Tiến sĩ Trần Nhơn - Tài liệu đặc biệt, góp phần chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ mười một (phần 3)

  • Bởi Khách
    07/05/2010
    0 phản hồi

    Trần Nhơn<br />
    Vũ Duy Phú biên tập

    Tuy nhiên, CM tháng 8 thành công, trước hết là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước VN, là sự kết hợp rất tài tình với phong trào giải phóng dân tộc, sau đó mới là sự vận dụng khéo léo những phần phù hợp với VN của CN Mác – Lê theo trào lưu mới nhen nhóm cách mạng XHCN trên thế giới. Nói thắng lợi của CM dân tộc, dân chủ Việt Nam chủ yếu là thắng lợi của việc vận dụng CN Mác Lê vào VN là không hoàn toàn chính xác, là nhầm lẫn, gây ra sự hàm ơn trên mức cần thiết vào chủ nghĩa này và tạo ra tư duy “kiên trì”, chung thuỷ thiếu căn cứ, thậm chí là cố chấp trong tranh luận, và trong tư duy chỉ đạo chiến lược phát triển.

    3. Việt nam không thể có CNXH đích thực nếu vẫn vận dụng duy nhất mỗi một CN Mác Lê, mà cần phải đổi mới đồng bộ để tiến lên nhanh hơn.

    1. Nên thống nhất ngay, cách mạng nước ta bắt đầu từ Cách mạng tháng 8 với mục tiêu giành Độc lập Dân tộc, ở một đất nước thuộc địa, nửa phong kiến lạc hậu, 95% dân số là nông dân, gần 100% dân số là mù chữ, chưa hình thành giai cấp tư sản và giai cấp công nhân (Chưa có CNTB và chưa có dân chủ tư sản). Vì vậy không có chuyện vận dụng chủ nghĩa Mác về đấu tranh giai cấp giữa tư sản và công nhân vào nước ta ngay từ 1944 - 1945! CM tháng 8 chỉ là cách mạng giải quyết mâu thuẫn giữa Dân tộc VN với bọn thực dân phong kiến.

    2. Hồ Chí Minh đi theo Quốc tế I, vì thấy ở đây có lý tưởng giải phóng nhân dân lao động cần lao; Hồ Chí Minh đi theo Quốc tế III, vì thấy ở đây có chủ trương giải phóng các dân tộc thuộc địa; Hồ Chí Minh đi theo Liên Xô và Trung quốc, vì thấy ở những nơi đó có chung lý tưởng và mục đích giải phóng nhân dân lao động, chấn hưng đất nước, xây dựng CNXH. Thấy trong tương lai họ sẽ là chỗ dựa cho công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước sau này của Việt nam.

    3. Quá trình hình thành con người, trí tuệ và lý tưởng của Hồ Chí Minh đầu tiên là từ chủ nghĩa yêu nước, với tầm hiểu biết và tư duy văn hoá Á đông rất sâu sắc; quá trình hình thành dần dần phần “cộng sản” trong con người Hồ Chí Minh là quá trình nhận thức về CN Mác, về Lênin, về những cái phù hợp, những cái không phù hợp vào những hoàn cảnh khác nhau thông qua nghiên cứu tư liệu, tham gia công tác với QT III và trải nghiệm tại thực địa Việt nam, Châu Âu, Liên xô (cũ) và Trung Quốc. Hồ Chí Minh, do xuất sứ và sự lỗi lạc của mình, từ rất sớm đã không là một người giáo điều, kinh kệ, không chỉ vận dụng riêng một CN Mác Lê. Về nhiều mặt, Hồ Chí Minh hiểu cách mạng và dân tộc Việt nam, hiểu CN Mác Lê sâu sắc hơn nhiều lãnh tụ vô sản khác. Điều đó được hình thành trong một quá trình lâu dài suốt mấy chục năm cho đến khi Người về nước lãnh đạo trực tiếp cách mạng Việt nam. Từ đó, Hồ Chí Minh là tổng hoà không chỉ những cái tinh tuý của học thuyết Mác, của Lênin, mà còn của các học thuyết và chủ nghía nhân văn khác, nhưng trước hết Người là một người Việt nam yêu nước, một lãnh tụ của cách mạng VN. Hồ Chí Minh không ít lần đã tự vượt qua chính mình. Xưa nay, không nhất thiết những lãnh tụ, những người đưa ra các chủ thuyết phải có những tác phẩm viết lớn. Tất cả tư tưởng, tư duy của Người, đường lối cách mạng do Người đưa ra dẫn đến CM tháng 8 thành công và mấy cuộc kháng chiến thắng lợi, những tư duy sâu sắc dùng để xây dựng hiến pháp VN đầu tiên và lập chính phủ liên hiệp 1946, trong các tác phẩm và Di chúc của Người, đủ để hình thành một học thuyết cho cách mạng VN, và cho cách mạng giải phóng dân tộc của nhiều nước trên thế giới, làm cơ sở để xây dựng một chế độ Dân chủ cộng hoà. Vậy nói gọn là Học thuyết Hồ Chí Minh cũng rất đủ tầm, rất xứng đáng làm nền tảng lý luận cho việc xây dựng một nhà nước dân chủ cộng hoà, nền tảng chính trị - xã hội để từ đó xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, mà phía ta và Loài người nói chung, gọi là CNXH.

    4. CM tháng 8 ngẫu nhiên trùng hợp với biện pháp đấu tranh bạo lực giành chính quyền của Quốc tế I và Quốc tế III. Tuy nhiên, CM tháng 8 thành công, trước hết là thắng lợi của chủ nghiã yêu nước VN, là sự kết hợp rất tài tình với phong trào giải phóng dân tộc, sau đó mới là sự vận dụng khéo léo những phần phù hợp với VN của CN Mác – Lê theo trào lưu mới nhen nhóm cách mạng XHCN trên thế giới. Nói thắng lợi của CM dân tộc, dân chủ Việt Nam chủ yếu là thắng lợi của việc vận dụng CN Mác Lê vào VN là không hoàn toàn chính xác, là nhầm lẫn, gây ra sự hàm ơn trên mức cần thiết vào chủ nghĩa này và tạo ra tư duy “kiên trì”, chung thuỷ thiếu căn cứ, thậm chí là cố chấp trong tranh luận, và trong tư duy chỉ đạo chiến lược phát triển. (Nhưng hàm ơn về sự giúp đỡ (phần chân tình, hiệu quả, không lợi dụng) của LX (cũ), Trung quốc và các nước “XHCN” anh em khác đối với CM dân tộc, dân chủ nước ta lại là việc khác và rất đúng đắn).

    5. Trong thời kỳ có 2 nhiệm vụ chiến lược xen kẽ: vừa xây dựng CNXH ở Miền Bắc, vừa đấu tranh giành độc lập thống nhất tại Miền Nam, nếu thật đúng quy luật, Đảng ta cũng phải vận dụng cùng một lúc 2 đường lối: QT II cho Miền Bắc và cả QT III cho chiến đấu ở Miền Nam (đương nhiên rất khó rạch ròi, bởi vì ngay tại Miền Bắc, muốn làm hậu phương vững chắc, chi viện tốt cho Miền nam, thì vẫn cần vận dụng đường lối QT III) Nhưng chúng ta đã hoà trộn hoàn toàn yêu cầu lãnh đạo cả 2 miền bởi cùng một tư duy và cơ chế chủ yếu dùng cho đấu tranh vũ trang. Sau khi hoà bình thống nhất đất nước, chúng ta vẫn tiếp tục kéo dài tư duy ,đường lối, chính sách của QT I và QT III, thậm chí bị ép sao chép theo mẫu của LX (Stalin) và TQ (Mao Trạch Đông), dẫn đến bao sai lầm, đến tận khi không thể chịu đựng được nữa, mới chịu Đổi mới.

    6. Việt nam tiến hành Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá từ một xã hội chưa có CNTB (cơ sở vật chất tư bản ban đầu), chưa có dân chủ tư sản (nền chính trị, Nhà nước pháp quyền với nền dân chủ tư sản ban đầu). Đó là một đặc điểm đi tắt tạo ra cái khó lớn nhất, tổng quát nhất về phía chủ quan của nước ta hiện nay. Mặc dầu chúng ta đã có những bước tiến dài về nhiều mặt không ai có thể phủ nhận, chúng ta có thể thực hành kinh tế thị trường, công nghiệp hoá rút ngắn trên cơ sở vận dụng rất nhiều những yếu tố kinh tế TBCN lợi dụng tình hình thời thế mới (kinh tế tri thức, hội nhập toàn cầu), song chúng không thể thực hiện “Dân chủ hoá rút ngắn”, khi chúng ta chưa có những yếu tố tối thiểu của dân chủ tư sản, bỏ qua yếu tố thứ hai nói trên để tiến thẳng lên một xã hội tốt đẹp hơn mà chưa ai hình dung ra mô hình của riêng nó!

    Sự “bỏ qua” thời kỳ phát triển chính thể TBCN tức là thể chế Nhà nước pháp quyền và Dân chủ tư sản đã tạo ra một sự biến dạng xã hội ghê gớm: Nếu Xã hội tư bản tiến hoá đồng bộ bằng cả đôi chân đó (Cơ chế thị trường + Dân chủ pháp quyền), thì ta chủ yếu mới đi bằng một chân. Trung quốc cũng vậy. “Râu ông nọ, cắm cằm bà kia”: kinh tế đi theo QT II, nhưng lại định hướng TBCN cổ điển, Chính trị đi theo QT III mang nhiều định hướng “XHCN” kiểu LX cũ, không đồng bộ, làm cho xã hội tuy có lên cấp về cơ sở vật chất, song suy thoái rất rõ về đạo đức xã hội; hiệu quả và hiệu suất phát triển kinh tế rất thấp: rất nhiều đồng vốn bỏ ra mới có một đồng tăng trưởng, và nếu cứ theo cách này, đến một lúc nào đó sự tăng trưởng sẽ phải dừng lại. Bởi lẽ: Cơ chế thị trường triển khai nhanh chóng trong kinh tế, nhưng chưa có đủ cơ chế điều tiết hiệu quả và kiểm soát chặt chẽ (bởi pháp luật nghiêm minh, bởi chính quyền dân chủ), nên mặt tiêu cực của nó đã lan rất nhanh vào nền hành chính quốc gia và toàn bộ khu vực dịch vụ công, vào cả nhiều tổ chức Đảng, đương nhiên là rất nhanh chóng loang ra toàn xã hội. Mặc dù thành tựu phát triển kinh tế là to lớn, song do chưa chuẩn bị đầy đủ hệ thống luật pháp và thể chế trên tinh thần dân chủ, nên một bộ phận đáng kể nền kinh tế thị trường đã dần dần bị “lưu manh hoá”, còn một bộ phận đáng kể nền hành chính quốc gia (chưa có luật hành chính đầy đủ), thay vì là nền hành chính quản lý - phục vụ, đã nhanh chóng trở thành nền cai trị quan liêu, chuyên chế và bị lôi kéo theo xu hướng một xã hội “tư bản thân hữu” (Nhiều doanh nhân cấu kết với các quan chức nhà nước để trục lợi, làm biến dạng nghiêm trọng nhiều đường lối, chính sách, những quy hoạch, kế hoạch dài hạn nghiêm chỉnh đã được các Đại hội Đảng đề ra – có thể chứng minh bằng cách rà soát lại, đối chiếu lại giũa Hiến pháp và các Nghị quyết Đại hội với việc triển khai thực hiện cụ thể!) Thể chế chính trị chưa hoàn toàn đồng bộ với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Thể chế chính trị về thực chất vẫn theo đường lối Quốc tế III: Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo tuyệt đối, nặng về dân chủ hình thức; nhà nước vẫn theo nguyên tắc tập trung trước– dân chủ sau; Đảng lãnh đạo toàn diện (Đảng chọn, dân bầu), “bao cấp” cả về tư duy và nhận thức (chỉ có Đảng mới được chỉ ra, cái gì đúng, cái gì sai!)..., phủ nhận trên thực tế hoặc chủ động hạn chế Chế độ dân trị, Nhà nước pháp quyền và Xã hội dân sự , nên nó không tự bảo vệ được mình khỏi quá trình tự thoái hoá, cũng không có khả năng tự hoàn thiện mình một cách thực sự, sáng tạo có hiệu quả để phát triển bền vững, vì vậy nó cũng khó có thể có đủ sức mạnh toàn dân đồng lòng nhất trí cao như trước kia để chống chọi với các thế lực phản động bên ngoài. Đảng ta tại Đại hội này cần vạch rõ nguyên nhân gì làm cho bước tiến của Đất nước chậm chạp, rât nhiều khuyết tật, chưa được như mong muốn đúng như mục đích lý tưởng của Đảng và nguyện vọng của Nhân dân!

    7. Để có thể đưa cách mạng VN quay trở lai quỹ đạo chân chính, truyền thống, ta nên làm gì? Thực chất ta đã làm được rất nhiều về dân chủ hoá, về cơ chế kinh tế, về cải cách hành chính so với 1975, nhưng còn rất chậm, chưa đạt yêu cầu hội nhập với thế giới văn minh. Không phải ngẫu nhiên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã thay mặt toàn Đảng phát biểu rất đúng tại lễ kỷ niệm 2 - 9 vừa qua: Việt nam cần phải đổi mới toàn diện; trước hết phải củng cố xây dựng và đổi mới Đảng. Tôi xin nêu một số ý kiến như sau:

    Một là: Cần nhanh chóng vượt qua chính mình, như Mác, Ănghen và Lênin, và nhiều những nhà cách mạng chân chính đã từng làm được: Trước hết cần chuyển đổi căn bản mục tiêu chiến lược của Đất nước, của toàn Đảng: Cần phải lấy sự tồn tại hùng cường của Đất nước, của Dân tộc,lấy cuộc sống hạnh phúc văn minh cho nhân dân, cùng thời đại tiến tới một xã hội tốt đẹp hơn làm mục tiêu tối thượng, chứ không chỉ lấy kiên trì CN Mác Lê làm định hướng tư tưởng như hiện nay. Quyết không biến công cụ thành mục tiêu như lâu nay vẫn bị nhầm lẫn.

    (Nên nhớ, với máy hơi nước và các công xưởng đại cơ khí cuối thế kỷ 18, với xã hội ở trình độ tương ứng, Mác đã thúc đẩy tạo ra Quốc tế I; chỉ mấy chục năm sau, khi có điện khí hoá và sản xuất theo dây chuyền tự động đầu thế kỷ 19, xã hội đã thay đổi khá hơn, Mác đã từ bỏ ngay Quốc tế CS I, cho ra đời Quốc tế II; Lênin thì đưa ra “Chính sách kinh tế mới” chỉ sau sự ra đời Quốc tế CS III của chính Ông có mười mấy năm. Vậy mà, cho đến nay, đã trải qua hơn 100 năm tiến hoá vũ bão, thế giói đã đi vào một Thời đại mới, xã hội đã đổi khác hoàn toàn, với hội nhập kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, các con tầu vũ trụ, người máy... và sự “trả thù” chưa từng có của thiên nhiên, mà ta dường như vẫn nói “kiên trì” nghiêm chỉnh lấy CN Mác Lê cách nay hơn 100 năm làm nền tảng lý luận cách mạng, thì nhân tâm vẫn ly tán là phải! Nếu Mác, Ănghen và Lênin mà còn sống, có lẽ các Ông đã mấy lần bỏ các “Quốc tế” (đường lối) cũ đi và đã nhiều lần lập nên các “Quốc tế” mới; có lẽ các Ông ấy đã tự vượt qua chính mình đến mấy lần rồi. Vậy mà tôi, anh, chúng ta vẫn “kiên trì” ôm lấy chân dung các ông, níu kéo nhiều phần của các Quốc tế cũ của các Ông ấy lại ! Xin nhắc lại, tôi sẽ không nhầm và đồng nhất CN Mác Lê với CNXH, không nhầm vì thấy Thời đại này vẫn là Thời đại quá độ toàn thế giới, không phân biệt “ý thức hệ”, tiến lên CNXH mà nói rằng CN Mác Lê vẫn là chỗ dựa duy nhất ! Đó là nhận thức vượt qua chính mình của bản thân tôi.

    Hai là: Tôi hoàn toàn nhất trí với Đ/C TBT Nông Đức Mạnh, đã nói lên tiếng nói nhất trí của toàn thể TW, Bộ Chính trị, của toàn Đảng và toàn Dân ta: Mặc dù chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn, song cần Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ toàn diện, đưa đất nước bắt kịp thời đại – đó là điều kiện duy nhất, hợp quy luật phổ biến, để xã hội ta ổn định và phát triển bền vững; Cần thực sự và có cơ chế kiểm tra, kiểm soát để thực hiện đầy đủ Di chúc và phát triển Di sản lý luận và thực tiễn “nhà nước Dân chủ cộng hoà” của Hồ Chính Minh. Như đã phân tích ở trên, trong giai đoạn hiện nay, cách mạng Việt nam hãy tĩnh tâm, bình tĩnh, nghiêm khắc thực hiện cho được nghiêm chỉnh Di chúc và học thuyết Hồ Chí Minh (như cách hiểu ở trên), tạo lập vững chắc nền dân chủ cộng hoà, nhà nước pháp quyền, xã hôi công dân, Dân chủ - tập trung, Đảng của Toàn dân, đảng phải hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp chứ không đứng trên hiến pháp, đứng ngoài pháp luật, để phù hợp với giai đoạn hội nhập, mở cửa, cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, hoà nhịp với luật chơi chung của thế giới, tạo nền móng cho những giai đoạn phát triển bền vững tiếp theo; Có cơ chế tốt để thực hiện thực sự đường lối Dân làm chủ (toàn bộ trí tuệ và sức mạnh là ở nới Dân), chứ không phải chỉ có Đảng CS làm chủ, cũng không phải chỉ các tầng lớp Doanh nhân giầu có làm chủ, càng không cần thiết lấy kiên trì Mác – Lê làm mục tiêu tập hợp lòng dân (Mà trái lại, càng “kiên định” Mác Lê, càng dễ gạt bỏ những lực lượng và trí tuệ tiến bộ có ích cho phát triển Đất nước, nhưng họ vẫn nhầm lẫn, ấn tượng xấu, đánh đồng giữa CN Mác Lê quá khích – phân kỳ I- với CNXH đích thực); không cố chấp về “hệ tư tưởng” đã từng khác biệt, mà cần đi cùng trào lưu tiến hoá của các nước phát triển đấu tranh cho dân chủ và công bằng, cho hoà bình và môi trường, cho liên kết và hội nhập bình đẳng để cùng toàn thể Nhân loại tiến hoá đến một xã hội tốt đẹp hơn; Hãy cùng quên đi quá khứ lịch sử đau buồn với khảu hiệu “ai thắng ai”, thậm chí “Một mất, một còn” trong một Đất nước để có thể tập hợp, đoàn kết, đại đoàn kết Dân tộc, bằng cách đó, Đất nước ta lại có thể ngẩng mặt nhìn lên, đồng tình, đồng chí tham gia có chất lượng vào hàng ngũ “các thuyền trưởng” của con tầu Hành tinh, tham gia dẫn đầu xây dựng “Nhà nước pháp quyền toàn cầu”, và hãy tìm chỗ đứng xứng đáng cho người lao động Việt nam trong thuỷ tuỷ đoàn của con tầu này. Đó chắc chắn là những mục tiêu thoáng rộng hợp lòng dân nhất, hợp quy luật tiến hoá chung của Trời Đất nhất, không bị “kẹt: vào bất cứ một tư duy “ý thức hệ” nào, mà “nhân dân ta hoàn toàn có đủ tinh thần và nghị lực, trí tuệ và của cải” để làm được. Đó cũng là con đường duy nhất để tồn tại hợp lòng dân của Đảng ta. (Nói một cách công bằng: Đảng ta đã làm được rất nhiều trên con đường này, tuy nhiên còn quá chậm chạp, e ngại dụt dè và “nể nang” với tệ nạn tiêu cực tham nhũng so với yêu cầu tiến lên của cách mạng, của Dân tộc).

    Đổi mới toàn diện - đó chính là liệu pháp đúng đắn nhất để nhân dân Việt nam, Đảng CS Việt nam tự vượt qua được chính mình, tạo cơ sở vững chắc để vượt qua được những khó khăn hiện nay.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi