào hứng đầu tư cùng với hệ thống chính trị những gì cần thiết để có được sản phẩm ăn chắc. Song cho đến nay, những người lãnh đạo vẫn giữ bí mật cấu trúc của cái “nhân” ấy, trong khi có người như Hugo Chavez lại còn muốn thành lập Quốc tế V.

    Bỉ Nhân

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi