Nguyễn Ngọc - Tháng Tư lại đến với dân tộc Việt Nam

  • Bởi Admin
    30/04/2010
    4 phản hồi

    Nguyễn Ngọc

    "Hòa hợp, hòa giải dân tộc Việt Nam" suốt trong những ngày qua trở thành chủ đề bàn thảo gây tranh luận và suy tư nhiều nhất trên hầu hết các trang báo như: BBC, RFA, BauxiteVN, DânLuận, Talawas, Vietnamnet v.v...

    I. Nhận định khái quát:

    Nhiều ý kiến của các cựu và đương kim quan chức cả hai phía Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đều đã được các trang báo đăng tải những suy nghĩ riêng như của ông Trần Bình Nam, ông Nguyễn Gia Kiểng, ông Bùi Tín v.v... cho đến các nhà báo phỏng vấn và ghi nhận dưới nhiều góc độ như ông Nguyễn Đạc Thành (sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa) rồi ông Trung tướng Nguyễn Văn Thái, Nhà cựu ngoại giao Võ văn Sung, bà Nguyễn Thị Bình, ông Nguyễn Minh Triết... và còn rất nhiều các nhân vật kỳ cựu khác trước đây đã đề cập vấn đề hòa giải dân tộc như ông Nguyễn Cao Kỳ, ông Võ Văn Kiệt v.v... Có thể nói tất cả các quan chức của cả hai chế độ trước và sau 1975 đều có chung một mục đích, một cách nhìn về "hòa giải dân tộc", các lý giải phân tích mặc dù còn có điểm này, điểm kia có khác biệt nhỏ nhưng tựu trung vẫn nhìn về một hướng tích cực và đều mong muốn toàn dân Việt Nam từ trong cho đến ngoài nước đều xóa bỏ hận thù, đoàn kết vì tương lai Việt Nam, mặc dù có lúc, có người còn dùng những ngôn từ thiếu tế nhị (có thể do quán tính đã ăn sâu nên sử dụng ngôn từ (mà tôi nghĩ) theo phản xạ , không có ác ý), những bức xúc thao thức của các cựu quan chức hoặc đang đương nhiệm là điều mà những ai theo dõi thời sự đều nhận thấy rõ: môt sự đau đáu làm sao cho quá trình hòa hợp, hòa giải dân tộc diễn ra mang tính khả thi nhất.

    Các bài bình luận, phân tích trên các trang mạng của các nhà báo, nhà văn, nhà chuyên môn về lĩnh vực sử học, kinh tế học, chính trị học, các nhà quân sự, ngoại giao v.v... cũng gần như có chung cách nhìn tích cực lạc quan về quá trình hòa giải cho dân tộc Việt Nam (tôi xin bỏ qua một vài ý kiến nhìn việc hòa giải ở góc độ bi quan, cố chấp mà những ngày qua rõ ràng không hề là ý kiến của số đông) để cùng đi đến mục tiêu đơn giản mà lại là khao khát lớn nhất cho đến nay của dân tộc Việt Nam; CHUNG TAY XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG.

    Những dẫn chứng phân tích của một số cây bút về cuộc nội chiến của Mỹ cách đây 145 năm về trước, quá trình thống nhất Tổ quốc của nước Đức, tinh thần tự lực tự cường, xóa bỏ mặc cảm của người Nhật, các "phương thuốc" của cây viết Lê Tâm v.v... là những điều bổ ích cho chúng ta suy ngẫm...

    II. Vai trò của các lĩnh vực trong vần đề "hòa hợp hòa giải dân tộc":

    Góp thêm vào các ý kiến của mọi người, tôi xin phân tích vai trò của một số lĩnh vực để cùng nhau bàn luận.

    1. Vai trò của lịch sử:

    Theo thiển ý của tôi, lịch sử đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hòa giải, hòa hợp dân tộc. Cần trả lại tính khoa học và tính trung thực cho lịch sử Việt Nam, không "chính trị hóa" lịch sử, không lên gân, thổi phồng những công trình, những bình luận nghiên cứu lịch sử (ví dụ ngày 30.4 là "Sự thắng lợi vang dội", "là điểm son chói lọi trong lịch sử hào hùng chống ngoại xâm" v.v...) hoặc cái gì đại loại mà người ta hay cường điệu lên sẽ làm cho lòng người trở nên quá khích, vô hình chung lại thành "bệ phóng lý tưởng" cho sự ngạo nghễ, dương dương tự đắc của người chiến thắng và "sự bay bổng trong chiến thắng" càng rạt rào hơn bao giờ hết, bởi lẽ người ta dễ nghĩ rằng có gì còn ngăn nổi bước chân của người chiến thắng(!) tuy nhiên người chiến thắng đó lại chưa trang bị đủ cho mình nhãn quan khách quan lại vô hình đạt được một giá trị cộng thêm mang danh: vị cứu tinh của dân tộc. Tất nhiên, "Vị cứu tinh" này mang lại độc lập tự do cho toàn bộ dân tộc VN... lúc đó, ở góc độ duy lý thì khoa học, pháp luật, tính đa nguyên, trọng lý v.v... chỉ còn là thứ yếu, hoặc giả ở góc độ duy tình như : tính quân tử, lòng cao thượng, sự vị tha, lòng bao dung dễ được người ta bỏ sót trong cái "men chiến thắng". Tâm lý "phơi phới" của người chiến thắng lên cao bao nhiêu thì tâm lý tủi nhục, uất hận của kẻ bại trận cũng dâng cao bấy nhiêu. Đó là trạng thái cân bằng trong mối tương quan tâm lý xã hội. Tâm lý của người chiến thắng kể cả của người bại trận mà thiếu tỉnh táo là tâm lý đáng sợ nhất.

    Hãy công nhận cuộc chiến kết thúc vào ngày 30/4/1975 là: cuộc nội chiến Việt Nam về ý thức hệ. Tên gọi này sẽ làm cho mọi người dân trong và ngoài nước, từ Bắc chí Nam đều không cảm thấy bị tổn thương vì cái lẽ "thắng - thua", song song đó, "Ý thức hệ" luôn được hiểu là sự khác nhau về nhận thức của một bộ phận dân tộc, nó không hề sai mà cũng chẳng thể gọi là đúng, "Ý thức hệ" chỉ có phù hợp hay không phù hợp trong một giai đoạn lịch sử nhất định mà thôi, bên cạnh đó "ý thức hệ" là một sản phẩm tinh thần, nó hoàn toàn có thể thay đổi theo tiến trình nhận thức của xã hội, nó không bao giờ là sự bất di bất dịch. Đó cũng là một cách nhìn khoa học trong nhận thức: "Vận động là tuyệt đối, đứng yên là tương đối".

    Hãy để các nhà nghiên cứu sử học và các nhà khoa học có liên quan làm công việc của họ và hãy trả lại đúng tên gọi của cuộc chiến. Điều này cũng góp phần làm nhẹ gánh "ân oán".

    Hình thức đôi khi quan trọng không kém nội dung của môt sự việc, cho dù đó là sự việc lớn hay nhỏ, ví dụ như kinh tế gia Huỳnh Bửu Sơn (*)(trong nhóm Thứ Sáu) khi đề nghị lấy tên người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước là Thống đốc thì một vài vị trong Hội đồng Bộ Trưởng lúc bấy giờ cho rằng: "Nghe sặc mùi đế quốc!". Hình thức - ở đây là tên gọi cuộc chiến không hề là vấn đề nhỏ mà ngược lại nó phản ánh khá đầy đủ tư duy và tấm lòng hướng về chân giá trị sau cuộc chiến của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    2. Vai trò của tôn giáo và văn hóa:

    Chiến tranh chấm dứt, bên chiến thắng "say men" là điều dễ hiểu.

    Nhìn lại cách "ăn mừng" cuộc chiến sau 30.4.1975, ta dễ dàng nhận thấy trên các mặt báo, trên các phương tiện truyền thông, trên đường phố, các điểm du ngoạn, vui chơi v.v... chỉ toàn là niềm vui và tiếng cười, ẩn sau đó là những mảnh đời, những uất ức, những đau thương mà lại không có dịp bộc lộ trước đại chúng, đó hóa ra lại là một vở tuồng đúng nghĩa "bi, hài, chính kịch" được trộn lẫn của dân tộc.

    Hãy cùng nghe thử (***) bài hát "Đất nước trọn niềm vui" của nhạc sĩ Hoàng Hà :

    "...Ta muốn bay lên, say ngắm sông núi hiên ngang,
    Ta muốn reo vang, hát ca muôn đời Việt Nam, Tổ quốc anh hùng!
    Ôi quê hương dẫu bao lần giặc phá điêu tàn mà vẫn ngoan cường
    Giành một ngày toàn thắng.
    Đẹp quá!
    Đời rực sáng những ánh mắt lấp lánh,
    Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương,
    ta muốn ca vang bước chân những người chiến sĩ giải phóng kiên cường!"

    Bài hát này là một bài tiêu biểu cho tinh thần vui mừng đến mê muội mà không biết đang góp phần làm cho "men chiến thắng" được đầy lên đến tột độ, trong sách nhà Phật có câu :"Cực lạc sinh bi" là vậy.

    Hay một niềm đau tê tái trong ca khúc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn:

    "Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
    như giòng sông nước quẩn quanh buồn
    như người đi cách mặt xa lòng
    ta hỏi thầm em có nhớ không..."

    Ứng với điều Bốn của Phật dạy: "Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tị". Trong lời bài hát da diết buồn và tiếc nuối thấp thoáng vẫn là sự ghen tị với kẻ chiến thắng của người chiến bại là vậy.

    Hai bài hát này, theo tôi là tiêu biểu sau cuộc chiến để phản ánh nỗi buồn tê tái cũng như niềm vui tột độ của kết cuộc 30.4.1975 mà như nhà thơ Nguyễn Duy đã nói đại ý: Ai là kẻ chiến thắng thì cuối cùng người dân cũng là người thất bại.

    Tại đây (ngay sau khi chiến thắng), lẽ ra vai trò của tôn giáo nên được đặt lên hàng đầu, tôn giáo sẽ làm dịu lại tất cả những tâm hồn đang quá khích hay đau đớn, những cái đầu đang nóng hổi hay đang tê tái, những trái tim đang rung lên rộn ràng nhịp đập của bầu máu nóng hay những trái tim đang bị bóp nghẹt bởi gần như máu đang đông lại trước niềm tuyệt vọng.

    Lẽ ra những người chiến thắng nhận định đúng và sớm nhất vai trò của Tôn giáo quan trọng như thế nào ngay sau cuộc chiến thay vì đi từ sai lầm này (cuộc chiến chưa chấm dứt bao lâu thì nổ ra sự chống đối bằng súng đạn hẳn hoi của Nhà thờ Vinh Sơn vào đầu năm 1976 - (đường 3/2 bây giờ) đến sai lầm khác nghiêm trọng hơn (các sự việc tại Bát Nhã, Thái Hà, Tam Tòa v.v...), như vậy Nhà nước này đang lún càng ngày càng sâu vào lòng căm thù triền miên, bất tận. Họ không đủ khách quan dưới cặp mắt độ lượng để nhìn nhận vai trò Tôn giáo trong bất kỳ giai đoạn nào của đất nước? Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại có vẻ thích áp đặt suy nghĩ của họ vào dân tộc, đặc biệt khi họ tự huyễn hoặc về sự thần phục và biết ơn của người dân mà họ cho là chắc chắn .

    Khi đã đề cập đến những ngôn từ mang tính chất tôn giáo, có lẽ chúng ta cũng nên nhìn nhận nghiêm túc vai trò của Tôn giáo sau cuộc chiến. Một vấn đề mà cho đến nay theo kiểm nghiệm của cá nhân, tôi cho rằng "các bên" chưa đánh giá và phân tích hết tác động quan trọng của Tôn giáo.

    Hãy lắng nghe thử ý kiến mới nhất của ông Nguyễn Đạc Thành (**) trả lời phóng viên Hà Mi thuộc đài BBC: "Khi tôi nằm đó, tôi vái Phật Bà, Phật Tổ, và tôi vái những anh em đã chết, rằng nếu mà cứu tôi được, tôi sống được mà ra khỏi tù và có cơ hội thì tôi sẽ đưa họ về".

    Hay khá xưa, khi ông Tố Hữu khóc ông Hồ Chí Minh trong bài thơ "Bác ơi!"

    Bác đã lên đường theo Tổ tiên
    Mác - Lê nin thế giới người hiền.

    Chúng ta sẽ thấy ngay vai trò của Tôn giáo như thế nào trước một người khóc một người đã chết hoặc một người đang biết mình sắp chết. Thông thường khi người ta tuyệt vọng nhất, nơi mà người ta bấu víu ngay lập tức để giải thoát tâm lý tuyệt vọng, đau đớn đó chính là TÔN GIÁO. Dưới góc nhìn của ông Tố Hữu (khi ông Hồ Chí Minh vừa mất)Mác - Lê nin là môt thế giới tốt đẹp (không khác gì một thiên đàng), chắc chắn là vậy, bất chấp đó là một nhà thơ mệnh danh "cách mạng nhất" có nghĩa tính vô thần (ở góc độ tâm linh) là điều không một ai có thể nghi ngờ ở ông ấy. Ở đây, tôi không có ý định đề cao vai trò Tôn giáo (xin khẳng định tôi là người chưa bao giờ theo một tôn giáo nào cả, vì tôi là người thuộcbên Năm.

    Bây giờ, ta thử cầm đồng dollar của Mỹ mà xem, trên bất cứ tờ bạc nào cũng có dòng chữ "In God we trust". Một đất nước mà người thương cũng lắm, kẻ ghét cũng nhiều, một quốc gia cho đến nay vẫn là "số Một" trên thế giới về nhiều mặt - họ vẫn xem Tôn giáo là những gì cần phải đánh giá trân trọng. Tôi cho rằng, không hề là ngẫu nhiên hay ngẫu hứng khi các nhà thiết kế đồng dollar đặt dòng chữ "In God We Trust" một cách trang trọng vào tờ giấy bạc. Điều này có thể làm chúng ta cần suy nghĩ khá nhiều vai trò Tôn giáo nói riêng trong vấn đề hòa giải dân tộc từ một hình ảnh mang thuộc tính kinh tế (đồng Dollar).

    Khi những thông tin về ông Nguyễn Tấn Dũng đi thăm Vatican, Thiền sư Thích Nhất Hạnh tổ chức đàn giải oan cho mọi người dân chết trong các cuộc chiến mà không phân biệt đó là ai, ở đâu, ở phía nào v.v... đã làm người dân mong ngóng và chờ đợi những động thái hòa giải tiếp theo của các phía thì sự việc Thái Hà, Tam Tòa, Bát Nhã, Đồng Chiêm v.v... như một gáo nước sôi tạt vào những "vết thương hận thù" đang cần lắm những bàn tay xoa dịu. Xin nhấn mạnh, các đệ tử Phật gia, các con chiên của Chúa (Thiên Chúa giáo và Tin Lành), các tín đồ của Cao Đài, Hòa Hảo v.v... là lực lượng không nhỏ trong vấn đề hòa giải dân tộc. Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam cần nghiêm túc và tận tâm xem xét lại vai trò Tôn giáo sau cuộc chiến gắn với tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, song song đó nên đánh giá trung thực và khách quan vai trò của Tôn giáo cho các vấn đề khác như : đạo đức, giáo dục, tính nhân đạo, an ninh xã hội v.v... thậm chí cả vấn đề kinh tế mà Tôn giáo có thể mang lại hiệu quả nhất định nào đó. Đặc biệt, trong vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc, một thuộc tính luôn cần được nêu cao đó là "TÍNH NHÂN ĐẠO". Nói không quá, chỉ có Tôn giáo mới đáp ứng đầy đủ thuộc tính này nhất so với các lĩnh vực khác.

    Nhìn lại quá khứ trước 1975, sự thất bại của chế độ ông Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Văn Thiệu, vẫn thấp thoáng có tính chất không tôn trọng Tôn giáo trong đó mà chúng ta có giở lại lịch sử sẽ nhớ lại sư tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, đấu tranh cho tự do tôn giáo của Ni Sư Quỳnh Liên v.v... là những bài học cho bất cứ nhà cầm quyền nào. Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Hòa thượng Thích Quảng Độ là những bậc chân tu kêu gọi tự do tôn giáo và dân chủ hòa bình từ trước 1975 chứ không chỉ sau này, đó là điều mà Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam cần đánh giá một quá trình, không chỉ là một làng Mai ngày nay, một Bát Nhã ngày nay hay một Thanh Minh Thiền Viện ngày nay để quy tội cho các Vị ấy là chống đối Nhà nước hiện hành, hoặc một Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt mà sự ra đi có vẻ như cận kề của ông đang là một đề tài lớn không những trong giáo giới mà cả trong suy nghĩ của Nhà nước.

    Vai trò Tôn giáo chưa bao giờ là nhỏ bé và hời hợt trong vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc. Hãy trả lại vị trí quan trọng của Tôn giáo nói chung mới mong quá trình hòa giải hòa hợp dân tộc diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, các hệ lụy kéo theo, đặc biệt trong đó các tài sản của các giáo phái là điều vô cùng quan trọng mà Nhà nước xử lý không tốt sẽ chẳng bao giờ đạt được mục tiêu hòa hợp hòa giải dân tộc.

    3 Vai trò của giáo dục:

    Khi lịch sử đã được trả lại tính khoa học, trung thực và Nhà nước phi "chính trị hóa" lịch sử thì giáo dục là nơi cần phải tính đến ngay, bởi lẽ những gì lớp trẻ đang học phải chăng đang góp phần làm cho sự hòa giải dân tộc mà chúng ta đang mong muốn có vẻ như đang giãn ra xa hơn với một hố sâu ngăn cách ngay giữa lớp trẻ trong nước với nhau và trong nước với nước ngoài? Những giáo trình giáo dục về lịch sử là tối quan trọng cho lớp trẻ về tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc nói chung là điều cần phải làm song song khi trả lại tính khoa học, trung thực cho lịch sử. Hãy để lớp trẻ được nhìn thẳng vào những "vết thương cuối cùng" và những "vết sẹo thời gian" mà thế hệ cha ông đã gây ra cho nhau để họ thấm thía ý nghĩa :chiến tranh là tội ác theo cái cách mà người Nhật đã dạy cho thế hệ trẻ của họ về nước Nhật hoang tàn và đổ nát sau chiến tranh. Giúp cho lớp trẻ nhìn chiến tranh bằng ánh mắt sợ hãi và tránh xa chứ không bằng ánh mắt hận thù.

    Lớp trẻ là lớp người năng động, dễ chan hòa, dễ tiếp thu cái mới và luôn thích tiếp thu cái thật. Khi trả lại tính khoa học và trung thực cho lịch sử, thế hệ trẻ sẽ nhìn nhận một cách công tâm về các cuộc chiến trước 1975, trong khi đó lớp trẻ cũng lại là lực lượng đông nhất và tiếp nối cho việc hòa hợp hòa giải dân tộc nhanh chóng nhất vì họ là những người ít bị hoặc không bị tổn thương trong cuộc chiến (kể cả thế hệ sinh từ 1965 đến 1975) dù cho có thì với thời gian 35 năm cũng đã phai mờ nhiều so với lớp cha, anh của họ. Hiện nay lớp trẻ sinh từ 1965 trở về sau là một lực lượng lớn và quan trọng trong mọi lĩnh vực. Cần biết dùng thế hệ trẻ trở thành một lực lượng quan trọng cho vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc không thua kém lực lượng Tôn giáo.

    4. Vai trò kinh tế:

    Nhà nước đã có nhiều chính sách kinh tế để phát huy nội lực trong nước. Cần có một chính sách nhất quán và xuyên suốt dành cho kiều bào hải ngoại không chỉ riêng việc mua nhà, kêu gọi về giảng dạy, nghiên cứu, làm việc v.v... mà cần có một bộ luật ưu đãi những kiều bào có chất xám, có vốn về đầu tư những lĩnh vực quan trọng mà khó sinh lời nhanh như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng. Những ưu đãi này phải đảm bảo nổi trội so với những ưu đãi của bất cứ đối tượng nào. Đó cũng là một trong các phương thức góp phần để tiến trình hòa hợp hòa giải dân tộc diễn ra nhanh hơn.

    III. Kết :

    Dân tộc Việt Nam ta, phần lớn khi có lỗi mà là lỗi nghiêm trọng thì hành động gián tiếp có vẻ thích hợp với tâm lý người Việt hơn là lời xin lỗi trực diện, trực tiếp. Vấn đề còn lại là một sự thật tâm của tất cả các phía, trong đó vai trò Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quan trọng nhất để thúc đẩy tiến trình này.

    Nguyễn Ngọc

    ____________________

    (*) http://www.tuanvietnam.net/2010-04-06-tri-thuc-che-do-cu-gop-suc-cai-to-nganh-ngan-hang

    (**) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/av/2010/04/100428_nguyendacthanh.shtml

    (***) http://www.nhacso.net/Music/Song/Cach-Mang/2005/10/05F5E51E/

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Tác giả Nguyễn Ngọc đưa ra một số ý kiến không ổn, có lẽ mang tính tưởng tượng quá đáng do khuynh hướng dùng một vài ví dụ đơn cử rồi suy rộng ra toàn thể. Xin bàn về vài điểm sau:

    - Ông mong chính quyền CS sẽ thực hiện HH-HG: điều này chắc không bao giờ có. Chính quyền và đảng CS cứ rêu rao, hô hào với những từ ngữ Hòa hợp, hòa giải nhưng thật ra mục tiêu của họ là "hòa tan": mọi thế lực, mọi khuynh hướng phải hòa nhập trở nên một thành phần dưới quyền cai trị của họ.

    - Với người CS vô thần mà ông nói chuyện lấy Tôn giáo phương thuốc giúp chữa bịnh là chuyện không tưởng. Dù ngày nay rất nhiều cán bộ, đảng viên xé rào tham gia những hành vi mê tín, dị đoan nhưng đó là việc cá nhân. Ở vị thế đảng và nhà nước thì đừng hòng.

    - Đặt tên cuộc chiến vừa qua với ý nghĩa tích cực là một điều hay nhưng nếu dùng "cuộc nội chiến Việt Nam về ý thức hệ" sẽ tỏ ra không ổn. Vì như vậy người ta có khuynh hướng nghĩ rằng phe thắng trận có ý thức hệ cao, tốt, mạnh, đẹp hơn... Thế có đúng không? Và điều này góp phần củng cố vị trí của nhà cầm quyền đương thời vốn là người thắng trận. Thế có tốt cho VN không?

    - Một điểm nhỏ nữa: Ông đề cao vai trò của lịch sử trong sáng nhưng lại trích dẫn sử liệu theo tôi hiểu là thiếu chính xác. Miền Nam thời ông Thiệu không có vấn đề tôn giáo chống chọi với chính quyền, ni sư Huỳnh Liên với tính cách cá nhân tham gia vào "thành phần thứ ba" để làm sôi động về chính trị chứ không phải để bảo vệ tôn giáo bị đàn áp (có người còn cho bà là cán bộ CS trá hình).

    Tôi rất đồng ý với Bác Nguyễn Ngọc. Tuy nhiên nếu chế độ CS này có thể làm được những gì Bác nói, thì có lẻ là phước cho dân tộc VN.
    Kẹt cái chủ nghĩa CS thì không thể nói chuyện hòa giãi như thế được.

    Tui nhớ đã gửi 1 phản hồi cho bài này rồi, 0 thấy flag gì cả mà phản
    hồi chạy đâu rồi ? Gửi lại cái khác vậy. Tóm tắt 1 chút nha. Tui
    tán đồng ý kiến trong bài của Ô. Nguyễn Ngọc, nhất là phần 'Kết'.
    Mong những ai có 'trăn trở' hãy tham gia. Càng đông càng vui, có phải 0 quí vị ? Cùng học tập tự do, dân chủ để dễ hiểu nhau, dễ
    thông cảm, từ từ đi đến HGHH thật sự. Dĩ nhiên mọi sự việc đều có
    trình tự hợp lý. Và cần nhất là chân thành, chân thành và chân thành. Chân thành từ đâu ra ? Có lẽ Ô. Nguyễn Ngọc đã nói khá rõ.
    Xin xem phần 'Kết' của bài ông ấy viết.

    Tôi hoàn toàn đồng ý với ông Nguyễn Ngọc. Đặc biệt là vai trò tôn giáo.
    Tôi nghĩ chính sự vô thần đã dẫn tới bạo lực ngày càng nhiễu trong xã hội, từ gia đình, nhà trường tới xã hội, trước tiên của những người lớn rồi tới trẻ con. 'Sống sao để lại phúc cho con cháu đời sau' hay 'yêu thương hóa giải hận thù' phải là điều nằm lòng của tất cả mọi người từ lớn tới bé.

    Bạo lực phải được giảm bớt, hận thù phải được từng bước hóa giải thì mới mong có được Hòa Giải-Hòa Hợp Dân Tộc.