Phạm Đình Trọng - “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”: Sự thức tỉnh muộn màng

  • Bởi Admin
    26/04/2010
    4 phản hồi

    Phạm Đình Trọng

    “…Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức…”

    Viết về cuộc chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm đòi hỏi phải có cái nhìn công bằng, khách quan, lý trí, thoát khỏi thân phận công cụ tuyên truyền. Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn đã có được cái nhìn đó trong trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm”, tập trường ca vừa được Nhà xuất bản Văn Học phát hành cuối năm 2009.

    Những năm sáu mươi, bảy mươi thế kỷ hai mươi, hầu hết đàn ông Việt Nam đã trưởng thành đều mặc áo lính của cả hai bên chiến tuyến, đều là lính của hai đội quân đang đối đầu tiêu diệt nhau, lính Quân đội Việt Nam Cộng hòa và lính Quân đội Nhân dân Việt Nam khi còn ở miền Bắc, lính quân giải phóng khi vào chiến đấu ở miền Nam. Không là lính, họ là đồng bào, nhiều người còn là họ hàng, anh em ruột thịt. Nhưng chiến tranh hút họ vào lính, đẩy họ thành kẻ thù đối kháng của nhau:

    “Bộ đội nghĩa vụ quân sự
    Chọi nhau với lính quân dịch Cộng hòa!”

    PDT-01.jpg

    Những học trò vừa tốt nghiệp trung học, những sinh viên đang học dở đại học bị động viên vào lính cầm súng ra trận. Những người lính có chữ đó, nhiều người có năng khiếu văn chương và tâm hồn nhạy cảm đã cầm bút viết về cuộc chiến, viết về thân phận con người, thân phận quê hương đất nước trong chiến tranh và họ đã làm nên đội ngũ nhà văn, nhà thơ quân đội của cuộc chiến tranh đó. Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Văn Lê, Thái Thăng Long, Chu Lai, Thái Bá Lợi, Trần Nhương, Nguyễn Thái Sơn… Họ đều là bầu bạn thân thiết cùng thế hệ với tôi và tôi đã đọc đầy đủ trường ca của họ viết về cuộc chiến tranh mà chúng tôi là người lính ngoài mặt trận. Phải đến trường ca “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” thì cuộc chiến tranh vẫn được gọi là chống Mỹ cứu nước mới được nhận ra bản chất thực là cuộc nội chiến tương tàn, là bi kịch lớn của dân tộc Việt Nam, là sự tái diễn thảm cảnh đau thương người Việt giết người Việt đã từng xảy ra ở thời những vương triều suy vong:

    “Lính họ Trịnh Đàng Ngoài
    Đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong
    Lính Tây Sơn Nguyễn Huệ
    Chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long”.

    Thời công nghiệp, điện tử, chiến tranh không còn chỉ là động tác của cơ bắp chém, đánh như thời Trịnh, Nguyễn, thời Tây Sơn nữa mà là ấn nút, nhấn cò, động tác nhẹ nhàng cuối cùng sau chuỗi những thu nạp dữ liệu, phân tích, tính toán điện tử:

    ”Lọat hỏa tiễn rời bệ phóng
    Nổ tung trong căn hầm bên trại giặc chen chúc người”.

    PDT-02.jpg

    Hiệu quả hủy diệt, chết chóc của động tác nhẹ nhàng ấn nút ấy không còn tính bằng hàng đơn vị mà phải tính bằng hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn nhân mạng:

    “Người Việt miền Bắc
    Người Việt miền Nam
    Mỗi ngày
    Bao nhiêu bom đạn
    Mấy ngàn người chết!”

    Trước đó, trường ca viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo… chỉ mới soi rọi vào góc khuất trong đời sống tâm hồn tình cảm của người lính, người mẹ, người vợ, mới khám phá những hoàn cảnh nghiệt ngã, những tâm thế chênh vênh của con người cá thể trong xoáy lốc chiến tranh:

    “Vắng anh, chị bị thừa ra
    Trong giỗ tết họ hàng nội ngoại
    (Hữu Thỉnh – Trường ca “Đường tới thành phố”)

    Thử thách với người chồng ngoài mặt trận là bom đạn, còn thử thách với người vợ ở quê lại chính là nhan sắc của chị:

    “Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy
    Cứ sợ đắm vì chị còn nhan sắc!”
    (Hữu Thỉnh – Trường ca “Đường tới thành phố”)

    Trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh mang rõ dấu ấn của ngòi bút tài hoa và bộc lộ tấm lòng hồn hậu nhân văn của người viết và sự hồn hậu nhân văn ấy dành cho những thân phận cá thể. “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” của Nguyễn Thái Sơn là nỗi bận tâm, nỗi đau đáu cho số phận dân tộc bị xô đẩy vào cuộc nội chiến thảm khốc, lâu dài!

    Vì mối quan tâm là số phận cả dân tộc, “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” không có nhân vật cụ thể mà chỉ có hai nhân vật ước lệ: Người đàn ông ra trận và người đàn bà ở lại làng quê. Hai nhân vật ấy như hai cá thể ước lệ cho thủy tổ loài người, ông Adam và bà Eva, như hai ông bà ước lệ cho tổ tiên dân tộc Việt Nam, ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ. Những tâm trạng sâu kín, những tình cảnh quẫn bách được nhắc đến trong trường ca là cuộc sống không bình thường, trái tự nhiên mà người đàn ông và đàn bà ước lệ phải chịu đựng do họ phải sống thiếu nhau vì chiến tranh. Người đàn ông ngoài mặt trận không phải chỉ khổ vì nằm gai nếm mật, sốt rét, bom đạn mà còn khổ vì:

    “Chúng tôi
    Những người lính đàn ông con trai
    Mười chín, ba mươi tuổi
    … Chúng tôi không e ngại bất kể điều gì
    Chỉ khổ vì dư thừa năng lực đàn ông!”

    Nỗi khổ của người đàn bà ở làng quê vắng bóng đàn ông càng âm ỉ thiêu đốt:

    “Những người đàn bà khao khát tình yêu
    Da thịt có gai, có lửa
    … Những người đàn bà sung mãn
    Đêm uống “nước sông”
    Ngày ăn “cơm nhạt”!”

    Khao khát mà chỉ có “nước lã”, “cơm nhạt”, chỉ có cuộc sống chay tịnh! Họ phải khỏa lấp sự trống vắng, thiếu thốn, xả nỗi khát khao vào những công việc bất thường, nặng nhọc:

    “Gánh nước nửa đêm tưới đầm vườn nhãn
    Xay vài thúng thóc
    Giã nửa nong ngô!”

    Bom đạn khốc liệt! Cái chết đến từng phút từng giây:

    “Không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử
    Dễ như người lính
    Nhanh như người lính
    Nhiều như người lính
    Đương nhiên, mặc nhiên, tất nhiên, hồn nhiên như người lính!”

    PDT-03.jpg

    Chết chóc như thế nên người đàn ông trở thành hồn ma cũng là lẽ đương nhiên:

    “Chúng tôi sống bình thường rồi chết
    Chưa xấu cũng chưa kịp tốt
    Không thành ma quỉ, chẳng hóa thánh thần
    Không phải xuống địa ngục
    Không được lên Thiên Đàng
    Tụ tán trên tàn cây ngọn cỏ
    Ẩn trong giọt sương, tiêu dao trên ngọn sóng!”

    Người đàn bà lấy chồng ở với chồng được hai đêm:

    “Mười chín năm con gái
    Làm đàn bà hai đêm!”

    Người đàn ông thành hồn ma rồi thì người đàn bà đành sống cô quả:

    “Có chồng hai đêm
    Chị chỉ là người đàn bà tập sự
    Mười năm
    Mười lăm năm
    Hai mươi mốt năm
    Vẫn chỉ sống như thời con gái!”

    Cuộc nội chiến đau lòng như vậy thì đâu có gì để ồn ào khoe khoang, để lỉnh kỉnh huân chương, xênh xang mũ áo phô trương nhỉ?

    Người lính miền Bắc mang súng AK, nói tiếng Việt. Người lính miền Nam mang súng AR15, cũng nói tiếng Việt. Hai người lính cùng một tiếng mẹ đẻ Việt Nam mà tìm mọi cách tiêu diệt nhau, mang cái chết đến cho nhau. Cái chết đến từ khẩu AR15:

    PDT-04.jpg

    “Chùm đạn AR15 bắn gần khoan vào trán
    Găm giữa ngực
    Những người lính đội mũ tai bèo đổ gục!”

    Cái chết đến từ khẩu AK:

    “Tốp lính Sài Gòn lò dò đặt chân lên sườn đồi
    Hứng trọn những lọat đạn AK vào đầu, vào ngực!”

    Người giết và người bị giết đều là người Việt:

    “Người Việt thắng trận huy hoàng
    Bại trận
    Cũng là người Việt!”

    Người bị giết dù ở phía nào thì người Mẹ Việt Nam vẫn phải nhận lấy nỗi đau chết chóc:

    “Năm Nhâm Tý – bảy hai
    Máu binh sĩ Sài Gòn
    Máu quân giải phóng
    Đỏ sông Thạch Hãn
    Ướt sũng gạch vụn Cổ Thành!”

    Thật đau xót cho thời cuồng tín, mê muội, người Việt say sưa giết người Việt! Đau xót về một thời bi kịch của dân tộc để phải thức tỉnh về nhận thức.

    “Chiến tranh – Chín khúc tưởng niệm” là sự thức tỉnh đó. Sự thức tỉnh cần thiết mà muộn màng!

    Phạm Đình Trọng
    © Thông Luận 2010

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Phản hồi: 

    TÌNH NHÀ ..!

    Nồi da xáo thịt anh em,
    Bắc Nam ly biệt kiếm tìm diệt nhau.
    Ai thua ai thắng biết đau,
    Tình nhà nợ nước chờ nhau một thời?
    Một thời Nam Bắc chia ly,
    Thương ra vào nhớ biệt ly ai sầu?
    *
    Mục tiêu chiến đấu làm đầu,
    Tự do độc lập để giàu nước non!
    Nay về một mối non sông,
    Nhưng dân vẫn lạc tứ đồng thế gian.
    Nước nhà ứ hự khó khăn,
    Đảng thời tham nhũng buộc chân diễn đàn.
    *
    Thức thời tỉnh trí mây tan,
    Bớt đi tham vọng Việt Nam hóa rồng.
    Dân giờ bát ngát lực gồng,
    Yêu thương trút bỏ oán hờn mới sung.
    Tỏ lòng dân nước Lạc Hồng,
    Cùng nhau đoàn kết tháo gông xích xiềng !!!
    26/4/2010
    GÓP GIÓ

    Phản hồi: 

    Ai có nhớ, sau lưng người chiến sĩ
    Là thâu đêm nước mắt mẹ già,
    Đường ra trận trãi nỗi buồn chinh phụ,
    Ba lô nào thiếu tấm ảnh người thương ?

    Phản hồi: 

    Dân tộc này không biết bao giờ được hòa hợp ?
    Đất nước này không biết bao giờ phát triển ?
    Khi họ, vài mươi người ấy,
    Tự cho mình cái quyền:
    Nói thay nhân dân,
    Làm thay nhân dân,
    Đày đọa nhân dân...
    Mà miệng vẫn thản nhiên hô lớn:
    Vì nhân dân quên mình !