Quan hệ Việt - Mỹ từ chiến tranh tới bình thường hóa (1): Căng thẳng thời hậu chiến

  • Bởi Admin
    03/05/2010
    2 phản hồi

    Đoan Trang

    Khi tìm hiểu để viết về quá trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, tôi nhận thấy: Về phía Mỹ, thành phần đi đầu trong việc kết nối với Việt Nam là những cá nhân (người Mỹ, hoặc Việt kiều), những tổ chức thiện nguyện, tôn giáo, cựu chiến binh v.v. hay nói cách khác, xã hội dân sự đi trước chính phủ và vận động chính phủ theo sau.

    Còn về phía Việt Nam, lực lượng đi đầu tất nhiên phải có tính "chính thống", tức là Nhà nước, hay nói chính xác là Đảng và Chính phủ. Khi Đ&CP chưa bật đèn xanh thì nhân dân không có cách nào đi trước trên con đường bình thường hóa quan hệ được.

    Tôi thực hiện bài sau đây mong chỉ ra đóng góp của người Mỹ, xã hội dân sự Mỹ, trong bình thường hóa với Việt Nam. Viết về các vấn đề liên quan tới lịch sử là điều cực kỳ khó khăn, mặc dù vậy, tôi hy vọng những gì mình viết là chính xác. Nếu bạn đọc nào phát hiện thấy sai sót, xin vui lòng đính chính giúp. Ai có thông tin hoặc tư liệu gì về giai đoạn đầu trong quan hệ Việt - Mỹ thời hậu chiến, xin vui lòng hỗ trợ. Tôi rất cảm ơn.

    Ngay sau ngày 30-4-1975, “một làn sóng tự tôn dân tộc và bài Mỹ đã lan khắp Sài Gòn. Sự chiều chuộng thường thấy đối với người nước ngoài đột nhiên biến mất. Những câu nói kiểu “Mỹ văn minh hiện đại, mình nghèo và chậm phát triển” trở thành thứ ngôn ngữ cổ. Nhiều năm phụ thuộc vào nước Mỹ để có lương cho quân đội, có đạn cho chiến trường, thời trang cho các cửa hàng làm đẹp, âm nhạc cho các quán bar và thậm chí cơm trên bàn ăn đã ảnh hưởng lớn tới tâm lý một dân tộc. Nhưng tất cả những cái đó đã mau chóng tan thành mây khói. Khi cánh cửa Dinh Độc lập bị xe tăng quân giải phóng húc đổ vào ngày 30-4 cũng là lúc hình ảnh bất khả chiến bại của nước Mỹ ăn sâu trong vài thập kỷ nay bị vỡ vụn”.

    4753686_8073790_n.jpg
    Sài Gòn ngày 30-4-1975 (ảnh tư liệu, lấy từ Internet)

    Earl Martin, một người Mỹ ở Sài Gòn trong những ngày tháng đó, đã viết như thế. Ông là thành viên của tổ chức thiện nguyện tôn giáo Mennonite Central Committee (Hội đồng trung ương giáo phái Menno). Khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào năm 1975, chỉ còn thành viên của vài hội tình nguyện của tư nhân là ở lại, trà trộn cũng các phóng viên, nhà báo phương Tây.

    Căng thẳng đến nghẹt thở

    Nhưng lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam đã xiết chặt. Washington cắt đứt toàn bộ quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Suốt những năm sau chiến tranh, lệnh cấm vận được thực thi nghiêm ngặt: Không có bất kỳ một hình thức bang giao nào giữa hai nước, ngoại trừ một số có chọn lọc các hoạt động vì mục đích nhân đạo như gửi thuốc men trị bệnh, sách báo nghiên cứu – nhưng ngay cả việc này cũng bị ngáng trở rất nhiều. Đơn cử, người Việt ở Mỹ muốn gửi 1-2 cuốn sách cho các viện khoa học ở Việt Nam cũng gặp khó khăn: Bị ràng buộc bởi lệnh cấm vận, bưu điện Mỹ trả lại hoặc thiêu hủy tất cả những cuốn sách tham khảo gửi về Việt Nam. Trong cuốn “Traveling to Vietnam” (Đường đến Việt Nam, 1998), tác giả Mary Hershberger nhận xét khi viết về phong trào của những nhà hoạt động hòa bình người Mỹ: “Chính phủ Mỹ đã chống lại Việt Nam trên từng bước đường đi và phong tỏa mọi mối liên hệ quốc tế của Việt Nam, ngay cả khi điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ phải liên kết với quân Khmer Đỏ ở Campuchia”.

    Không khí chính trị đầy màu sắc thù địch: Tổng thống Ford phủ quyết quyền thành viên của Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, đóng băng 150 triệu đôla tài sản của Việt Nam ở Mỹ, ngăn trở Việt Nam gia nhập Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Quốc hội Mỹ còn cấm vận mạnh hơn khi nghiêm cấm bất kỳ hình thức cứu trợ nào cho Việt Nam và xiết chặt các thủ tục pháp lý về nhập cư. Cũng bà Mary Hershberger cho biết, “cách duy nhất để người Việt Nam có thể vào Mỹ là trốn sang một nước thứ ba và xin tị nạn chính trị”. Một phần vì lý do này, làn sóng người Việt vượt biên qua đường biển và đường bộ tới một lãnh thổ thứ ba (Hong Kong, Thái Lan, Campuchia) càng tăng lên.

    Một người Mỹ (giấu tên) theo giáo phái Quaker, đã ở bên Việt Nam từ những năm khó khăn nhất tới nay, cho biết, vết thương tâm lý của người Mỹ đã đẩy nước Mỹ vào những hành động chống lại Việt Nam, như ủng hộ phe Khmer Đỏ và Trung Quốc thời kỳ cuối thập niên 70. Tín đồ Quaker này nhận định: “Cuộc chiến của Mỹ với Việt Nam thật sự mới chỉ kết thúc vào năm 1989”.

    Còn một Việt kiều Mỹ, một trong những người Việt đầu tiên có mặt trong các cuộc trao đổi giữa hai nước về vấn đề tù binh và người Mỹ mất tích trong chiến tranh (POW/MIA), thì nói: “Cuộc chiến lẽ ra đã có thể kết thúc từ ngày 19-1-1975 khi Quốc hội Mỹ ra nghị quyết cấm hành pháp chi thêm dù chỉ một đôla để viện trợ cho miền Nam Việt Nam. Nhưng lịch sử đã không diễn ra như thế. Chính cái tâm lý cần thiết cho chiến tranh lại là tâm lý rất có hại khi hòa bình. Niềm tự hào và say sưa với chiến thắng của chúng ta, hành động đi khắp nơi đòi Mỹ bồi thường chiến tranh, trả nợ máu, v.v., đã tạo ra trong tâm lý người Mỹ một vết thương cực kỳ sâu mà họ không thể chịu nổi, đi đến cấm vận hoàn toàn cả Việt Nam…”.

    Không chỉ người Mỹ, những người Việt của chế độ cũ đào thoát sang Mỹ trong và sau năm 1975 cũng giữ thái độ thù địch với Việt Nam. Một số rất lớn “không đội trời chung” với cộng sản, thậm chí những phần tử cực đoan sẵn sàng hành hung, sát hại bất cứ người nào có ý định trở về Việt Nam làm ăn kinh tế, ủng hộ chính quyền trong nước. Có người ở bang Texas về thăm quê mẹ Việt Nam, quay lại Mỹ viết báo nhận định tình hình “sáng sủa hơn”, kết cục là bị một số cựu quân nhân VNCH bắn chết ngay tại nhà riêng chỉ vài ngày sau đó. Như chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành (sinh năm 1932), một trong những nhân chứng của cả hai phía thời đó, mô tả lại, động vào “vấn đề Việt Nam” cũng chẳng khác động vào tổ kiến lửa, khi “một bên thì say sưa với chiến thắng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, bên kia thì chống ác thần cộng sản tới cùng”.

    Những nỗ lực chật vật đầu tiên

    Dễ hiểu rằng những người Mỹ hoạt động nhân đạo hoặc là tín đồ của một tôn giáo nào đó – ví dụ các giáo phái Menno, Quaker - đã là những công dân Mỹ đầu tiên duy trì và phát triển quan hệ với Việt Nam.

    Gần như ngay sau khi chiến tranh kết thúc, tháng 7-1975, tổ chức American Friends Service Committee (AFSC) đã sẵn sàng gửi lưới đánh cá, sữa bột, xe cút kít gắn máy và chỉ khâu sang Việt Nam. Đề nghị cấp giấy phép xuất khẩu của họ bị Bộ Ngoại giao Mỹ thẳng thừng bác bỏ, thậm chí Bộ tuyên bố nếu AFSC cứ tiếp tục thì có thể bị truy tố theo điều luật “Hoạt động thương mại với kẻ thù”. AFSC cũng không chịu lùi bước. Tháng 11 năm đó, họ mở một cuộc biểu tình tại 45 thành phố nhằm phản đối quyết định của Bộ Ngoại giao Mỹ, huy động thành viên của nhiều tổ chức thiện nguyên tôn giáo khác: National Council of Churches (Hội đồng Các nhà thờ toàn quốc), United Methodist Church (Liên hiệp Nhà thờ Giám lý), United Presbyterian Church (Liên hiệp Nhà thờ Giáo hội Trưởng lão), v.v. Hội đồng Trung ương Giáo phái Menno của Earl Martin đã cầu nguyện cả đêm trước Nhà Trắng. Cuối cùng, Bộ Ngoại giao Mỹ nhượng bộ và cấp giấy phép xuất hàng cho AFSC.

    Tuy nhiên, lệnh cấm vận vẫn xiết chặt Việt Nam. Năm 1978, đàm phán về bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đổ vỡ hoàn toàn.

    Mãi tới tháng 12-1991, Chính phủ của Tổng thống Bush (cha) mới giải tỏa một phần lệnh cấm vận đối với Việt Nam bằng việc cho phép các công ty Mỹ được ký với đối tác Việt Nam những biên bản ghi nhớ (nghĩa là các hợp đồng nguyên tắc, chưa có giá trị). Từ cấm vận hoàn toàn, cho đến dỡ bỏ một phần, rồi đến sự hiện diện của những doanh nghiệp Mỹ đầu tiên trên đất Việt Nam, mối bang giao Việt – Mỹ đã tiến những bước quá dài trước khi đạt tới bình thường hóa.

    Kỳ sau: Kết nối âm thầm

    Bình luận của Đ.V. Ninh:

    Một đề tài rất hay, mình sinh ra trong những ngày bị cấm vận nên thực ra lớn lên cũng chẳng hiểu những thiệt hại ngày đó phải chịu là thế nào, cứ như tự nhiên nó phải vậy vậy.

    Tuy nhiên, đọc bài của Đoan Trang mọi người dễ bị lầm lẫn là Mỹ lấy nguyên nhân cấm vận trực tiếp từ việc cay cú do thua Việt Nam hay do các vấn đề đòi hỏi bồi thường sau chiến tranh, (mặc dù nguyên nhân thực tế có thể là như vậy).

    Theo như mình được biết (!?), là lệnh cấm vận thì ko phải do một mình Mỹ đưa ra được, mà lệnh cấm vận về mặt hình thức là do LHQ đưa ra. Nguyên nhân của lệnh cấm vận (về hình thức) cũng là do Việt Nam đưa quân vào Campuchia chứ không phải do Mỹ thua Việt Nam nên quá cay cú mà cấm vận ngay được. Thậm chí, ngay sau chiến tranh có nhiều nước rất muốn tạo quan hệ với Hà Nội luôn, nhưng không được vì ta vẫn còn quá say sưa trên chiến thắng. Thậm chí ngay sau chiến tranh người Mỹ cũng đã từng chìa tay ra bình thường hóa quan hệ với VN nhưng vì vấn đề bồi thường ấy mà ta ko chấp nhận. Cuối cùng, họ lựa chọn TQ trước. Chính cuộc chiến năm 79, hình như cũng là do TQ bắt tay với Mỹ, nhân danh LHQ để "trị cho VN 1 bài học" (vì đưa quân vào CPC).

    Tất nhiên những vấn đề trên Đoan Trang có thể đã biết rồi & chỉ muốn nói lên những góc khuất, những vấn đề chưa được đưa ra cho đến giờ, dưới góc nhìn của bài viết (dân đi trước quan). Nhưng nếu như góc nhìn quá xa so với tiêu chuẩn, có thể sẽ làm một số người đọc khó khiểu.

    Just my two cents.

    Hi vọng sớm được đọc phần tiếp.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Bình luận của Linh Vu:

    "Chính cái tâm lý cần thiết cho chiến tranh lại là tâm lý rất có hại khi hòa bình. Niềm tự hào và say sưa với chiến thắng của chúng ta, hành động đi khắp nơi đòi Mỹ bồi thường chiến tranh, trả nợ máu, v.v..., đã tạo ra trong tâm lý người Mỹ một vết thương cực kỳ sâu mà họ không thể chịu nổi, đi đến cấm vận hoàn toàn cả Việt Nam..."

    Cái câu trích này anh không đồng ý lắm. Bọn Mỹ thực dụng bỏ xừ, việc VN đòi nó bồi thường chiến tranh thì tất nhiên không đời nào nó đồng ý, nó sẽ chỉ thấy buồn cười vì điều đó chứng tỏ VN chẳng hiểu gì về Mỹ cả. Thực ra ở đây, vấn đề còn liên quan tới 1 thỏa thuận từ hồi 1973 của Nixon với VN là Mỹ sẽ giúp VN tái thiết đất nước sau chiến tranh. Nhưng đó chỉ là 1 lời hứa hão vì hai lẽ: thứ nhất, tới năm 75 thì Nixon đã bị truất phế và hơn nữa, ở Mỹ, việc hỗ trợ lớn như thế phải thông qua Quốc hội chứ Tổng thống không thể quyết; thứ hai, với việc Bắc Việt thống nhất đất nước bằng vũ lực thì nước Mỹ cũng không còn phải có nghĩa vụ với một lời hứa từ trước trong khuôn khổ Hiệp định Paris khi hai bên cam kết sẽ không có thêm các hành động tiến chiếm đất đai của nhau.

    Còn lý do cấm vận hoàn toàn VN là từ việc VN tiến đánh Cambodia và đứng hẳn về Liên Xô. Mỹ lúc này đã bắt tay với TQ để chống LX và vì VN trở thành đồng minh trung thành của LX nên trong bài toán của Mỹ lúc đó, Mỹ đã chọn TQ cứ không phải VN. Thêm vào đó là vấn đề thuyền nhân khiến người Mỹ không thể làm ngơ kể cả nếu họ muốn.

    Nếu ngoại giao VN khéo léo hơn trong giai đoạn 1975-79 thì cũng có thể tình thế đã khác. Hồi đó một số viên chức Bộ Ngoại giao Mỹ cũng có ý mở rộng quan hệ thân thiết hơn với VN nhưng vì sự cộng hưởng nhiều yếu tố: chính sách ngoại giao kiêu ngạo của VN và lập trường khăng khăng đòi bồi thường chiến tranh (sau này thì VN cũng đồng ý gọi khoản này là hỗ trợ tái thiết đất nước nhưng lúc đó thì đã muộn); lập trường thiên hẳn về Liên Xô và chống TQ; đàn áp người chế độ cũ và vấn đề thuyền nhân; tiến đánh Cambodia; cộng thêm với việc quan điểm thân TQ chống LX của cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Brezinski thắng thế trong chính sách ngoại giao của Mỹ dẫn tới hậu quả là sự cấm vấm hoàn toàn.

    Nói chung, VN quả từng có cơ hội khá tốt để bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ trong giai đoạn 1976-77 nhưng lúc đó VN quá kiêu căng và ảo tưởng. Tới năm 1978 thì VN bắt đầu cà cuống, muốn "thêm bạn bớt thù" trước khi phải đánh nhau với Cambodia và TQ. Nhưng lúc đó thì đã quá muộn do các bad publicity của VN, cũng như do sự thắng thế của lập trường Brezinski ở Mỹ. Và từ lúc này người kiên quyết ngoảnh mặt đi lại là Mỹ.

    Đoan Trang viết:
    Washington cắt đứt toàn bộ quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Suốt những năm sau chiến tranh, lệnh cấm vận được thực thi nghiêm ngặt

    1995 Việt-Mỹ mới thiết lập quan hệ ngoại giao thì sao trước đó lại có chuyện "Washington cắt đứt toàn bộ quan hệ ngoại giao với Hà Nội".

    Trong giai đoạn cấm vận, 2 bên vẫn có những tiếp xúc không chính thức và bí mật thông qua một vài Thượng nghị sĩ Mỹ, chính khách nước ngoài hoặc các tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoạt động ở VN. Trong các tiếp xúc đó, quan tâm của Vn là phá bao vây cấm vận; của Mỹ là vấn đề người Mỹ mất tích. Do không có quan hệ NG chính thức nên lúc này vai trò khai phá và cầu nối của các NGOs rất quan trọng tuy hoạt động của họ chủ yếu trong lĩnh vực nhân đạo với quy mô nhỏ.

    H.V