Đặng Phong - Suy ngẫm từ một bài nói mới tìm lại được của Lê Duẩn (*)

  • Bởi Admin
    04/05/2010
    16 phản hồi

    Đặng Phong

    Lời tòa soạn Diễn Đàn: Cố tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn hiển nhiên là một nhân vật đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử Việt Nam nửa thế kỉ vừa qua. Nhưng người ta vẫn chưa thấy được - cả trong và ngoài nước - một cuốn sách, thậm chí một bài viết, nghiên cứu nghiêm chỉnh (không chỉ để ngợi ca hay chê bai một chiều) về ông. Bài viết của tác giả Đặng Phong mà chúng tôi xin giới thiệu dưới đây có lẽ là bài báo duy nhất được đăng trong nước nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông (7.4.1907) không rơi vào loại bài "lược sử các vị thánh (hay quỷ)". Từ một tư liệu tìm được trong văn khố, tác giả nêu ra được một số câu hỏi cho nhà nghiên cứu. Tất nhiên, người đọc có thể không chia sẻ những phân tích của ông, và đặt ra những câu hỏi khác, nhưng đó cũng là chuyện bình thường...

    Trong số các tài liệu tôi tìm thấy trong Phòng lưu trữ của Viện Kinh tế Việt Nam, có một văn bản mang tên: “Đồng chí Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24”. Thời điểm được ghi là: 13/08/1975. Tài liệu được in roneo, dày 14 trang. Căn cứ theo lời văn thì thấy rằng đây là bản gỡ băng trực tiếp từ một bài nói của ông, nhằm chuẩn bị cho những cuộc thảo luận tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24. Câu đầu tiên của bài phát biểu là: “Tôi phát biểu một số ý kiến để các đ/c tham khảo trước khi đi vào thảo luận…”.

    Đây là một tài liệu rất thú vị, vì qua đó có thể thấy được những suy nghĩ của nguyên Bí thư thứ nhất Lê Duẩn vào những ngày tháng đầu tiên sau khi giải phóng Miền Nam.

    Trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, năm 1975, không thấy có tài liệu này. Có lẽ vì đó là bài văn nói, mà muốn chuyển thành văn viết thì tất nhiên phải được chính ông xem lại. Nhưng đến khi chuẩn bị cho Văn kiện Đảng toàn tập thì ông đã không còn nữa, mà không ai có thể làm thay ông việc này. Vì vậy trong Văn kiện Đảng Toàn tập năm 1975 (xuất bản năm 2001) chỉ có Báo cáo của Bộ Chính trị trước Hội nghị Trung ương lần thứ 24 và sau đó là có Nghị quyết của Hội nghị, được ghi là: Ngày 29/09/1975. Như vậy bài phát biểu kể trên có lẽ chỉ là bài nói có tính chất gợi ý của ông trước khi đi vào thảo luận tại Hội nghi TƯ 24.

    Vì đây là bài phát biểu trực tiếp và được gỡ băng trung thực với văn nói, nên nó chưa được “hoàn chỉnh” về mặt văn vẻ. Nhưng có lẽ chính vì thế nó lại có ưu điểm là phản ảnh khá trung thực những suy nghĩ rất tức thì và cũng rất bộc trực của bản thân ông sau những ngày trực tiếp quan sát thực tế ở Miền Nam.

    Điều rất có ý nghĩa đối với giới nghiên cứu lịch sử hiện nay là: Khi xem xét những phân tích và đánh giá của Lê Duẩn về tình hình Miền Nam và những chủ trương của ông đối với kinh tế cả nước sau giải phóng, chúng ta thấy rằng nó có nhiều khía cạnh hơi khác so với những văn kiện chính thức của Hội nghị Trung ương 24 hơn một tháng sau đó và càng không giống với những văn kiện chính thức của Đại hội Đảng lần thứ IV/1976 hơn 1 năm sau đó. Ngược lại, nó gần gũi hơn với sự đánh giá tình hình kinh tế của Đại hội Đảng lần thứ VI/1986, trong đó chứa đựng rất nhiều những cách nghĩ về một nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế mở, một nền kinh tế nhiều thành phần, nhấn mạnh tới việc sử dụng tối đa những tiềm lực của mọi thành phần kinh tế để phát triển…

    Hiện nay, chúng tôi chưa có điều kiện để tìm hiểu kỹ hoàn cảnh hình thành những tư duy đó của ông và cũng chưa có điều kiện để tìm hiểu những lý do nào đã làm cho những tư tưởng này của ông không được quán triệt đầy đủ, hoặc đã được điều chỉnh, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24, mà phải tới gần 10 năm sau đó nó mới đi vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.

    Như chúng ta biết, Lê Duẩn là con người mà nhiều người cho là “suốt đời suy nghĩ, tìm tòi”. Đúng. Ông có bản tính không thoả mãn với những gì cũ kỹ, có sẵn. Trong tư duy của ông luôn thể hiện những cố gắng cao độ trong sự vận động tìm tòi, phát hiện, phủ định cái cũ, nhiều khi phủ định chính mình, nhằm mở ra những hướng mới (tất nhiên cái mới và cái đúng không phải luôn luôn đồng nghĩa)…

    Tài liệu ngắn ngủi này phản ảnh một cung đoạn rất sắc nét trong những dòng suy nghĩ của Lê Duẩn về những vấn đề kinh tế Việt Nam.

    Có thể nêu lên mấy suy nghĩ rất quan trọng sau đây trong bài phát biểu của ông:

    Thứ nhất, ông thẳng thắn nói lên một sự thật tuy rất bình thường, thậm chí là tất yếu, nhưng không phải ai cũng có thể nói ra: Ông cho rằng trước một thực tế rất mới mẻ của Miền Nam sau ngày giải phóng, thì những cách suy nghĩ, những cách đánh giá, cách phân tích, cách lựa chọn giải pháp của mỗi người tất nhiên không thể một lúc giống nhau. Sự khác nhau đó là bình thường. Đó là phép biện chứng của nhận thức, của tư duy. Nhưng từ lâu chúng ta có thói quen ngại nói ra những cái gì là không giống nhau trong suy nghĩ. Từ cái ngại đó mà đã có thói quen ngộ nhận hoặc cố tình tạo ra ngộ nhận rằng luôn luôn có sự nhất trí cao giữa những bộ óc chủ chốt trong những vấn đề chủ yếu của đất nước. Nhưng sự nhất trí như thế không bao giờ là cái “tự thân”, mà chỉ có thể là kết quả của những gặp gỡ, đối thoại, thuyết phục và điều chỉnh giữa những ý kiến khác nhau. Lê Duẩn đã nói được điều đó ngay trong đoạn mở đầu của bài phát biểu:

    Chúng ta xưa nay tưởng đã nhất trí với nhau, nhưng thực ra chưa phải nhất trí lắm đâu… Chính những cái gì rất chung và rất quan trọng đó mà ta nắm giống nhau, thì khi đi vào cụ thể càng dễ giống nhau hơn”. [1]

    Thứ hai, ngay sau khi giải phóng Miền Nam khoảng 2 tuần, Lê Duẩn đã trực tiếp vào Nam quan sát và tìm hiểu tình hình. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, ông đã có một cách nhìn khá độc lập về thực trạng kinh tế Miền Nam, không lệ thuộc vào những khung lý thuyết có sẵn. Ông đánh giá khá tích cực về hàng loạt ưu điểm của nền kinh tế thị trường ở Miền Nam. Chẳng hạn: Ông không quá nhấn mạnh vào cái gọi là chủ nghĩa thực dân mới với những tính chất ăn bám, mục nát, phồn vinh giả tạo, với những bản chất phản động của giai cấp tư sản mại bản… Ngược lại ông lưu ý tới những sự thật không thể chối cãi được là cách làm ăn có hiệu quả của kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản, với năng suất lao động cao hơn, dù là bóc lột thì người bị bóc lột cũng có đời sống khá hơn…. Ông nói:

    Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột người ta dữ, mà năng suất của nó vẫn cao. Vì nó là tư bản nhưng nó đi theo quy luật của nó, nó bóc lột nhưng mà vẫn tiến lên… Bây giờ nông dân ở miền Nam họ làm rất khá, mà nông dân thì phần nào hoá tư sản rồi”.

    Thứ ba, qua thực tế của mô hình kinh tế Miền Nam, ông đã so sánh trở lại với mô hình kinh tế Miền Bắc và ông thẳng thắn thừa nhận nhiều nhược điểm của mô hình kinh tế ở Miền Bắc trong thời kỳ xây dựng CNXH. Ông nói:

    Xưa nay ở miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật… Nay có được miền Nam là để chúng ta thấy lại cho rõ hơn nữa. Còn ta chủ nghĩa xã hội nhưng chưa đi đúng quy luật xã hội chủ nghĩa của ta, đúng mặt này nhưng không đúng mặt kia, cho nên ta cứ chập chờn mãi, chòng chành mãi.” [2]

    Tại sao người thợ ở ngoài này không bằng người thợ ở trong kia? Mình trả lời làm sao? Anh là chủ nghĩa xã hội mà tại sao anh lại không được bằng trong kia, anh trả lời làm sao? Đảng ta phải có trách nhiệm về những điều sai như vậy. Có thể vì chiến tranh, vì nhiều thứ, tôi đồng tình như vậy, nhưng trong đó cũng có khuyết điểm của mình chứ không phải không có khuyết điểm đâu” [3].

    Thứ tư, từ cách nhìn nhận về kinh tế Miền Nam và nhìn nhận về những nhược điểm của nền kinh tế Miền Bắc, Lê Duẩn đã đưa ra những gợi ý về phương hướng và chính sách kinh tế cho Miền Nam và cho cả nước. Quan điểm của ông lúc đó là không nên vội vã tiến hành cải tạo đối với công thương nghiệp tư doanh. Còn đối với nông nghiệp, chưa nên cưỡng ép nông dân Miền Nam vào các hợp tác xã. Việc đó sẽ tạo ra sự bất mãn của nông dân và sự sa sút của sản xuất nông nghiệp. Ông nói:

    Miền Bắc trước đây phải hợp tác hoá ngay lập tức... Nhưng miền Nam bây giờ không thể làm như vậy. Miền Nam bây giờ phải để cho giai cấp tư sản phần nào đấy, phải cho nó phát triển phần nào đã. Phải để kinh tế gồm mấy thành phần thì nông dân mới theo ta, liên minh mới chặt chẽ. Bắt hợp tác hoá là không đúng, năng suất thấp xuống thì hỏng hết cả, họ sẽ không theo giai cấp vô sản nữa, không thống nhất được đâu. Người nông dân làm ra những sản phẩm, người ta muốn bán, nếu chúng ta không cho bán thì nông dân chọi lại với chúng ta, nguy hiểm lắm, không thể được. Nếu chúng ta không có một hình thức kinh tế để kéo nông dân đi tới thì ta không thống nhất được. Vì vậy Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết trong giai đoạn bước đầu này.” [4]

    Những nhận định đó của ông đã được thực tiễn những năm 1978-1979 chứng minh là đúng: Sau khi vội vàng ép buộc nông dân vào các tập đoàn sản xuất thì nông nghiệp sa sút một cách nghiêm trọng: 13,5 triệu tấn năm 1976 xuống 12,2 triệu tấn năm 1988. Khi áp đặt hệ thống thu mua theo giá kế hoạch thì nông dân phản ứng gay gắt, đã “ chọi lại chúng ta” và sản lượng lương thực huy động đã giảm sút với mức độ còn nghiêm trọng hơn mức giảm sút của tổng sản lượng lương thực: Từ trên 2 triệu tấn năm 1976 xuống 1,6 triệu tấn năm 1978 và năm 1979 chỉ còn 1,4 triệu tấn. Đó chính là lúc mà Tp Hồ Chí Minh phải ăn bo bo thay cho gạo, là điều chưa từng có trong lịch sử thành phố 300 năm trước đó…

    Rất tiếc là những ý tưởng kể trên của Lê Duẩn đã không được thực hiện. Đến nay chúng ta vẫn khó hiểu được những lý do nào đã khiến cho chỉ ngay sau đó ít lâu, trước hết là ngay tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24, đã có những nhận định và kết luận khác đi, thậm chí trái ngược với những gợi ý trong bài phát biều khai mạc của Lê Duẩn.

    Thí dụ:

    Về tình hình quốc tế, Hội nghị TW lần thứ 24 đã nhận định:

    Sự suy yếu toàn diện và địa vị quốc tế giảm sút của chủ nghĩa đế quốc Mỹ là một xu thế không thể đảo ngược được... Hệ thống tư bản chủ nghĩa đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện mới.” [5]

    Chính sách đối ngoại lúc này được xác định là:

    Tư tưởng cơ bản phải thấu suốt trong lĩnh vực đối ngoại là: chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự thống nhất của Đảng ta”. [6]

    Trong việc đánh giá thực trạng kinh tế Miền Nam, văn bản của Nghị quyết 24 đã nhận định rằng:

    Miền Nam là cái túi tập trung bọn địa chủ, tư sản mại bản, bọn tay sai của đế quốc, bọn chống đối cách mạng ngoan cố nhất ...và tầng lớp tư sản quan liêu quân phiệt khá đông đảo nhờ bóc lột nhân dân, lũng đoạn kinh tế, sống giầu có xa hoa trên xương máu của đồng bào ta… Chúng căm thù chế độ mới, ngoan cố không chịu thuần phục chính quyền, một số đang điên cuồng chống lại cách mạng… Chủ nghĩa thực dân mới đã tạo ra một xã hội ăn bám và thối nát…

    Về con đường phát triển của kinh tế Miền Nam, Nghị quyết 24 đã chủ trương:

    Phải xoá bỏ tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hoá cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý.

    Đối với kinh tế tư sản dân tộc, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh, bắt đầu từ những cơ sở sản xuất kinh doanh quan trọng”.

    Trước mắt cần xây dựng một số hợp tác xã thí điểm để rút kinh nghiệm. ở những nơi chưa đủ điều kiện xây dựng hợp tác xã thì ra sức phát triển các tổ đổi công vần công”.

    Đối với thương nghiệp nhỏ, cần tích cực cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng cách tổ chức đăng ký kinh doanh, có chính sách thuế và chế độ kiểm kê, kiểm soát, chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất, lựa chọn để sử dụng một số người làm kinh tiêu.” [7]

    Dòng tư duy đó tiếp tục đi từ Hội nghị Trung ương lần thứ 24 tới Đại hội Đảng lần thứ IV, với những chủ trương còn toàn diện và triệt để hơn:

    Việc hợp nhất các tính nhỏ hiện nay thành những tỉnh mới là nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước.

    Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư bản tư doanh, đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp và thương nghiệp nhỏ… sử dụng và hạn chế tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp đi đôi với xây dựng huyện, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; cải tạo thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp bằng con đường hợp tác hoá là chủ yếu, cải tạo thương nghiệp nhỏ chủ yếu bằng cách chuyển dần tiểu thương sang sản xuất” [8].

    Xây dựng nông trường quốc doanh; gắn liền xây dựng hợp tác xã với xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông – công nghiệp” [9]

    Từ đó Việt Nam sẽ:

    Vươn lên những đỉnh cao của thời đại, biến đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề thành một nước văn minh, giầu mạnh, thành trì bất khả xâm phạm của độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Đông Dương và Đông Nam Á”. [10]

    * * *

    Đối với sử học, người nghiên cứu cần và có thể khác với người làm công tác tuyên truyền ở chỗ: Mỗi khi có dịp kỷ niệm một nhân vật lịch sử nào đó, không nhất thiết chỉ lựa chọn những gì là hay là tốt để nói. Vừa qua, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, hàng trăm bài viết ca ngợi ông như nhà lý luận kiệt suất, sáng tạo, dường như ông bao giờ cũng đúng, cũng đi đầu… Trong lịch sử làm gì có những nhân vật thần thánh như thế!. Trong các giới nghiên cứu, trong cả những nhà điều hành cùng thời với ông mà tôi được gặp, và cả trong dư luận xã hội mà tôi thường được nghe, không thấy ông được nhìn nhận một cách phiến diện như vậy. Ông được nhiều người kính trọng, thậm chí sùng kính. Đó là sự thật. Ông đã có những nhìn nhận rất sáng trong thời chiến tranh, về cách đánh Pháp, đánh Mỹ. Về mặt đó, quả ông là một nhà chiến lược có tài. Nhưng trong việc định hướng cho kinh tế và cho xã hội, trong việc lượng định những thế cờ quốc tế, và về nhiều mặt khác trong đời sống , về phong cách lãnh đạo…, không phải ông không có những điều mà đến nay thấy là cần được suy ngẫm thêm để rút kinh nghiệmi, và thực tế là đất nước đã làm khác đi để chữa bệnh duy ý chí, để lấy dân làm gốc, nhờ đó mới đi lên như ngày nay.

    Tất nhiên văn hóa nghiên cứu không bao giờ cho phép những trò phê phán phi lịch sử. Nhưng sẽ là và chỉ là có ích nếu nói lên được một cách khách quan và công bằng những gì đã đạt được và cả những gì còn hạn chế ở mỗi nhân vật lịch sử, phân tích những nguyên nhân và hoàn cảnh của những suy nghĩ và quyết định của nhân vật đó, cả những cái đúng và những cái chưa đúng. Đó là vẻ đẹp của lịch sử và của các nhân vật lịch sử.

    Theo văn hóa nghiên cứu đó, đối với sự nghiệp của Lê Duẩn, con người có tầm ảnh hưởng rất lớn trong suốt nửa sau thế kỷ XX của Việt Nam và của cả một số sự kiện quốc tế, thì tìm hiểu về ông cũng là tìm hiểu bản thân con đường và những bước ngoặt lớn trong lịch sử Việt nam.

    Theo nghĩa đó, có nhiều câu hỏi vẫn còn là thách đố đối với giới nghiên cứu. Thí dụ như:

    - Một người có vị trí hàng đầu trong Đảng và có uy tín cao nhất nước vào lúc đó như Lê Duẩn, nếu quả đã có sẵn những tư duy kinh tế sáng suốt và đúng đắn như trong bài phát biểu kể trên, thì tại sao vẫn không vượt qua được những rào cản của cả một bề dày tư duy cũ kỹ, bảo thủ, trì trệ, mà chính ông cũng đã coi là “nguy hiểm lắm”, và thực tế là đã dẫn tới những khó khăn và tổn thất không nhỏ của đất nước trong hàng thập kỷ sau đó?

    - Từ bài phát biểu khai mạc tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 cho tới bản thân Hội nghị Trung ương 24 và những kết luận chính thức của Hội nghị đó, đã có những diễn biến hay chuyển biến lịch sử như thế nào? Trong đó bản thân Lê Duẩn có những thay đổi gì trong suy nghĩ không? Nếu có thì thay đổi vì sao và như thế nào? Tại sao ở ông có cả những suy nghĩ khá cấp tiến, nhưng không phải không có những quyết định mà kết quả là ngược lại với ý nguyện của ông? Có thể giả thiết như thế này không: Vào cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, những bức xúc của ông về sự ách tắc của mô hình kinh tế cũ cùng những ý tưởng của ông về một mô hình mới có lẽ cũng mới chỉ là những ý nghĩ đột xuất, như những phản ứng tức thời trước một thực tế còn quá khó khăn, phức tạp, chứ chưa thành cả một hệ thống tư duy chiến lược có tính chất cương lĩnh? Nếu như ở ông đã có được điều đó, thì với uy tín lớn và ở cương vị cao của ông lúc đó, chắc tình hình đã diễn ra khác đi với những gì đã diễn ra trong 10 năm sau giải phóng. Có một lần, giáo sư Trần Phương - một trong những trợ lý kinh tế thân cận nhất của Lê Duẩn - đã dành cho tôi cả một ngày để trao đổi về Lê Duẩn, thì chính giáo sư cũng thừa nhận rằng: Vào thời kỳ đó Lê Duẩn chưa có đủ thời gian để hoàn thiện những suy nghĩ về con đường kinh tế của Việt nam…

    - Trong những chủ trương và quyết sách như thống nhất về mô hình kinh tế trên cả nước, về việc tiến nhanh, tiến mạnh lên sản xuất lớn XHCN, về việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, về việc đưa nhanh các HTX lên cấp cao, về việc cải tạo công thương nghiệp Miền Nam một cách ồ ạt và rất phi kinh tế, về tư tưởng làm chủ tập thể, về việc sắp xếp lại giang sơn, về việc sáp nhập hơn 60 tỉnh của cả nước thành 29 tỉnh và thành phố,về việc xây dựng cấp huyện thành những pháo đài kinh tế…, thì Lê Duẩn đã có một vai trò như thế nào?

    - Trong một bài viết gần đây trên Thời báo Kinh tế (ngày 6/4/07), giáo sư Trần Phương có kể lại rằng một lần tại nhà nghỉ Đồ Sơn, có mặt cả thủ tướng Phạm văn Đồng, vì quá bức xúc trước cảnh kinh tế sa sút và đời sống khó khăn, Lê Duẩn đã nói bằng một giọng gay gắt: “Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi”. Điều đó quả đã thể hiện rõ cả quyền uy, cả tính cách trung thực và tinh thần trách nhiệm của ông, mà giáo sư Trần Phương gọi là “một trái tim nhân hậu”. Nhưng chưa rõ ông quan niệm cái phạm trù “chúng ta cầm quyền” là gồm những ai?

    - Và sau khi ông qua đời, Đại hội Đảng lần thứ VI đã nghiêm khắc phê phán căn bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh xa rời thực tế, xa rời nhân dân, không coi dân là gốc…, là những căn bệnh được nhìn nhận là đã diễn trong suốt một thời gian khá dài trước đó, cũng tức là chính trong thời Lê Duẩn là Tổng bí thư. Vậy thì Lê Duẩn đã có vai trò thuận hay nghịch và đến mức nào đối với những căn bệnh đó?

    - Sau này, khi nghiên cứu kỹ về lịch sử cơ chế khoán Hải phòng, tôi được biết khu nhà nghỉ của Trung ương ở Đồ Sơn là một trong những nơi đã hình thành và phát triển những tư tưởng lớn như làm chủ tập thể, sản xuất lớn, HTX cấp cao… Rất gần đó, có HTX Đoàn Xá (mà theo đường chim bay chỉ cách nhà nghỉ Đồ Sơn có 12 km thôi, từ trên nhà nghỉ có thể nhìn thấy rõ lúc trời quang), sau khi đưa HTX lên cấp cao năm 1977, đã có hơn 50 hộ nông dân xã viên không còn gì để ăn nữa , phải bỏ ra thành phố đi ăn mày… Vậy những gì đã tạo ra sự ngăn cách giữa “trái tim nhân hậu” nơi Lê Duẩn với những nghịch cảnh kinh tế, mà Đoàn Xá là một trong vô vàn ?

    - Rồi đến khi Đảng ủy Đoàn Xá phải “nhắm mắt làm ngơ” cho khoán chui để dân khỏi đói, và do đó mà Đoàn Xá trở thành cái nôi nổi tiếng của khoán Hải phòng, thì khi biết chuyện, Lê Duẩn đã tuyên bố ngay với lãnh đạo thành phố: “Tôi đồng ý, cứ cho làm ngay đi, không phải hỏi ai nữa cả!”. Lời nói đó là một cú hích góp vào những khởi sắc của phong trào khoán, giúp nó lan toả trên cả nước sau đó, góp phần cứu nông nghiệp và nông dân cả nước khỏi cảnh bần hàn, sa sút. Sự kiện đó hẳn đã khẳng định rõ thêm “trái tim nhân hậu” và tư duy độc lập của ông. Nhưng mặt khác, phải chăng nó cũng phản ảnh cái dự cảm của ông về khả năng “chưa nhất trí lắm đâu” trước một vấn đề hệ trọng và nhạy cảm như vấn đề khoán? Và phải chăng cũng vì thế mà trong trường hợp này, rút kinh nghiệm từ khoán Vĩnh Phúc, ông đã phải “đi trước một bước” bầy tỏ sự đồng tình triệt để trước khi có thể có một sự cản phá?(**)

    Đặng Phong

    ___________________________

    Chú thích:

    [1] Đồng chí Lê Duẩn, Bí Thư thứ nhất phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương, ngày 13-8-1975. Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. VK. 36. 42. tr.1.

    [2] Như trên, tr. 16.

    [3] Như trên, tr. 16-17.

    [4] Như trên, tr. 8-9.

    [5] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, đd, tr. 385.

    [6] Như trên, tr. 387.

    [7] Văn kiện đảng Toàn tập, tập 36, 1975, tr.332, 412 -415.

    [8] Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. NXB Sự thật, HN 1977, tr. 108-109.

    [9] Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Văn kiện đảng toàn tập. Tập 37, tr. 570.

    [10] Diễn văn của đồng chí Lê Duẩn trong buổi lễ mừng chiến thắng. Văn kiện đảng Toàn tập, tập 36, 1975, tr 212

    (*) Bài đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay, số tháng Tư, ra ngày 15 tháng 4 năm 2007… Bản do tác giả gửi Diễn Đàn có bổ sung và sửa chữa một đôi chỗ.

    (**) Theo nhưng người trợ lý thân cận nhất của ông kể lại thì thái độ của ông đối với khoán ở Vĩnh Phúc (1966-1968) khác với nhiều người lúc đó. Nhưng ông chưa kịp can thiệp thì đã có lệnh đình chỉ, mà đã có lệnh rồi thì không thể đảo ngược lại được. G/s Trần Phương kể (cũng trong Thời báo KT kể trên) rằng sau khi có một bài trên Báo Nhân dân phê phán gay gắt khoán của Kim Ngọc, ông đọc xong và cầm tờ báo đi vào phòng các trợ lý, quẳng tờ báo xuống bàn, nói bằng một giọng rất không vui vẻ: "Đấy, các anh đọc đi", rồi ông nhếch mép cười bỏ đi… Ông Đậu ngọc Xuân là trợ lý của ông kể lai: Khi Khoán Vính phúc đã bị đình chỉ, ông chỉ còn biết lên thăm Kim Ngọc và bày tỏ sự đồng tình với những tìm tòi của Kim Ngọc, an ủi về việc những sáng kiến quá mới như thế thường không dễ đi ngay vào cuộc sống….

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    16 phản hồi

    Chúng ta không thể có thông tin chính xác và đầy đủ để đánh giá về ông Lê Duẩn các thầy ạ. Hay tới Ban Tuyên giáo Trung ương mà tìm hiểu!

    LD có tài lanh tài vặt của con người và có cả sự khốn nạn dã man của loài ác thú; còn tật của LD là của một con người tàn bạo và của một cOn thú dữ hoang dại !!!

    Ngoài những đặc tính trên, LD cũng như tất cả lũ lãnh đạo cs ở tất cả các nước cs có chung đặc tính nữa là: dối trá trắng trợn và không biết xấu hộ- KHÔNG CÓ TỰ TRỌNG

    Khách ngoigoccaysung viết:
    LD là giúp việc cho HCM, trực tiếp phụ trách chiến trường, cả B,C,K, không được phân công phụ trách việc khác. Khi làm TBT thì cũng phải nể nang những đ/c đã phụ trách việc nông nghiệp, việc công nghiệp, việc cải tạo tư sản ở miền bắc đã có nhiều kinh nghiệm trước đó, nên ổng phát biểu ban đầu như vậy, nhưng những người phụ trách trực tiếp các việc đó đã phản đối chăng? ổng đã chịu thua? (cũng có thể hiểu được là khi LD đã hoàn thành sự nghiệp HCM giao lại, công lớn, thì việc trong thời bình tiếp theo cũng phải tế nhị né ra, để chỗ cho các đ/c khác thể hiện với chứ?). Điều này có vẻ hợp với tính cách khiêm tốn nông dân của LD? Hoặc do ổng nhận thấy mình đã quá quyết đoán trong chiến tranh nên nay hòa bình thì để cho các đ/c quen việc quyết? Hặc ổng nghi ngờ chính mình do chưa có thời gian chuẩn bị kiến thức lãnh đạo kinh tế? Dầu sao thì ổng vẫn là người chịu trách nhiệm chính của đảng đối với nghị quyết ban ra. Thông cảm với ông để rút kinh nghiệm cho tương lai. Khi nào kho tài liệu mật của Đảng đượ giải mã công khai thì biết chính xác hơn.

    Cụ này đúng là ngồi gốc cây sung chờ sung rụng. Lúc thì bẩu chính trị mà để bênh đảng cộng lừa đã xộ khám các con lừa chạy trật đường rây Rờ lại bẩu thông cảm cho Duẫn chờ đến khi tài liệu mật được giải mã thì moái chính xác hơn. Hị hị chờ đến khi cả xứ lừa thăng lên thiên đàng nhể?

    Bây giờ là tháng 7/2013, gần 400 ngàn DN đã phá sản hoặc ngưng hoạt động, hàng triệu công nhân thất nghiệp; đất đai lấy của dân rồi bỏ hoang hóa trong khi dân không có để làm lúa tự cứu đói; Ngân hàng , BĐS nợ khó trả, không đòi được chất như núi; tham nhũng thất thoát tiền ngân sách, tiền vay nước ngoài như thùng vô đáy.. Xin các vị hãy thực tế hơn, chuyện quá khứ cứ để đó đã, hết cơn đói hẵng đào xới,bới lên mà mổ xẻ ngâm cứu . Mà thực ra còn gì mà nghiên cứu , mọi việc đã phơi bày rõ dưới ánh sáng của cuộc sống đương đại ở VN và trên thế giới. Lịch sử đát nước VN không chỉ có thành công và tốt đẹp mà có cả thất bại, sai lầm và tội ác. Lịch sử thất bại và tội ác vẫn còn đó nhưng để cho người VN hôm nay và cho hậu thế gạn đục khơi trong, rút bài học kinh nghiệm để tránh cho tương lai. Điều quan trọng nhất và mong đợi nhất của người dân VN hiện tại là Lãnh đạo đảng và nhà nước VN lấy đó làm bài học để tránh vết đổ cho đất nước và chính tổ chức của ĐCSVN, nếu muốn tồn tại . Quyền lợi Dân tộc, Nhân dân, Tổ quốc phải đặt trên quyền lợi của một nhóm người trong lãnh đạo của ĐCSVN; học thuyết và ý thức hệ CSCN chỉ là phương tiện để nhằm mục đích cho độc lập dân tộc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân. Không có bạn và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi Quốc gia, dân tộc VN là vĩnh viễn!

    Sau này, thế nào cũng có một vài tay tiến sĩ, giáo sư bỗng dưng khám phá khoa học ra rằng tớ cũng đã có phát biểu rằng Trung quốc không phải là bạn, tình hình biển Đông đã không "không có gì lạ," Mỹ không phải là thế lực thù địch ...

    Nếu đồng chí Lê Duẩn khi còn sống đã phát biểu khoảng 5 triệu từ, 10000 lần (để đạt danh hiệu phát biểu nhiều, linh tinh, không trông tâm nhất trong các tổng bí thư), thì thế nào cũng có xác xuất là đồng chí ấy phát biểu ý kiến "không tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội".

    Tớ cũng thế. Nhưng tớ để cho các tiến sĩ, giáo sư tương lai tha hồ khám phá và suy ngẫm các phát biểu, đề tài khoa học "mới."

    Cá nhân tôi tán đồng ý kiến của Admin(cá nhân) ở mã số 13276.
    Lời nói của những người làm chính trị, nhất là những người có khả năng
    phù phép đảo lộn lịch sử, thật khó kiểm chứng, ngay cả khi sự kiện liên
    hệ được cho là đã giải mã.

    Có thể LD và cả đàn anh của LD, ông HCM, có viễn kiến tầm quốc tế,
    nhưng viễn kiến của họ lại không phục vụ cho đất nước, cho dân tộc, mà là phục vụ cho ý thức hệ họ theo đuổi, và trên hết là phục vụ cho tham vọng cá nhân của họ.

    Tham, sân, si của họ đã áp đảo tất cả !

    Trung Truong viết:
    Phải thừa nhận rằng ông Lê Duẫn là một người tài năng, có thể ở mức xuất chúng, nghĩa là thuộc loại nhân tài hiếm hoi.

    Vâng Lê Duẩn quả là thiên tài khi là "tác giả" của thuyết làm chủ tập thể (về kinh tế) để ước mơ dân chúng mỗi gia đình có (một) TV, có (một) máy khâu vào cuối thế kỷ 20.

    Dĩ nhiên thuyết làm chủ tập thể của y dường như không mâu thuẫn với những hành động quyết đoán trong việc thanh trừng lẫn nhau để trở thành độc tài (chính trị) kiểu CSVN.

    BÀI NÓI CHUYỆN MỚI PHÁT HIỆN CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẪN

    Việc ông Đặng Phong mới phát hiện thêm được một bài nói chuyện như vậy của ông cố TBT Lê Duẫn, nếu quả đúng sự thật, là một điều hay, bởi nó giúp bổ sung cho phần tiểu sử của vị Tổng Bí Thư quan trọng này của đảng CSVN được hoàn chỉnh hơn.

    Tuy nhiên, việc phát hiện đó chắc không ảnh hưởng gì đến sự phán xét của lịch sử về sau đối với Ông nói riêng, cũng như đối với đảng CSVN nói chung.

    Từ góc độ cá nhân, tôi thiển nghĩ rằng trường hợp của ông cố TBT Lê Duẫn là một bằng chứng rằng dân tộc Việt Nam,tuy thông minh, đã và đang không có những nhà lãnh đạo ngang tầm với thế giới, và có lẽ đó là yếu điểm lớn, là lý do khiến Đất Nước không vươn lên được mạnh mẽ, vẫn tụt hậu về nhiều mặt so với các quốc gia khác, không thoát ra được khỏi ảnh hưởng bao trùm của Trung Hoa.

    Phải thừa nhận rằng ông Lê Duẫn là một người tài năng, có thể ở mức xuất chúng, nghĩa là thuộc loại nhân tài hiếm hoi. Việc ông từ một người vô danh, ngoi lên,loại dần những đối thủ lớn như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh,Phạm văn Đồng, thu phục được Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, và rồi lấn át ngay cả vị lãnh tụ cao nhất, trở thành kẻ cầm vận mệnh của cả Dân tộc trong tay trong một thời gian dài là một bằng chứng hùng hồn về tài năng xuất chúng đó.

    Nhưng tài năng đó bị giới hạn, gói gọn lại trong việc tranh chấp quyền bính, trong những xão thuật chính trị hạn hẹp trong một chính đảng, trong việc vạch ra những sách lược và chiến lược cho một cuộc chiến thuộc quy mô quốc gia và vùng. Tài năng đó thiếu một viễn kiến chính trị tầm cỡ quốc tế (worldly vision); một viễn kiến giúp Ông vượt thoát ra khỏi tín điều ý thức hệ, đứng cao hơn hẳn đồng bào mình và người đồng thời để có một tầm nhìn xuyên suốt lịch sử của Dân tộc, của thế giới,từ đó dẫn đưa Đất Nước đi lên. Tài năng của ông LD chỉ đủ để trở thành một nhà lãnh đạo trung bình, chưa đủ để trở thành một nhà lãnh đạo kiệt xuất, giúp đưa Đất Nước khai sinh một thời đại mới.

    Ông LD, so ra, không ngang tầm với những lãnh tụ các quốc gia khác cùng thời. Chẳng hạn, Ông không bằng Lý Quang Diệu hay ngay cả Pak Chung Hee (cuả Nam Hàn), thua xa Đặng Tiểu Bình. Hạn chế lớn nhất, trong cương vị một lãnh tụ, là ông LD không thoát ra khỏi được sự ràng buộc ý thức hệ; Ông là một đệ tử trung thành của chủ nghĩa CS,toàn tâm toàn ý tin theo học thuyết Maxist. Về mặt này thì Đặng Tiểu Bình, với câu nói nỗi tiếng: "Bất kể là mèo trắng hay mèo đen, miễn bắt được chuột" tỏ ra hơn hẳn ông LD, đã không bị ràng buộc với giáo điều CS. Bình đã tỏ ra có phong cách của một lãnh tụ cỡ lớn, những người mà trong thâm tâm không tin vào một điều gì khác ngoài viễn kiến lãnh đạo của chính họ, sẳn sàng chỉ xử dụng mọi tín điều khác như phương tiện, chứ không là mục đích. Ngày xưa các hoàng đế La Mã đã xử dụng đức tin Ki-tô giáo, nhưng không để cho đức tin đó ràng buộc mình; ngày nay các ông vua Saudi Arabia cũng xử dụng Hồi giáo để củng cố sự trị vì của họ, nhưng chính bản thân họ không để bị buộc ràng bởi tôn giáo ấy trong vai trò lãnh đạo; các lãnh tụ lớn của Mỹ cũng không khác, họ hô hào Dân Chủ, nhưng tự họ rất sẳn sàng làm những việc phi DC để phục vụ quyền lợi và duy trì vị thế quốc tế của Hoa Kỳ.

    Chính vì không có viễn kiến lớn để vượt ra khỏi sự ràng buộc của giáo điều ý thức hệ mà ông LD, cũng như vị lãnh tụ đàn anh của Ông, đã tự hạn chế mình trong một khuôn khổ nhất định và hạn hẹp. Có thể ví Ông và các vị khác đồng hội như những con ngựa đã khớp hàm thiếc, chỉ nhìn thấy có một hướng, một phiá; phía đó được phác hoạ và đánh dấu một cách đơn giản bằng những dấu mốc trên sơ đồ: Xã Hội CN, là đấu tranh giai cấp, là Hợp Tác Hoá, là liên minh Công Nông, là chuyên chính vô sản, và nhất là mô hình Sô-Viết! Ông LD,cùng những nhà lãnh đạo CS khác,đến với học thuyết Marxist-Leninist như kiểu những kẻ tài tử về thưởng ngoạn tranh, họ đến rất gần bức tranh, chăm chú nhìn vào,từng chi tiết một, họ bị say mê cuốn hút vào những chi tiết sặc sỡ, hấp dẫn, họ bị những chi tiết ấy thôi miên mạnh đến độ họ không còn tỉnh táo để lùi xa, nhìn lại bức tranh ở tầm nhìn tổng quát, bỏ qua công việc rất quan trọng là so bức tranh ấy với những bức cùng loại bên cạnh để từ đó trở lại bình tĩnh hơn, nhận ra đâu là cái hay, đâu là điều bất cập của bức tranh. Họ đã mua vội bức tranh, đã ôm lấy chủ nghiã CS vào lòng, thiết tha sỡ hữu lấy một ý thức hệ mà không đầy 60 năm sau đã sụp đổ tan tành!

    Chính vì sự hạn chế về viễn kiến vừa nói mà vào những năm 1940s,ông LD, và người đàn anh của Ông, cố chủ tịch HCM, đã không nhận ra được rằng vào thời điểm đó, sự suy yếu của Trung Hoa là cơ hội ngàn năm một thuở cho Việt Nam để thoát một lần vĩnh viễn ra khỏi sự khống chế của nước láng giềng khổng lồ bằng cách Tây Phương hoá hoàn toàn, vượt lên trước Trung Hoa về văn hoá, khoa học-kỹ thuật, về kinh tế và quân sự. Họ, ông LD và các lãnh tụ CSVN,do mê muội ý thức hệ, đã không nhìn suốt chiều dài lịch sử để thấy rằng VN chỉ tự chủ, ổn định và phát triễn những khi Trung Hoa suy yếu, còn ngược lại luôn bị uy hiếp và ngay cả bị đô hộ khi Trung Hoa mạnh lên. Thay vào đó, ông LD và giới lãnh đạo CSVN đã vẫn tiếp tục dựa vào Trung Hoa, không những vậy, còn quay lại tàn sát đồng bào mình, những người không cùng chính kiến, tận diệt đến mức những người đó trong một thời gian dài về sau không đủ nhân sự và cán bộ để có đời sống chính trị biệt lập. Và chính khi làm như vậy, ông LD và đảng CSVN đã thật sự làm tiêu hao trầm trọng nguyên khí của Dân Tộc, khiến đến khi Trung Hoa trở lại hùng mạnh như hôm nay thì người VN hầu như không còn đủ khí lực để đương cự trước áp lực nặng nề về mọi mặt của họ. Tương quan quá chênh lệch và lệ thuộc giữa VN-Trung quốc ngày nay là bằng chứng và là hậu quả của sự thiếu viễn kiến của ông LD, cũng như của những lãnh tụ khác của đảng CSVN, và của việc họ bỏ lỡ một cơ hội lớn cho Dân tộc.

    Cũng chính do sự thiếu viễn kiến mà ông LD đã huy động nhân sự đánh bại phe " chủ hoà" trong Bộ Chính Trị để tiến hành cuộc chiến tranh " giải phóng Miền Nam"; một cuộc chiến tranh đẫm máu với chừng 4 triệu người Việt chết, càng làm suy yếu VN hơn, và tuy cuối cùng thống nhất được Đất Nước, nhưng lại cũng tạo cơ hội cho Trung Hoa bắt tay với Mỹ-Tây Phương để canh tân đất nước của họ. Vì không có viễn kiến, ông LD đã không nhìn thấy được trong chủ trương của phe " chủ hoà" những ưu điểm phù hợp với diễn biến và sự kết thúc của Chiến Tranh Lạnh, về khả năng thống nhất nước nhà mà không phải đổ máu; Ông đã làm mọi cách để đánh bại quan điểm của một số nhân vật cao cấp trong BTC vào thời đó cho rằng sau 1954 cần ưu tiên phục hồi kinh tế và xây dựng Miền Bắc hơn là tiếp tục chiến tranh và phải đương đầu trực tiếp với Mỹ. Làm được vậy giúp Ông ngoi lên cương vị cao nhất, nhưng lại khiến hàng triệu người ngã gục, đánh mất cơ hội cho hai Miền phát triển và thống nhất một cách hoà bình, mất đi những tiền đề tốt cho sự tiến lên nhanh và vững mạnh của một Việt nam thống nhất về sau. Sự thắng thế của Ông trong Đảng, một cách vô tình, đã biến VN thành một war agent, một cơ hội mặc cả, phục vụ lợi ích cho kẻ thù ngàn đời Bắc phương.

    Rồi cũng đo thiển cận,do bị vòng kim cô ý thức hệ ràng buộc, sau 1975 ông LD đã dẫn dắt Đất Nước phạm vô số sai lầm nghiêm trọng về ngoại giao , kinh tế, văn hoá, và xã hội.Ở đây, Ông đã không hành xử như một lãnh tụ với tầm nhìn xa, trông rộng,trái lại Ông đã như một người chột dìu dắt đám người mù sờ soạng, " làm mò" (Chính bà Nga vợ hai của Ông đã thú nhận như vậy trong một cuộc phỏng vấn với BBC) trong việc giải đáp bài toán kinh tế lớn lao của Đất Nước trong tình hình mới. Sự tiêu phí xương máu, tài nguyên và nhân lực của Đất Nước suốt cả một thập niên sau đó, cùng những hậu quả lâu dài chưa lường được là kết quả của sự lãnh đạo " mò " thiếu viễn kiến và mê muội ý thức hệ của Ông.

    Tóm lại, bài nói chuyện chưa được biết tới đó của ông LD, tuy thú vị, nhưng chắc chắn không thay đổi gì được sự đánh giá chung của hậu thế dành cho Ông.

    TRƯƠNG D. TRUNG

    LD là giúp việc cho HCM, trực tiếp phụ trách chiến trường, cả B,C,K, không được phân công phụ trách việc khác. Khi làm TBT thì cũng phải nể nang những đ/c đã phụ trách việc nông nghiệp, việc công nghiệp, việc cải tạo tư sản ở miền bắc đã có nhiều kinh nghiệm trước đó, nên ổng phát biểu ban đầu như vậy, nhưng những người phụ trách trực tiếp các việc đó đã phản đối chăng? ổng đã chịu thua? (cũng có thể hiểu được là khi LD đã hoàn thành sự nghiệp HCM giao lại, công lớn, thì việc trong thời bình tiếp theo cũng phải tế nhị né ra, để chỗ cho các đ/c khác thể hiện với chứ?). Điều này có vẻ hợp với tính cách khiêm tốn nông dân của LD? Hoặc do ổng nhận thấy mình đã quá quyết đoán trong chiến tranh nên nay hòa bình thì để cho các đ/c quen việc quyết? Hặc ổng nghi ngờ chính mình do chưa có thời gian chuẩn bị kiến thức lãnh đạo kinh tế? Dầu sao thì ổng vẫn là người chịu trách nhiệm chính của đảng đối với nghị quyết ban ra. Thông cảm với ông để rút kinh nghiệm cho tương lai. Khi nào kho tài liệu mật của Đảng đượ giải mã công khai thì biết chính xác hơn.

    Bọn này làm kinh tế thì khác chi mấy bác đồ tể tập làm bác sỹ, sai đâu thì sửa đấy
    Phận còm xin có một câu vậy thôi

    Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm trong các chính sách sai lầm từ năm 1975-1985: Kinh tế suy sụp do ý tưởng 'làm chủ tập thể' của ông. Việt Nam bị cô lập vì sự có mặt tại Căm-pu-chia quá lâu. Sự kiêu ngạo và chính sách quá cứng rắn đối với Trung Quốc của ông là nguyên nhân dẫn đến cuộc xâm lược của TQ và cuộc tấn công Trường Sa năm 1988.

    Ông là người có tài nhưng cũng nhiều tật.

    "Như chúng ta biết, Lê Duẩn là con người mà nhiều người cho là “suốt đời suy nghĩ, tìm tòi”.
    G/S Đặng Phong nhận định TBT Lê Duẩn là người thích tìm tòi,suy tư;nhưng theo tôi nghĩ nên dùng từ "mò mẫm" là đúng thực tế hơn.Vì trong bài viết của GS Đặng Phong nhiều đoạn,nhiều nơi cho thấy BCT và cả Lê Duẩn chưa hề có một tài năng(đào tạo qua trường lớp+năng khiếu)về kinh tế.

    “Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột người ta dữ, mà năng suất của nó vẫn cao. Vì nó là tư bản nhưng nó đi theo quy luật của nó, nó bóc lột nhưng mà vẫn tiến lên… Bây giờ nông dân ở miền Nam họ làm rất khá, mà nông dân thì phần nào hoá tư sản rồi”....
    “Xưa nay ở miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật… Nay có được miền Nam là để chúng ta thấy lại cho rõ hơn nữa. Còn ta chủ nghĩa xã hội nhưng chưa đi đúng quy luật xã hội chủ nghĩa của ta, đúng mặt này nhưng không đúng mặt kia, cho nên ta cứ chập chờn mãi, chòng chành mãi.”

    Thật tội nghiệp cho đất nước tôi phải chịu đựng để cho đảng "thực tập" kinh tế (mà nhiều người hay gọi "Đảng làm KINH THẾ").

    Long Điền

    Cá nhân tôi không tin ông Lê Duẩn nói những câu trên một cách thật lòng. Rất nhiều nhà lãnh đạo ngay khi còn tại chức tại quyền cũng nói những câu trăn trở đau xót còn hơn cả ông Lê Duẩn, nhưng họ nói vậy cho có mà thôi. Hành động của họ chứng tỏ những điều hoàn toàn ngược lại. Để đến cuối đời, họ đổ cho cơ chế, cho tập thể, mà bản thân họ chính là cái cơ chế, cái tập thể đó...

    Trích dẫn:
    Và phải chăng cũng vì thế mà trong trường hợp này, rút kinh nghiệm từ khoán Vĩnh Phúc, ông đã phải “đi trước một bước” bầy tỏ sự đồng tình triệt để trước khi có thể có một sự cản phá?(**)

    Làm chủ tập thể nó "phò" như thế đấy. Nó như sợi dây thòng lọng bó chân bó tay và luôn đe dọa thít cổ ngay chính những người cầm quyền, các bác lãnh đạo cộng sản kính yêu. Cho nên thằng khôn là thằng biết linh hoạt, ta đã mượn xong chủ nghĩa Cộng Sản để giải quyết một số việc, bây giờ vứt mẹ nó đi là được rồi, trung thành với chả kiên định cái giề.

    Con người lê Duẩn có rất nhiều mâu thuẫn. Và, tất nhiên, cũng có những sai lầm. Thế nhưng, về tài năng thì có lẽ (theo tôi) chỉ đứng sau Hồ Chí Minh. Đó là chưa muốn nói rằng công lao của Lê Duẩn trong kháng chiến là khó có thể đo lường. Bài viết của tác giả Đặng Phong là một tư liệu thật quý. Xin cảm ơn tác giả. Ước gì giới sử học trong nước từ gợi ý của Đặng Phong, sẽ nghiên cứu thật sự, trả lại cho lịch sử sự thật thì tốt biết bao nhiêu...Hà Văn Thịnh.

    Nghị quyết Hội nghị trung ương 24 của đảng CSVN mà bác Đặng Phong trích dẫn là bằng chứng miễn tranh cãi về tư duy lạc hậu và rất phản động của đảng này. Nó bị lý luận Mác và Lê làm cho mê muội, nói năng giáo điều như trong mơ. Trong khi đảng CSVN tạm thắng tại một chiến trường cục bộ thì toàn phe XHCN đang thua toàn diện trên phạm vi thế giới, dẫn đến sụp đổ của cả phe. Nó cho thấy đảng CS đã gán cho kẻ thù của mình mọi điều xấu xa và thực hiện trên toàn miền Nam những kế sách đã từng thất bại thảm hại ở miền Bắc.
    Cái gọi là "Đổi Mới" sau này, thực chất là Sửa Sai để tự cứu mạng. Thực tế, đảng CSVN đã làm theo nhiều bài học do thực tế miến Nam dạy cho.
    Thật kinh khủng cho bọn bảo thủ trong đảng CS.