Tại sao khoa học Việt Nam còn kém?

  • Bởi Khách
    05/05/2010
    3 phản hồi
    Đây là một phản hồi của một bạn đọc ẩn danh ở Hà Nội. Đáng lẽ tiêu đề phải là "những tiêu cực trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam", nhưng vì entry này là một phản hồi của một entry trước đây, nên tôi thay đổi tựa đề cho thời sự một chút. Một phần của câu trả lời cho câu hỏi trên có thể tìm thấy trong bài này. Tôi đặt những tiêu đề, và có gọt bỏ những chỗ có tên thiết bị để bảo mật cho bạn đọc. Nói tóm lại, theo như tôi hiểu bài phản hồi này thì sở dĩ khoa học của nước mình kém là do:

    (a) tiêu cực trong việc phân phối kinh phí;
    (b) người bất tài lãnh đạo khoa học; và
    (c) bất cập trong chuẩn mực nghiên cứu khoa học.

    Đương nhiên là còn nhiều lí do khác nữa, nhưng đó là những lí do nổi cộm. Lí do thứ nhất liên quan đến tham nhũng; lí do 2 là vấn đề con người; và lí do 3 là thiếu chuẩn mực nghiêm chỉnh. Toàn những chuyện "nhạy cảm". Bởi vậy vị độc giả này có viết ở đoạn cuối là nếu em làm bộ trưởng chưa chắc em giải quyết được chuyện gì. Đọc câu này của em vừa hay mà vừa đau: "Trong thế giới người gù, thì người thẳng lưng bị coi là dị dạng." Ui chao, đau thật! Chuẩn mực đạo đức xã hội mà loạn thì nói gì đến chuyên xa xỉ về đạo đức khoa học.

    Mặc dù độc giả này khiêm tốn nói về mình là "có ra gì đâu", nhưng đọc qua phản hồi với cách sắp xếp ý tưởng và logic trong cách lí giải, tôi nghĩ vị độc giả này ắt phải là một giảng viên có hạng. Tôi xin chân thành cám ơn bạn đọc và rất mong được em đóng góp tiếp trong tương lai.

    NVT

    __________________

    “Kính gửi thầy Tuấn,

    Em công tác tại một trường đại học được coi là có uy tín ở Việt Nam, cũng từng tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học.

    Hôm nay em mới đọc bài “Khoa học Việt Nam qua công bố quốc tế 2005-2009” của thầy mà bức xúc vô cùng. Vì điều kiện không cho phép bài tỏ ý kiến công khai, nên em muốn được nói đôi điều với thầy.

    Phần đầu bài viết thầy đề cập đến các con số về công bố quốc tế của VN, em không dám góp ý gì. Song, đến nửa cuối, khi nói về nguyên nhân của sự yếu kém của khoa học Việt Nam, em thấy thầy phản ánh chưa sát thực tế. Có thể thầy tránh không nêu lên, hoặc do thầy ở nước ngoài nên không rõ tình hình.

    Mua thiết bị để kiếm hoa hồng

    Hiện nay, trang thiết bị tại nhiều trường đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học rất phong phú và hiện đại chứ không thiếu. Trong vòng 5 – 7 năm trở lại đây, Nhà nước đầu tư rất nhiều. Thậm chí nhiều nơi người ta còn đau đầu nghĩ cách giải ngân hết số kinh phí được cấp cho các dự án khoa học công nghệ đó.

    Tất nhiên, đơn vị chủ dự án thường nhận phần trăm không nhỏ (ít nhất 10% hoa hồng). Đơn vị chủ quản, cấp quản lý: ngoài việc nhận tiền của đơn vị được phê duyệt dự án, họ còn có thể dùng sức ép để chỉ định thầu buộc chủ dự án phải ký hợp đồng với các công ty xây dựng, công ty trang thiết bị… mà họ đã thông đồng. Em ước đoán số tiền thất thoát khi hoàn thành một trung tâm, một dự án… khoảng 20%.

    Cũng vì được cấp quá nhiều tiền, nên ngoài các trang thiết bị mới và hiện đại ra, các hãng còn tìm cách thanh lý các thiết bị cũ và tồn kho của họ. Nếu thầy đến thăm các trung tâm này ở HN, thậm chí cả các tỉnh nghèo thì sẽ thấy số trang thiết bị có trị giá trên 50.000 USD rất nhiều, đa số đắp chiếu hoặc chỉ chạy 1 lần (khi công ty bán hàng bàn giao). Nếu đến thăm các Trung tâm, thầy sẽ được các sếp ở đó khoe trung tâm có thiết bị này thiết bị kia có giá 300.000, 500.000 hoặc 1.000.000 USD chứ họ không khoe thành tích khoa học đâu. Nhiều máy móc, thiết bị mua về hàng loạt mà không biết để làm gì, thành ra để vứt xó.

    Một điều nghịch lý là do quá tập trung giải ngân nên chủ dự án thường quên hoặc không biết (chủ yếu là không biết) dành tiền để mua các dụng cụ thiết yếu phục vụ thí nghiệm. Chẳng hạn như chỗ em có mua 1 thiết bị […] giá 130.000 USD, nhưng lại không mua [dụng cụ cơ bản và thiết yếu]. Đúng là chỉ có 1 cái máy, duy nhất 1 cái máy đời mới nhất tại thời điểm tiếp nhận. Tuy nhiên, điều này cũng chẳng ảnh hưởng gì đến công việc nghiên cứu khoa học vì không ai cần dùng và không ai biết dùng.

    Hợp thức hóa chi tiền

    Về hoạt động nghiên cứu khoa học, có một nghịch lý là: cùng trong một đơn vị khoa học, các sếp thì ôm đồm gần như toàn bộ các đề tài lớn, bất kể lĩnh vực hoặc chuyên ngành nào. Các đề tài này có kinh phí từ một hai trăm triệu cho đến hàng tỷ đồng, tính ra không kém gì kinh phí đề tài tại các nước phát triển. Số tiền này phải lại quả cho cơ quan chủ quản (nơi có quyền duyệt đề tài) một phần, theo thông lệ là 20%, một số nơi, chẳng hạn Sở KHCN Hà Nội, có thể đòi tới 50%. Phần kinh phí chủ nhiệm đề tài nhận được sẽ phải tiếp tục rải cho nhiều nơi trong cơ quan chủ trì (nơi thực hiện), chẳng hạn như sếp, tài chính, bộ phận quản lý khoa học… có thể mất thêm 10 - 20% nữa. Như vậy phần tiền còn lại để có thể thực hiện nội dung đề tài (trả thù lao nghiên cứu và mua dụng cụ) chỉ còn 30 – 60% thôi. Thông thường, chủ nhiệm đề tài và một vài thành viên chủ chốt (thư ký đề tài, kế toán đề tài, một vài cán bộ thực hiện chính) tiếp tục sẽ chia nhau khoản tiền còn lại. Số tiền thực chất chi cho hoạt động khoa học chỉ còn 20 – 30% thôi. Có thể có nơi làm nghiêm chỉnh hơn, nhưng em nghĩ chỉ là thiểu số.

    Chắc thầy chưa biết về quy định trong chi tiêu các đề tài. Theo quy ước, với đề tài có hoạt động thí nghiệm thì khoảng 30% là thuê khoán chuyên môn, tức là phần tiền trả công cho người thực hiện, kết quả là các chuyên đề nghiên cứu; khoảng 30 – 40% là tiền mua dụng cụ, hóa chất; khoảng 20 – 25% là mục chi khác (gồm hội thảo, họp hành triển khai đề tài, tiền tàu xe và thuê nhà nghỉ nếu phải đi xa, tiền mua văn phòng phẩm…).

    Do phải chi trả quá nhiều nên chủ nhiệm đề tài phải nghĩ cách chi tiêu đảm bảo cho hợp lý theo tỷ lệ nêu trên. Nội dung các đề tài thường nghèo nàn, nhưng phải vẽ ra nhiều chuyên đề để đảm bảo độ dày của bản báo cáo và hợp lý hóa chi tiêu. Chẳng hạn chỉ làm 1 thí nghiệm thì báo cáo là 10, chỉ làm trên 2 – 3 mẫu thì ghi thành 10 – 30 mẫu ... Kéo theo đó là không cần sử dụng nhiều dụng cụ hóa chất, song để chi tiêu hợp lý thì chủ nhiệm đề tài phải mua các hóa đơn khống của các công ty hay cửa hàng hóa chất, với giá khoảng 5-7% trị giá ghi trên hóa đơn (Theo quy định về tài chính: mua bán không dùng tiền mặt mà phải chuyển khoản. Sau công ty nhận tiền từ tài khoản, họ sẽ rút tiền ra, giữ lại 5 – 7%, phần còn lại mang trả đầy đủ cho chủ nhiệm đề tài).

    Tương tự, các khoản chi khác cũng được hợp lý hóa như vậy: chẳng hạn không họp hoặc có họp nhưng ghi khống số tiền, số người và thời gian họp; công tác chỉ có 1-2 người trong 1-2 ngày thì ghi khống thành 5 – 7 người trong 1 – 2 tuần, thành ra số tiền thuê chỗ ở, thuê xe… được quyết toán cao hơn nhiều thực tế; tình trạng mua hóa đơn để thanh toán văn phòng phẩm… cũng phổ biến. Vào cuối năm, hoạt động lập viết báo cáo, chuyên đề; hoạt động mua bán hóa đơn dụng cụ hóa chất; hoạt động mua bán hóa đơn thuê xe, khách sạn – nhà nghỉ, hóa đơn văn phòng phẩm… diễn ra cực kỳ nhộn nhịp. Có nơi có lúc còn cháy hóa đơn, làm chậm là không có mà mua.

    Nói thực với thầy, việc hợp lý hóa chi tiêu (tức làm sao có đủ hóa đơn, chứng từ hợp lý để thanh toán) khá phức tạp và không đơn giản, vì thế nhiều người không dám nhận nhiều đề tài chỉ vì không thể “tiêu” hết tiền. Nên Bộ KHCNMT hàng năm thừa khoảng 100 tỷ kinh phí là dễ hiểu. Có nơi người ta còn lo xa, chia đề tài lớn thành nhiều đề tài nhỏ với kinh phí vài trăm triệu. Mục đích là phòng trường hợp bị phát hiện sai phạm (hiếm khi xảy ra) thì khung hình phạt sẽ nhẹ hơn.

    Xét duyệt và nghiệm thu

    Việc xét duyệt và nghiệm thu đề tài thì như sau: cơ quan quản lý (có quyền duyệt đề tài) và chủ nhiệm đề tài thường có quen biết và hiểu nhau rõ ràng. Tức là cơ quan quản lý biết chủ nhiệm sẽ lại quả cho mình bao nhiêu (theo quy ước 20% trên tổng kinh phí được duyệt, lĩnh lần nào thì lại quả lần đó), chủ nhiệm có khả năng hoàn thành đề tài hay không (thực chất là vẽ ra bản báo cáo hợp lý), có khả năng “tiêu tiền” hay không (tức việc làm hóa đơn, chứng từ để thanh quyết toán).

    Khi xét duyệt, cơ quan quản lý sẽ thành lập hội đồng xét duyệt bao gồm các thành viên vốn cũng là các chủ nhiệm đề tài và quen biết với chủ nhiệm đề tài được xét duyệt. Hội đồng sẽ làm việc nghiêm túc, đôi khi cũng góp được một vài ý kiến nhỏ cho đề tài và nhanh chóng thông qua. Các thành viên trong hội đồng thường sẽ được nhận một khoản tiền nhỏ bồi dưỡng mà chủ nhiệm đề tài ứng trước (ứng trước vì lúc này vẫn chưa được duyệt, nhưng biết chắc chắn sẽ được duyệt).

    Khi nghiệm thu, mọi việc diễn ra tương tự. Nói chung hoạt động phê duyệt và nghiệm thu ít có tính chất khoa học, chỉ thiên về hình thức. Đôi khi, do có quá nhiều đề tài nên cả cơ quan quản lý và chủ nhiệm đề tài đều quên không báo cáo nghiệm thu, vấn đề chỉ là bộ hóa đơn chứng từ thể hiện sự chi tiêu hợp lý thôi.

    Về năng lực cán bộ nghiên cứu

    Do các vấn đề nêu trên, người ta không chú trọng lắm đến chất lượng cán bộ khoa học. Cơ quan quản lý không cần nhiều tính mới, tính sáng tạo, tính ứng dụng (có thì tốt hơn) của đề tài mà chỉ quan tâm đến “hiệu quả kinh tế” của đề tài thôi. Những người tâm huyết, muốn làm nghiêm túc (kể cả PhD học nước ngoài) thì ít có cơ may được nhận đề tài. Đôi khi họ bị đánh giá là dở hơi, không thực tế, bị cho ngồi chơi xơi nước... Có một điều nguy hiểm là mọi người đều biết là không có sức ép nào từ phía cơ quan quản lý và từ cộng đồng khoa học, nên tư tưởng chủ đạo ngay từ khi hình thành ý tưởng đề tài là “vẽ, bịa, thổi phồng…”, diễn ra phổ biến kể mọi nơi kể từ cấp TƯ.

    Trong hợp tác với nước ngoài, phía Việt Nam chỉ nghĩ đến xin kinh phí từ họ để tiêu thôi. Ngoài ra còn tranh thủ để được du lịch miễn phí. Hợp tác nước ngoài cũng là dịp để phô trương, khoe khoang…

    Hoạt động KHCN ở VN luôn diễn ra sôi nổi, nhộn nhịp, đảm bảo chất lượng và kinh phí luôn được “quyết toán hợp lý”. Thú thực với thầy, em cũng có đóng góp trong hoạt động đó, lúc đầu cũng áy náy, nhưng nghĩ đến khoản tiền tương đương hoặc nhiều hơn so với mức lương còm cõi hàng tháng (thấp hơn một bà bán bánh mỳ buổi sáng), em không thể chối được. Mọi người đều làm thế, từ GS, PGS cho đến SV mới ra trường, từ sếp cho đến nhân viên quèn. Ban đầu còn bỡ ngỡ, sau thấy quen và thấy bình thường. Không ai làm sao cả, thành tích khoa học ngày một nhiều, kinh nghiệm ngày càng phong phú. Nơi em làm tiêu hàng chục, trăm tỷ đồng mà có cần bài báo quốc tế nào đâu.

    Việc này, em rất buồn nhưng không có cách nào để có thể thoát ra khỏi vòng xoáy ấy. Cũng vì cuộc sống và “tương lai” thôi. Mấy năm trước em nhiệt tình tham gia các hoạt động ấy lắm. Nay em đi học nên có dịp tách khỏi những việc đó và có dịp suy ngẫm.

    Em và vài SV khác cùng nhau thảo luận, giả sử được làm bộ trưởng bộ GD-ĐT với mọi quyền năng trong tay thì có thể làm được gì. Nghĩ mãi chúng em cũng không tìm được giải pháp nào cả.

    Nghĩ lại thời gian tham gia “giảng dạy đại học” và “nghiên cứu khoa học”, em thấy không đóng góp được gì cả, chỉ có tham gia phá hoại thôi. Sau khi học xong, không biết em có thể thay đôi được không, hay là có thêm lông cánh (cái bằng PhD) để tham gia phá hoại tiếp. Trong thế giới người gù, thì người thẳng lưng bị coi là dị dạng. Việc này em cũng có bài học rồi.

    Em mong thầy có thêm tiếng nói góp ý về giáo dục đại học nữa. Hỗn loạn lắm thầy ạ. Bản thân em cũng thấy mình không đủ tiêu chuẩn đứng trên bục giảng. Thế nhưng em còn hơn khối giảng viên khác, mà thực ra em và những người đó có giảng dạy cái gì ra trò đâu.

    Đào tạo sau đại học, đào tạo tại chức (chuyên tu) thì còn loạn hơn, mặc dù bề ngoài có vẻ rất tốt đẹp. Ngay cả đào tạo sau đại học tại nước ngoài theo đề án 322 cũng có vấn đề (mặc dù em không biết nhiều lắm).

    Còn nhiều thứ mà em không thể kể hết, trong đó có cả việc giảng dạy, đào tạo ĐH, sau ĐH, xét phong hàm GS, PGS… mà chắc thầy chưa từng nghe. Em hy vọng thầy sẽ không buồn khi đọc email này, song đó là sự thật. Em làm ở HN, có thể trong SG có khác một chút, nhưng không nhiều.

    Chúc thầy mạnh khỏe.”

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Phản hồi: 

    Sự giả dối không tạo dựng một nền khoa học lành mạnh

    Nguồn: SVVN

    (SVVN) Giáo sư đạo văn của đồng nghiệp nhưng làm ngơ như mình không có “dây thần kinh xấu hổ”, những cổ đông xem việc mở trường đại học như những thương vụ hơn là sứ mệnh trồng người… SVVN đã có cuộc trò chuyện với GS.TSKH Nguyễn Văn Trọng về gốc rễ sâu xa của những vấn nạn này.

    Khoa học không chấp nhận giả dối

    Theo ông, thế nào được gọi là một nền khoa học?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Tôi cho rằng trước hết cần hiểu đúng khoa học là gì? Nó hình thành ra sao trong tiến trình lịch sử của nó? Từ đó mới nhận biết được phải có những điều kiện gì để hoạt động khoa học có thể phát triển. Theo hiểu biết của tôi thì khoa học là sản phẩm của văn hóa phương Tây. Các nền văn minh khác đã để lại những công trình kỹ thuật rất vĩ đại như: Vạn Lý Trường Thành hay Kim Tự Tháp…

    Nhưng xin nhớ rằng, đấy là kỹ thuật chứ không phải khoa học. Trung Quốc nói tự hào về các đại phát minh: Thuốc súng, la bàn,… Nhưng những cái đấy tuyệt nhiên không phải khoa học mà là phát minh kỹ thuật. Văn minh nào cũng có đỉnh cao kỹ thuật, nhưng chỉ có văn minh bắt nguồn từ cổ Hy Lạp và La Mã, sau này phát triển bởi các nước phương Tây thì mới có một đặc sản là khoa học. Khoa học và kỹ thuật là hai chuyện khác nhau dù có liên quan với nhau, ở Việt Nam người ta hay trộn lẫn hai thứ làm một.

    Nhầm lẫn nên dễ dẫn đến ngộ nhận, thưa ông?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Đúng vậy. Ngộ nhận này bắt nguồn từ việc: Khoa học vốn không phải của mình, mà mình tiếp thu nó từ một nền văn minh khác. Theo tôi hiểu, Trung Hoa và nước ta để ý đến khoa học phương Tây chỉ vì thấy phương Tây có súng ống to mạnh quá mà những thứ đó họ có được là nhờ khoa học.

    Thành ra, mình muốn biết khoa học, nhưng trong đầu vẫn nghĩ đến trang thiết bị kỹ thuật, trong khi thực ra không phải như vậy. Khoa học ở phương Tây sinh ra kỹ thuật cơ khí, nhưng mục đích khoa học chủ yếu vẫn là văn hóa. Con người muốn hiểu biết, văn hóa phường hội thời trung đại khiến những người cùng chung đam mê hiểu biết liên kết hợp tác với nhau trong các tổ chức phường hội.

    Các tổ chức này đòi hỏi các thành viên tuân thủ các giá trị đạo đức nghề nghiệp. Hoạt động khoa học đạt được nhiều thành công vào các thế kỷ XVII-XVIII dẫn đến cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất (cuộc cách mạng công nghiệp hóa ở phương Tây)… Lúc đó dân chúng mới chú ý đến nó và tôn vinh nó.

    Phải chăng do hiểu sai về khoa học của tiền bối, nên không ít sinh viên cũng hiểu sai về tinh thần khoa học?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Tinh thần khoa học thực ra là liên quan đến đạo đức nghề nghiệp của cộng đồng các nhà khoa học. Nghề buôn bán có đạo đức nghề nghiệp của nghề buôn bán, các nhà khoa học cũng có đạo đức nghề nghiệp của mình. Đạo đức nghề nghiệp khoa học có ba điểm được coi là quan trọng nhất: Bất vụ lợi [1]; Trung thực tuyệt đối [2], gian dối trong khoa học là đuổi ra ngay; Và lắng nghe phản biện một cách có tổ chức [3].

    Như ông nói thì tính bất vụ lợi của khoa học là trội hơn?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Đúng vậy. Đặc tính của khoa học là tính bất vụ lợi: Chỉ muốn biết, chứ không phải biết để làm gì?! Tính vụ lợi liên quan đến thời kỳ sau: sự thành công của khoa học khiến cho các Nhà nước quan tâm đến hoạt động khoa học, nhưng chủ yếu là quan tâm đến vũ khí.

    Cho nên các Nhà nước bỏ tiền ra để thúc đẩy khoa học phát triển, làm cho khoa học phát triển rất nhanh. Nhưng chính vì thế cũng làm tha hóa khoa học, làm xói mòn tính bất vụ lợi đi, suy đồi tinh thần vốn có… Đến gần đây nhất, chiến tranh lạnh kết thúc, vũ khí không có vai trò rõ rệt nữa. Nên miếng bánh ngân sách các quốc gia dành cho khoa học bé lại. Thành ra xuất hiện sự kèn cựa nhau, nói dối trong khoa học.

    Thời kỳ của Albert Einstein là thời kỳ đỉnh cao của khoa học với những sản phẩm mang tính đạo đức cao cả nhất của các nhà khoa học.

    Nếu một môi trường mà sự giả dối trội hơn, thì nền khoa học và giáo dục sẽ thiếu lành mạnh, ý ông là như thế?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Khoa học đặt ra để cãi nhau, để tranh biện một cách trung thực nhằm phát hiện ra chân lý khách quan. Suy ra, nếu trong môi trường nói dối nhiều quá thì không thể làm khoa học được. Những nghề khác có thể có chỗ cho sự dối trá, nhưng nghề khoa học tuyệt đối không thể. Nó phải dựa vào sự tin cậy ở tính trung thực của người làm nghề. Anh dối trá là bị đuổi ra khỏi hội hoặc bị tẩy chay ngay trong giới.

    Phía trong 'dinh luỹ"

    Liên quan đến chuyện xây dựng những trường đại học chất lượng cao, ông giải thích thế nào khi chúng ta vẫn còn loay hoay khá vất vả với câu chuyện này?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Tuy sự đời nhiễu nhương, nhưng nhiều trường đại học của phương Tây - dinh lũy của các nhà khoa học - vẫn đảm bảo được chất lượng cao, do đạo đức nghề nghiệp của các nhà khoa học vẫn giữ được một mức nào đó. Sự gian dối là hiếm hoi. Những đại học nào như thế mới giữ được uy tín của mình. Đây cũng là câu trả lời về việc vì sao chúng ta mãi vẫn không xây dựng được trường đại học chất lượng cao như mong muốn. Vì nó liên quan đến phẩm tính của các nhà khoa học, nhiều hơn là việc trả lương bao nhiêu cho các nhà khoa học.

    Chúng ta đào tạo các nhà khoa học, rồi lại quản lý họ như quản lý các nhân viên hành chính, nên không xây dựng được một cộng đồng khoa học có các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết. Cộng đồng đó phải tự chủ. Nhà nước chỉ định hướng các nghiên cứu thông qua phân bố ngân sách (ưu tiên cái mà Nhà nước cần), chứ không can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp của các nhà khoa học.

    Đối chiếu với bản thân mình, ông có nghĩ mình một nhà khoa học thực sự?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Tôi được Nhà nước cử đi học, rồi về trở thành viên chức Nhà nước. Về mặt đó, tôi không phải là nhà khoa học trong một cộng đồng tự chủ của các nhà khoa học.

    Trong “dinh lũy” của các nhà khoa học (trường ĐH) như ông đã ví von, làm thế nào để khuếch tán tinh thần mê chuộng khoa học tới đông đảo sinh viên?

    GS Nguyễn Văn Trọng: Tôi cho rằng cần thay đổi cách quản lý đối với người làm khoa học, giao quyền tự chủ cho cộng đồng khoa học. Cái khó hiện nay là, một mặt người quản lý hiện nay không muốn từ bỏ quản lý, còn mặt khác, cộng đồng khoa học đã quá quen thuộc với việc được bao cấp.

    Phải khi nào anh có nhu cầu tự chủ thì mới giải quyết được vấn đề. Thế nên mới có chuyện, ở ta xử lý đạo văn vẫn trông chờ vào bộ máy quản lý, đôi khi còn yêu cầu công an vào cuộc, trong khi vấn đề này ở nước ngoài cộng đồng khoa học tự giải quyết với nhau. Tuy nhiên, tôi rất băn khoăn rằng, cộng đồng khoa học của ta có nên để được tự chủ hay không. Phải trưởng thành và đạt đến mức độ nào đó mới tính đến việc tự chủ.

    Khi một cộng đồng khoa học mạnh nằm trong “dinh lũy” (là các trường đại học) thì sẽ khuyến khích được sự mê chuộng chân lý khoa học trong sinh viên. Có như thế, trường đại học mới sáng tạo ra được những tri thức mới.

    Xin cảm ơn ông!

    Lê Ngọc Sơn (thực hiện)

    Vài nét về GS.TSKH Nguyễn Văn Trọng

    - 1960-1965: Đại học Tổng hợp Kiev (Ukraine), chuyên ngành Vật lý lý thuyết.

    - 1968: Bảo vệ luận án phó tiến sĩ năm 1968 tại Kiev, sau đó làm cộng tác viên khoa học của Viện Vật lý lý thuyết Kiev. Năm 1984 bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học tại Kiev.

    - 1970: Về Việt Nam, làm việc tại Viện Vật lý.

    - Được Nhà nước phong hàm Phó giáo sư (năm 1984) và Giáo sư (năm 1991).

    Phản hồi: 

    Chuyện này diễn ra từ rất lâu rồi, chỉ có các cây đa cây đề mới hứng được nguồn kinh phí khổng lồ rót xuống và chia chác cho nhau. Không chỉ trong các trường đại học mà trong tất cả các viện nghiên cứu.

    Phản hồi: 

    Sự thực của nền khoa học và đào tạo nước nhà nó đúng là như vậy đấy ạ. Tiếc rằng bác bộ trưởng Nguyễn thiện Nhân lại không biết điều này.