Nỗi sợ cộng sản, Hoa Kỳ và chủ nghĩa xã hội, McCarthyism, Nguyễn Hữu Liêm và chí công vô tư

  • Bởi Admin
    22/04/2010
    1 phản hồi

    Nguyễn-Khoa Thái Anh

    Gần đây, một lần nữa lại có người e-mail cho Đàn Chim Việt yêu cầu trục xuất Nguyễn Hữu Liêm ra khỏi ban biên tập, sau khi có lời ngợi khen bài vở cũng như đường lối của trang báo này. Không giấu gì bạn đọc, tôi là một người bạn khá thân của anh Liêm, chúng tôi đồng ý với nhau rằng mối hận thù cộng sản cần được chuyển đổi thành những hành động tích cực hơn là những chửi rủa, bôi nhọ, chụp mũ tiêu cực. Chúng tôi hiểu nhau, tuy không hẳn chia sẻ đường lối và cách tiếp cận vấn đề của nhau. Thiết nghĩ, đấy là tinh thần đa nguyên trong khái niệm của dân chủ. Một điều cốt lõi đã được ông Voltaire (1694-1778) bày tỏ: “Có thể tôi không đồng ý với điều anh nói, nhưng tôi sẽ tranh đấu đến cùng cho quyền phát biểu của anh.”

    Do nỗi sợ và thù ghét cộng sản, người Việt hình như vẫn chưa vượt qua được cái mốc căn bản này. Hôm nay, tôi xin không đi vào chuyện vì sao Đảng Cộng sản lại đào một hố sâu hận thù như thế để cho dân tình trong – nhất là ngoài – nước phải nằm cheo leo trên cái dốc trơn trợt này. Tôi chỉ ao ước rằng những người sống ở các nước dân chủ – nhất là Hoa Kỳ – sẽ bình tâm chiêm nghiệm lại ý tưởng đa nguyên này. Tôi cũng xin mạn phép được lược qua trải nghiệm “làn sóng đỏ” của Hoa Kỳ, cũng như vì sao sự đe dọa này không hề hấn gì đối với họ. Có phải vì tinh thần dân chủ, tôn trọng cái khác biệt mà Hoa Kỳ đã vượt qua những cái xấu xa đê hèn trong xã hội?

    Đương nhiên, đây là một so sánh khập khiễng vì Mỹ và Việt Nam là hai quốc gia có những kinh nghiệm lịch sử, ngoại cảnh và con người, cũng như cách cấu trúc thể chế hoàn toàn khác biệt nhau – nhưng ít ra trong ước nguyện vượt lên trên phần số của dân tộc mình, tôi hy vọng chúng ta sẽ đối xử với nhau tử tế hơn và nếu định mệnh hay tình thế cho phép – tôi cũng ước ao thật mãnh liệt là người Việt sẽ vượt qua được cái khác biệt của nhau – dù phiến diện hay sâu đậm – nếu không phải lúc này thì trong một tương lai rất gần – để kết hợp với nhau tạo nên một một thế tức nước vỡ bờ, thay đổi được cục diện của đất nước trước khi quá muộn.

    Làn sóng Đỏ (Red Scare) tấn công Hoa Kỳ?

    Trong lịch sử Hoa Kỳ có nhiều thời kỳ dân Mỹ lo sợ Làn sóng Đỏ (Red Scare), bắt nguồn từ khi Vladimir Lenin cướp chính quyền Nga hoàng (còn gọi là Sa hoàng) năm 1917 trong Thế chiến thứ Nhất, sau đó lại chính Lenin ký kết bắt tay với phát-xít Đức với Hiệp ước Brest-Litovsk (tháng 3.1918) để ông rảnh tay tiêu diệt phe Menshevik, củng cố sự thống trị của cộng sản trên toàn lãnh thổ nước Nga. Một quyền lực và chủ thuyết mới đã bắt đầu trên bình diện thế giới. Trong Thế chiến thứ Nhất (và thứ Hai), Nga là đồng minh của Anh, Pháp và Hoa Kỳ cho nên người Mỹ ít khi nào tin tưởng hay chấp nhận sự tráo trở của Nga sô. Sự nghi kỵ này kéo dài từ 1917 cho đến 1920 (và bây giờ), và phải nói là hai chiều, vì cộng sản Nga cũng trên đường tranh giành bá quyền thế giới. Rồi đến 1930, các nghiệp đoàn lao động ở Mỹ bắt đầu hình thành, làm gia tăng mối lo ngại của dân Mỹ về sự giật dây của Quốc tế Cộng sản trong nội bộ Hoa Kỳ.

    Tháng Tư năm 1919, Sở Bưu điện Hoa Kỳ chặn được hơn 30 bưu kiện có gài chất nổ, gởi đến địa chỉ các thương gia và chính giới Hoa Kỳ, có tác dụng sẽ nổ tung khi được mở ra. Tháng Sáu năm đó lại có thêm 8 vụ nổ bom ở 8 thành phố khác nhau trên nước Mỹ, một trong những vụ nổ bom xảy ra tại tư gia của ông Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ Mitchell Palmer, ở ngay thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Điều này cho thấy có một cuộc âm mưu đánh bom qui mô nhắm vào Hoa Kỳ, tạo nên giả thuyết đây là một cuộc khủng bố do cộng sản chủ mưu. Rồi đến năm 1920 một vụ nổ bom kinh hoàng tại Nhà băng Morgan (House of Morgan) làm giới an ninh Mỹ bị báo động. Kết cuộc, ông Bộ trưởng Tư pháp Mitchell Palmer tuyên bố “một ngọn lửa phản loạn đã thiêu hủy nền móng của xã hội Hoa Kỳ”. Sau đó ông cho thiết lập một Phân khu Tổng Tình báo (sau này trở thành FBI/Văn phòng Tình báo Trung ương) do ông J. Edgar Hoover chủ trì. Sau đó cơ quan này khởi động các vụ bố ráp (gọi là Palmer Raids) các tổ chức quá khích, truy bức những di dân Âu châu mà họ cho là có móc nối với cộng sản trong xã hội Mỹ.

    Vào năm đó, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ (Communist Party of the United States) đã bắt đầu vận động tăng trưởng con số thành viên các nghiệp đoàn lao động. Đến năm 1941, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ đã kết nạp trên 75.000 đảng viên. Đến 1949, Nga thí nghiệm cho nổ bom nguyên tử, và Mao đánh bại phe quốc gia của Tưởng Giới Thạch, chiếm trọn Trung Hoa lục địa. Đến 1950, chiến tranh với Bắc Hàn và Trung Quốc cũng khơi mào. Trong khoảng thời gian này đã xảy ra mấy vụ án, như vụ Klaus Fuchs, một người Anh gốc Đức làm việc trong Phòng thí nghiệm nguyên tử ở Los Alamos, bang New Mexico, Hoa Kỳ, trong Công trình Manhattan (Manhattan Project), thú nhận đã làm gián điệp cho Nga. Hay vụ Alger Hiss, một nhân viên cao cấp trong Bộ Ngoại giao Mỹ bị kết án làm gián điệp cho Nga sô. Hai vợ chồng Julius và Ethel Rosenberg bị bị kết án ăn cắp và bán tài liệu về bom nguyên tử cho Nga và xử tử năm 1953.

    Cải cách xã hội để đối phó với “Tư bản luận” của Karl Marx

    Từ thập niên 30 cho đến nay (2010), Hoa Kỳ đã trải qua nhiều biến chuyển xã hội. 1933-38, chính sách New Deal của Tổng thống Franklin D. Roosevelt; 2009-2010, cải tổ y tế của Obama, tất cả đều mang tính xã hội. Không những Hoa Kỳ đã trải qua các cơn sốt vỡ da về bản chất nhân vị của mình trong quá khứ, ban hành các chương trình đậm nét xã hội quá độ như Social Security Act (An sinh Xã hội giúp đỡ tiền già, hưu trí), Fair Labor Standard Act 1938 cùng với Child Labor Act ấn định lương bổng, giờ giấc làm việc cho trẻ em, ấn định số tuổi tối thiểu mà trẻ em có thể làm việc, Federal Housing Act (FHA, luật trợ giúp nhà cửa) và hai chương trình phụ thuộc Đạo luật An sinh Xã hội (Social Security Act) Medicare-Medicaid được ban hành vào tháng 7.1965 (Medicare giúp đỡ y tế, thuốc men cho người già và Medicaid cho người nghèo) mà hiện nay, người Mỹ – nhất là những nhân vật trong phe bảo thủ – cũng rục rịch chống đối Obama với các phong trào chống thuế TEA (Tax Enough Already) Party, chống xã hội hóa, vì mối nghi ngại cho rằng nước Mỹ đã quá thiên về hướng chủ nghĩa xã hội, nhượng bước cho những người ăn không ngồi rồi, gia tăng gánh sưu cao thuế nặng cho những thành phần đi làm, có trách nhiệm, cầm cả tương lai kinh tế của các thế hệ sau.

    Từ lúc chủ nghĩa Marxist-Leninist xuất hiện trên thế giới, Làn sóng Đỏ lúc nào cũng là một mối đe dọa của Hoa Kỳ – nếu không trong thế đối trọng tất yếu giữa triết lý tư bản và cộng sản, chính nghĩa và tà đạo, cạnh tranh và nâng đỡ thì cũng trong tư thế hai phe quyền lực cùng nhau tranh giành ảnh hưởng và quyền lãnh đạo thế giới. Trong quá khứ, vào thời 1950, Hoa Kỳ đã có những vụ tố cáo, vu khống, lên án cộng sản, khét tiếng nhất là việc Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy chủ xướng các vụ bắt bớ nghệ sĩ, tài tử, công chức chính quyền và những cuộc điều trần, chụp mũ khuynh tả ở Quốc hội. Sự đàn áp quá độ đã đưa đến khái niệm “McCarthyism”, đồng nghĩa với chuyện chụp mũ cộng sản hay bách hại, bêu xấu ai.

    Công bằng và lẽ phải giúp Hoa Kỳ tránh chuyện quá độ

    Tuy nhiên, lấy công minh mà xét, trong một thể chế dân chủ như Hoa Kỳ, những chuyện thái quá cũng không thể kéo dài trong xã hội. Lẽ phải theo khái niệm “majority rules, minority’s right” (đa số thắng thế, thiểu số có quyền) chí công vô tư, bao giờ cũng gây thiện cảm và thu phục được nhân tâm của công dân. Luật pháp của một nước dân chủ pháp trị cũng được sửa đổi, cải thiện, không cho phép chuyện lộng quyền, áp đảo hay tước đoạt quyền công dân của nhà cầm quyền.

    Như vậy lối đi của một nước tư bản như Hoa Kỳ là gì? Có phải là tự lực cánh sinh, mạnh được yếu thua, lấy lợi nhuận làm đầu? Tuy trên lý thuyết thì như thế, nhưng thực chất không hẳn như vậy. Hoa Kỳ tuy là một nước tư bản, nhưng không như Việt Nam, không theo chính sách mackeno, không có những khẩu hiệu thật kêu: “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ”.

    Nói tóm lại, tại Hoa Kỳ, chế độ tư bản đầu sỏ, thịnh hành nhất thế giới, phương cách cải tổ xã hội toàn diện đã khiến quốc gia này ngày hôm nay có thể giúp đỡ cho con dân họ nhiều hơn, bao dung hơn chính các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản hay xã hội như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba hay Bắc Hàn, tuy nhiều lúc đã có những chất vấn và nghi ngại về đường lối của Tòa Bạch ốc, như hôm nay dưới chính quyền Obama. Nói chung, người dân Mỹ không tin ở chính phủ, đối với họ chính quyền càng ít nhúng tay vào đời sống của dân tình càng tốt, nhất là vào thời buổi kinh tế suy thoái. Chính-quyền-nhỏ-không-chỉ-đạo-hay-áp-đảo người dân không chỉ là một đặc điểm riêng của Đảng Cộng hòa, vì từ thuở lập quốc, mối tranh cãi về quyền lợi của dân và quyền hành của chính phủ lúc nào cũng là điều thiết thực và nổi cộm. Đây chính là chuyện cốt lõi của dân quyền và dân chủ Hoa Kỳ (xin đọc thêm về Anti-Federalist và Federalist Papers).

    Vì sao Việt Nam lo ngại cộng sản hơn Mỹ?

    Bất kể những cuộc chiến ủy nhiệm thảm khốc giữa Tự do và Cộng sản mà người Mỹ can dự, mối lo ngại về cộng sản ở Mỹ, theo người viết chỉ là một nghi vấn kinh điển, không như Việt Nam, lúc nào cũng là một quan ngại hiện thực, vì gần một thế kỷ nay người dân Việt phải trải qua bao cơn máu lửa tàn phá và hủy diệt để sống trong một guồng máy áp bức và kiểm soát chặt chẽ đời sống của mỗi người. Không những thế, cuộc huynh đệ tương tàn vừa qua đã có những đòi hỏi hy sinh quá đáng để đưa Đảng Cộng sản đến thắng lợi toàn phần, nhưng cải cách và phần thưởng mà người dân mong đợi thì còn rất xa với mục tiêu công bằng và chí công vô tư, xây dựng một “đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc”. Nhà cầm quyền ngày càng đi xa, đưa lợi ích của cá nhân và phe đảng lên trên quyền lợi của dân tộc.

    Cho dù chính quyền Mỹ không được lòng tin hay tín nhiệm của người dân, cơ cấu bầu cử của Mỹ dành cho người dân quyền chọn lựa người lãnh đạo. Cứ theo từng nhiệm kỳ mà người dân có quyền thanh lọc, bầu chọn lãnh đạo mới của mình, từ chính quyền địa phương cho đến trung ương, những người đại biểu không được ưa chuộng sẽ bị loại, không thể ngồi mãi một chỗ để bóc lột hay đàn áp con dân. Người Việt không có diễm phúc chọn lựa người lãnh đạo mình, cho nên mối chán ghét ngày càng tăng, đến độ người dân bỏ mặc chuyện chính trị vì họ không có một tiếng nói than trách, khiếu kiện hay ảnh hưởng nào.

    Trong khi đó, đối với khoảng 3 triệu người Việt sinh sống ở nước ngoài, chính quyền Việt Nam không có một hành vi thực tiễn nào nhằm xoa dịu, chuộc lỗi những hành vi ác nhân thất đức đã đẩy con dân mình vượt biển khơi, bất kể sống chết, đi tìm lẽ sống. Ít ra, cho đến nay người ra đi vẫn chờ một ít lương thiện ở lãnh đạo, mong họ cải tổ đường lối, thôi truy bức những tiếng nói lương tâm ở nước nhà, hoặc những tham nhũng quá độ để mang lại cho những người tha hương một nỗi nhục nhằn hổ ngươi, mỗi khi giới lãnh đạo nhà nước ra nước ngoài. Ngoại trừ Nghị quyết 36, được coi như là một chiến lược để chiêu dụ người Việt hải ngoại, chính quyền cộng sản không có một hành động chính thức nào để đối thoại với “khúc ruột ngàn dặm” của họ.

    Ngược lại, đây có thể là phản ứng của lãnh đạo nhà nước đối với với một chọn lựa thiển cận, một sự cố chấp, một sự mị (dân) của một số lãnh đạo cộng đồng “chống cộng” hải ngoại: không muốn thương lượng hay thỏa hiệp với cộng sản, tăng tốc theo những áp bức trong nước, rốt cục cả hai bên đều thi gan cùng tuế nguyệt, ngày càng đào sâu cái hố chia rẽ dân tộc cho đến ngày tàn lụi của đất nước?

    Nguyễn Hữu Liêm, anh là ai?

    Tất nhiên, người viết chỉ nói đến vấn đề nổi cộm, chứ không nói đến những chi tiết phức tạp của mọi trường hợp. Lấy công minh mà xét, không một ai, ngay cả các đảng viên cộng sản, lại thích ôm ấp mãi cái chủ thuyết ngoại lai vô luân này, nhưng vì thiếu tài đức, dũng cảm, trách nhiệm và lương thiện nên họ muốn ôm ấp cái bổng lộc đặc quyền, đặc lợi này do sự chuyên chính của độc đảng mang đến. Trong khi đó, có một thiểu số ngây thơ, xu nịnh, hoặc những người xem nhẹ, bỏ qua những tai hại chết người của nhà cầm quyền để manh nha góp sức chuyển hướng Đảng Cộng sản, giúp họ thực hiện những điều ích lợi, hy vọng Đảng Cộng sản sẽ dần dà quay về với dân tộc. Ngoại trừ những kẻ chỉ muốn trục lợi, hưởng ơn mưa móc cho cá nhân, phần còn lại có phải là những người thức thời, thấy trước và đi trước mọi người trên lộ trình cam go, mang đất nước ra khỏi ngõ bí.

    Bài toán Việt Nam còn nhiều ẩn số. Tôi không có câu trả lời, và căn cứ trên những diễn biến đê hèn của nhà nước đối với Trung Quốc gần đây, người ta gần như hết hy vọng. Tôi không phải là một trong những người có cơ hội – hay là người cơ hội – gần gũi hay tiếp cận với lãnh đạo nên không thể biết được những chuyện như bạn tôi, anh Nguyễn Hữu Liêm có thể biết, hoặc giả anh cũng chẳng biết gì hơn vì còn những mặt chìm, nhưng vẫn nuôi hy vọng còn nước (để tát) cờ (để đánh). Theo ước đoán, anh Liêm có thể giữ một nước cờ cao hơn những gì tôi biết hay đoán được ở anh. Hoặc có thể anh cũng chỉ là một người quá khả quan, quá hoang tưởng về nội lực của mình cũng như hứa hẹn từ đối tác nhà nước của anh. Và một ngày kia anh sẽ vỡ mặt – hoặc nở mặt vì thành công.

    Như nhiều người, tôi hiểu được cái quá khứ tráo trở khôn lường của cộng sản, nhưng vì tin tưởng vào những khái niệm dân chủ như: “Hãy dành cho người khác ý tưởng tốt thay vì nghi ngờ họ” (give someone the benefits of the doubt), nên tôi cũng cố dành phần phán đoán cho đến lúc sau cùng khi có đủ bằng chứng hay dữ kiện. Lại nữa, tôi chỉ quan niệm rằng không nên dùng thước đo của mình mà đo lường, phán xét người khác. Những người tranh đấu cho dân chủ nên áp dụng cho mình một lý tưởng cao hơn những doanh nhân hay nghệ sĩ, nhưng chính vì vậy họ không nên hà khắc mà áp đặt tiêu chí của mình lên đường đi hay công việc mưu sinh của người khác. Gần đây anh Liêm và Hiệp hội Doanh nhân Toàn quốc (ngoài Hội Doanh nhân California) đã gặp gỡ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ở Hoa Thịnh Đốn để xúc tác kêu gọi chính thức hóa, từ đó bảo vệ việc đầu tư của người Việt hải ngoại ở Việt Nam.

    Điều khó xử của phương án này không nằm ở phía người đầu tư mà nằm ở phía nhà nước và những luật định chồng chéo của họ. Tôi tin rằng khi những hợp đồng ký kết giữa người Việt và nhà nước Việt Nam không nằm trong khế ước quốc tế bao quát hơn như Hiệp ước Song thương (Bilateral Trade Agreement và WTO) giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thì doanh nhân Việt vẫn nằm ở thế yếu và bất cập. Nhà nước cộng sản chỉ đủ can đảm để đương đầu với những giao kèo và hợp đồng này khi họ tự tin làm như thế sẽ mang lại cho họ được tín nhiệm để àm ăn lâu dài với quốc tế, do đó họ bắt buộc phải làm nhiều điều phải hơn trái.

    Còn một giả định nữa mà một số người đã nói với tôi: “Nếu anh Liêm là công cụ của cộng sản, có hại cho bước tiến chung của đất nước thì Thái Anh sẽ đối phó ra sao, liệu anh có để tình bạn khỏa lấp và làm cho mình mù quáng?” Tôi không tin điều này sẽ xảy ra. Nhưng nếu có thì hành xử quang minh như trong trường hợp sau đây sẽ làm gương chuẩn cho tôi:

    Một hôm, nhân lúc giảng dạy về mối sợ Làn sóng Đỏ sau Thế chiến thứ Nhất, lớp Sử Hoa Kỳ (United States History) chúng tôi bàn về mối nghi ngờ bàn tay lông lá của cộng sản trong những vụ đánh bom khủng bố ở Mỹ vào thời 1920, có một học sinh nhắc tới Ted Kaczynski, người được FBI mệnh danh là Unabomber vì mục tiêu đánh bom của ông ta thường nhắm vào các giáo sư đại học và các công ty hàng không (UNiversity and Airlines Bomber) vì chán ghét bước tiến ồ ạt của công nghiệp, lấn chiếm thôn quê hoang dã của thành thị (phải chi ông là cư dân Hà Nội, thủ đô bành trướng của ngày nay!). Trên 10 năm, những vụ khủng bố đánh bom (16 vụ) của ông không bao giờ được FBI tìm ra, tuy đây là trường hợp điều tra tốn kém nhất của họ. Năm 1995, ông gửi cương lĩnh “Một xã hội công nghiệp và viễn tượng của nó” đến tờ New York Times và hứa sẽ thôi khủng bố, nếu họ công bố cương lĩnh này trên toàn Hoa Kỳ. Rốt cuộc một người anh của Ted Kaczynski đã nhận ra tuồng chữ và cách hành văn của em mình và tố cáo ông với FBI. Kết cuộc, Ted Kaczynski bị bắt và ở tù chung thân vì người anh của ông đã bất chấp tình gia đình máu mủ, nộp ông cho pháp luật.

    Tôi cũng thế – không thể vì tình bạn mà bao che cho cái tai hại chung của đất nước. Lẽ phải và dân tộc sẽ thắng thế.

    © 2010 Nguyễn-Khoa Thái Anh

    © 2010 talawas

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Theo tôi Nguyễn Hữu Liêm chưa nên coi là xấu mà chỉ chưa có trãi nghiệm CS như những người Việt Minh và người VN yêu nước khác. Cần lôi ông về với cộng đồng !
    Với mục đích đó tôi đã viết một bài phản biện như sau

    Không còn bình an cho những đứa con của Marx,
    nhưng đã có ‘Hòa bình vĩnh cữu’ và ‘Giấc mơ Mỹ’

    Người đã đến Trăng, cung Hằng đâu, không thấy !
    Vắng bóng Tiên Nga, không chú Cuội già ..!

    Tuy vậy, không thể rơi tỏm “nguyên con“ vào chủ thuyết vô thần và chủ nghĩa duy vật cực đoan. Những người CS sử dụng học thuyết Karl Marx đã không có đủ trí tuệ để có suy xét đối chiếu lý thuyết với thực tế và chọn lọc tư duy nhân bản hơn làm cương lĩnh điều hành và phát triễn đất nước. Tệ nhất trong chủ nghĩa Karl Marx và CS là dùng bạo lực dày xéo nhào nặn con người để chứng minh học thuyết triết học Karl Marx và phiên bản dị dạng của cá nhân Mao trạch Đông là ...phải đúng. Hegel cũng sai nhưng được CS áp dụng để coi chiến tranh là biện pháp giử vai trò chủ trong biện chứng “ông chủ và nô lệ” của Hegel. Còn vũ khí là phương tiện ngoại thân giúp một đứa trẻ mạnh hơn lực sĩ mạnh nhất, khôn ngoan nhất ...khi đứa bé có súng ! CS đã dùng những tư tưởng này để hình thành nên học thuyết mang đầy tính phi nhân và gây chiến tạo ra các hồng vệ binh Angka sát nhân như một ‘nhiệm vụ thiêng liêng‘ với đảng CS !

    Triết lý là suy tư sâu thẫm về mọi mặt của đời người, về bản chất sự sống, về vũ trụ bao quanh, về thế giới siêu nhiên và thân phận con người trong cuộc hiện sinh trên trái đất và trong vũ trụ bao la đó...Nhưng triết lý khác tôn giáo là chỉ nhận diện chân lý như nó hiện hữu chứ không nhận nhiệm vụ tìm ra con đường hạnh phúc cho con người. Tôn giáo dùng óc tưởng tượng suy nghiệm tìm ra con đường đi đến hạnh phúc viên mãn cho đời người: thoát tục, diệt dục, cầu xin ân điển của Thiên Chúa, thánh Alah v.v...!

    Triết gia thời Khai sáng được đánh thức tư duy rộng mở, bước qua các giáo điều, can đảm nhìn nhận chân lý, nhưng triết lý chưa là chân lý vì vẫn còn là những dòng suy tưởng chưa được chứng nghiệm. Triết lý đưa ra vạn nẽo suy tư về thế giới nội tại và ngoại thân, giúp con người cân nhắc chọn lựa xây dựng nhân sinh quan-thế giới quan-vũ trụ quan, con người có thể tham khảo kho kiến thức đó để đưa ra định hướng các chánh sách xã hội... Người ta gọi luật hôn nhân phản ảnh triết lý về tình yêu nam nữ và đơn vị nhỏ nhất của cộng đồng là gia đình. Luật ‘một vợ một chồng’ có từ suy nghiệm đó là mô hình để có gia đình hạnh phúc bình đẳng nam nữ. Trái lại đạo Hồi cho phép có ‘bốn vợ’ nhằm thỏa mãn mong muốn đàn ông...

    Con đường khoa học thực nghiệm là tiến trình khởi đi từ ý tưởng - tranh luận phê phán - thí nghiệm - kết luận. Triết học là ý tưởng - tranh luận phản biện - cuộc sống là phòng thí nghiệm - hiệu quả xã hội là chứng nghiệm suy ra kết luận. Nếu bỏ qua quy trình ‘tranh luận - đối chiếu - chứng nghiệm và thay đổi’, triết học thành giáo điều như Mao tuyển hay xác tín tôn giáo, bất di bất dịch, không cần thẩm định, không chịu thay đổi.
    Giáo điều khiến nhà nước thần quyền Hồi giáo biến dân chúng thành tín đồ ngoan đạo để chứng minh...có Thánh Alah ! Giáo điều khiến nhà nước CSVN biến dân chúng thành con tin, không được tiếp cận quyền lực xã hội mà bị khai thác để cung cấp đặc quyền cho thiểu số nhỏ đảng viên như thời quân chủ phong kiến.
    Khi thành kẻ hiếu chiến, cướp giật tài sản, tóm thâu quyền lợi vật chất và tinh thần dù dưới chiêu bài đẹp đẻ nào, vẫn là chống lại nhân loại, thì những đứa con của Marx sao có thể bình an ?

    Về vô thần - hữu thần không chỉ có Hegel và Karl Marx (1818-1883) -Angel mà còn một trường phái cận đại của triết gia Immanuel Kant (1724-1804) trước Marx cả trăm năm mới được coi là nhà triết học minh triết, khám phá ra chân lý mà Marx Angel không có được .

    Rõ ràng cuộc sống chưa được khám phá hết do tri thức còn hạn chế của con người . Hãy thử nghĩ về việc mỗi con người chúng ta vô hình trước người khác về mặt tư tưởng ! Con người như thế là đang sở hữu một phần bí ẩn là ‘tư tưởng vô hình vô dạng’ suy ra cũng có thể có ‘linh hồn’ thuộc đời sống tâm linh. Phần tâm linh này luôn quan trọng hơn, có giá trị cao hơn rất nhiều thể xác, nhưng chưa được khoa học chứng minh định hình dáng dấp và giải thích công năng kỳ diệu đó một cách thỏa đáng. Nhiều tôn giáo cho đó là vầng sáng quanh đầu có màu sắc khác nhau tùy kẻ hiền hay người ác ! Phật giáo cho linh hồn tồn tại sau khi chết và sẽ tái sinh vài ngàn kiếp, tu tập góp phần công đức, thành người minh triết và cuối cùng ai cũng ... thành Phật ! IQ cao thấp, thông minh hay trì độn, trong quan niệm Phật giáo, chính là độ già trẻ tính bằng số kiếp luân hồi ...

    Chúng ta đang có một thế giới vật chất vô hình, đang sống cùng với bao nhiêu là làn sóng truyền thanh, truyền hình, sóng siêu âm, tia phóng xạ hay vật thể vô hình xuyên tường, xuyên qua hầu hết vật chất kiên cố... Vì vậy ngoài vật chất mắt chúng ta quan sát được cùng với các thiết bị hổ trợ quan sát thì đó thế giới trong suốt đó không hề trống rỗng mà còn có nhiều yếu tố vô hình tồn tại ngoài tầm nhìn ngoài cả phát kiến khoa học, khiến chúng ta chưa biết hết. Không thể hoàn toàn bác bỏ sự hiện hữu của siêu nhiên vì nếu trong thế giới vô hình đó có sự tồn tại của linh hồn con người hình thì thế giới siêu nhiên Thần Thánh theo cách suy luận không chứng minh được là không có thì vẫn có thể có . Tính bất tử của linh hồn, tính vô biên của vũ trụ hoặc sự tồn tại của thượng đế dù chưa thể chứng minh song cũng chưa thể bác bỏ .
    Hiểu vô thần hữu thần kiểu dân gian, đánh đồng hủ tục mê tín với triết học Phật giáo và tôn giáo chính thống để rồi dùng bạo lực cách mạng đấu tranh bằng cách phá chùa, đập tượng Phật, dẹp nhà thờ phân biệt giáo dân như CS Hà Nội thời 1945-1975 và Campuchia thời diệt chủng...là những kẻ ngu xuẩn nhất trần đời !

    Đành rằng tôn giáo nối tiếp tiến trình văn minh từ cỗ đại có nhiều khoảnh khắc sai lầm cực đoan như đầu thế kỷ 18, với các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, thuyết giảng sự trừng phạt khủng khiếp của Chúa để đe dọa con người như bài giảng” Tội nhân trong tay Thiên Chúa đang thịnh nộ “mang tính nguyền rủa cực đoan của Jonathan Edwards, một mục sư Thanh giáo (chống lại sự tách rời giáo hội La Mã của Anh giáo) tại Enfield, Connecticut, năm 1741, nhấn mạnh đến sự trừng phạt khủng khiếp dành cho những người khước từ ân điển của Thiên Chúa. Khi nghe giảng, nhiều người đã kinh hãi la khóc. Người dân Israel là đối tượng bị nguyền rủa do không tin vào Chúa đã bị Thiên chúa giáo coi là bội nghịch. Ai dám chắc diệt chủng Do Thái của Hitler sau này không có ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo cực đoan ?
    Sự cực đoan đã làm trí thức Âu Mỹ gần 300 năm trước, chợt nhận ra họ không có tự do tư tưởng vì sự bao trùm mang tính khủng bố tinh thần của các giáo điều Thiên Chúa giáo.
    Các nhà truyền bá phúc âm và các nhà thuyết giáo hiện nay, khác hơn rất nhiều, tiếp nhận thêm chất liệu từ cuộc sống, nay giáo sĩ Thiên Chúa chỉ thích trình bày với thính giả của mình về tình yêu thương và sự tha thứ của Thiên Chúa thể hiện qua Chúa Giê-xu cứu chuộc. Cầu nguyện cho hòa bình và sự bình an cho con người. Nhờ có thay đổi đó Thiên Chúa giáo mới tồn tại. Mê tín dị đoan, thần giáo xúc phạm sinh mệnh con người như cúng tế trinh nữ...đều tuyệt diệt theo dòng văn minh. Dù thế giới siêu nhiên có hay không thì tôn giáo với các giáo sĩ biết chuyển biến theo hướng văn minh, đang là nhu cầu tâm linh của cuộc sống.

    Immauel Kant là triết gia khai sáng, được đánh thức khỏi "giấc ngủ giáo điều” ra khỏi sự kinh sợ quyền lực còn đang nằm trong tưởng tượng của thế giới siêu nhiên, nhưng ông là người còn muốn lưu giử niềm tin cho phần tâm linh của con người.
    Về ba vấn đề tranh luận gai góc miên man, một là sự tồn tại hay không tồn tại của Thượng đế, hai là tính bất tử của linh hồn và ba là sự tự do, khi không chứng minh được cũng không bác bỏ được thì phải cần đến niềm tin. "Tôi đã phải gác tri thức qua một bên để có chỗ cho niềm tin"(Immanuel Kant) . "Ông lão Lampe phải có một Thượng đế, vì nếu không thì con người đáng thương này không thể hạnh phúc được...”( một cách khôi hài để nói về quan điểm của Kant)
    Như vậy chúng ta hiểu rằng, đứng ở góc độ nhân bản, lấy con người làm mục tiêu, và khi có niềm tin vào đấng thiêng liêng, con người hạnh phúc hơn, thì cần tôn trọng tôn giáo như một yêu cầu của cuộc sống. Triết học vẫn làm phần việc của mình là đi tìm chân lý nhưng chấp nhận sự song hành của tôn giáo với mục đích mang đến hạnh phúc niềm tin cho con người ...
    Thật sự có Thượng đế và Thượng đế tạo ra người hay Người tạo ra Thượng đế bằng niềm xác tín không chứng minh của mình, để giải thích một cách ổn thỏa sự hiện hữu của mình, đều không quan trọng bằng việc có Thượng đế thì con người vui sống hơn, sống tử tế với nhau hơn !

    Immanuel Kant cũng thấy chiến tranh gây ra nhiều đau khổ nhất, ông tìm cách đề ra những điều kiện để kiến tạo một nền “Hòa bình vĩnh cữu“ (Perpetual Peace) .Sau 1945 các nước bị đô hộ lần lượt mau chóng trở thành nước độc lập nằm trong Liên Hiệp Anh, Liên hiệp Pháp theo tư tưởng Hoà bình vĩnh cửu (Perpetual Peace) của Immanuel Kant. Phát triển theo kiểu Cộng Đồng Châu Âu như hiện nay có Quốc hội Châu Âu là hình thức của Hoà bình vĩnh cửu. Cuộc hội thảo tháng 10.2008 có mục đích tìm mối liên hệ của tổ chức toàn cầu là Liên Hiệp Quốc ở thế kỷ 21 với hình thức Hoà Bình Vĩnh Cửu khu vực. Liên Hiệp Quốc được thành lập do ý chí của một số cường quốc có quyền phủ quyết. ‘Hoà bình vĩnh cửu’ là nền tảng của hoà bình cho tương lai không phải do ý chí của các thế lực lớn mà dựa vào sự chiến thắng của các giá trị của nền cộng hoà, hiệu quả kinh tế hài hoà, có mối quan hệ chánh trị giửa các nước dân chủ kiểu mới và hợp tác liên tục qua một ‘liên minh của các nước tự do’. Hoà bình thế giới được xây dựng trên cơ sở các quốc gia độc lập, tương tác kinh tế kiểu sống còn và một tổ chức quốc tế đa dạng nhưng không mang tính toàn cầu cao như Liên Hiệp Quốc...” (Theo: Pubantz, Jerry. Immanuel Kant’s Perpetual Peace and the United Nations in the 21st Century”(Hòa bình thế giới của và Liên Hiệp quốc trong thế kỷ 21 ) Immanuel Kant Paper presented at the annual meeting of the Western Political Science Association, Marriott Hotel, Portland, Oregon, Mar 11, 2004)

    Chánh trị CS càng độc tài, đồng tiền CS càng rất ngọt ngào với doanh nhân theo chân CS .
    Đó là những ý kiến triết học khi đọc bài viết của Nguyễn Hữu Liêm về Karl Marx , nhưng còn một vấn đề ‘liên quan sanh tử’ hơn đó là vấn đề VK kinh doanh ở VN !

    Triết học và lịch sử là hai mảng kiến thức không thể thiếu để gánh vác vai trò dẫn đường có ảnh hưởng đến tha nhân như các nhà chánh trị. Ông Nguyễn Tất Thành là con cừu đầu đàn dẫn đầu nhưng xác nhận mình vô ý thức về triết học mà chỉ làm theo Mao . Ông đã dẫn dắt cả đàn cừu Cộng Sản Hà Nội lao theo vào chiến tranh, để lại lịch sử bi thảm cho đất nước. Khi nền tảng tư tưởng lốm đốm, không học qua các trường phái triết học và các định nghĩa triết học cách có hệ thống, thì mỗi người hiểu theo một cách và làm theo cách của mình hiểu. Giáo trình trường đảng chánh trị Nguyễn Ái Quốc không khác kinh Coran chỉ chuyên chú dạy học thuyết Marx Lenin, không tranh luận dù cho đến nay chưa có mô hình nào thành công !
    Với tư duy Khai sáng rộng mở, trí thức Mỹ đưa vào cuộc sống “Giấc mơ Mỹ “(American Dream) công bằng nhân bản cho dân chúng trong nước và ‘Hòa bình vĩnh cữu’ cho thế giới, trong khi CS dẫn con người đến chiến tranh và tạo ra xã hội đầy bất công ...
    Có thể riêng những người CS chỉ biết có Karl Marx mới cảm thấy “một không khí triết học đã trở nên trống vắng và không còn mang cao vọng lớn lao” như ông Liêm nói nhưng đó là do họ lạc đường vào sa mạc vắng vẻ chứ chưa bao giờ triết học có sự “trống vắng” và hết mang cao vọng kiếm tìm chân lý cuộc sống .
    Triết học nhập môn đã dạy ta nhìn vấn đề sâu sắc đến bản thể sự việc như về lòng yêu nước : “Không phải sinh ra là người VN thì đương nhiên có ý thức quốc gia Việt Nam. Phải có trãi nghiệm về quốc gia mới có ý thức quốc gia. Nghĩa là phải có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan.”
    Do vậy trong chánh trị người đại diện dân phải sống cùng nơi dân cư trú có quốc tịch VN . Những người như ông Nguyễn Hữu Liêm không thể tin có ý thức quốc gia khi hoàn toàn sống lớn lên ở Mỹ, sẽ không thể nào hình thành ý thức quốc gia. Ông Liêm cũng như vài người Việt Kiều khác có đủ quyền lợi, thậm chí rất ưu tiên nhưng không có trách nhiệm, không gắn bó tương lai phải sinh sống ở Việt Nam mọi thứ không thành là vấn đề . Triết học duy lý không nhìn nhận cảm xúc là con đường dẫn đến chân lý. Cảm xúc thường dẫn đến sai lầm. Cho nên về cảm xúc ông có thể có như sinh lòng yêu mến vài quan chức có chức năng chiêu dụ, hài lòng với hình thức đối xử trân trọng nhà nước CSVN, ông lầm tưởng là ông đang yêu nước, thật sự giống như những người CSVN ông yêu điều ưu tiên mình được hưởng và sẽ làm gì đó để nắm giử ! Có thể ông không gian manh, ông giỏi khoa học, nhưng ông lầm lẫn trong đời sống, nếu ông không nghĩ thật sâu xa trước khi làm, thì ông là những người như nhà bác học E. Schrodinger nói đến. Nhà bác học E. Schrodinger viết (1956) : Có một hiện tượng kỳ quái là nhiều người thông minh, rất giỏi về khoa học thiên nhiên nhưng có một quan niệm triết học thất ấu trĩ, một quan niệm chậm tiến và què quặt không thể tưởng tượng được !
    Về thực chất quốc gia Việt Nam chỉ là nơi để lợi dụng và làm chủ người khác một cách hợp pháp, qua tay nhà cầm quyền không tôn trọng dân quyền. Nhà cầm quyền muốn qua ông làm ...quảng cáo để duy trì nền chánh trị vi phạm nhân quyền đó ! Đó là một hợp đồng ma quỷ không văn tự chỉ được ...ngầm hiểu .
    Ông Liêm nghĩ gì khi mình được mời dự phiên tòa mà thân nhân bạn bè những người muốn bày tỏ sự không đồng tình không được tham dự. Xét về triết lý, ông đã tước đoạt một cách hợp pháp, nhưng vô nhân đạo, bất công quyền được biết về thân nhân mình và quyền bày tỏ bất đồng ! Ông nghĩ thật sâu thật kỷ sẽ thấy rõ ?

    Tôi vừa mừng cũng vừa rất lo khi biết ông Liêm viết về triết học và giàu cảm xúc. Tuy nhiên nếu học triết lý kiểu người CS dạy trong các trường đảng Nguyễn Ái Quốc thì chỉ là một mớ giáo điều sai lầm càng khiến con người thành bảo thủ. Những gì tôi viết về ý thức quốc gia, chỉ mới là chương trình triết học nhập môn, là giáo trình trường Đại học văn khoa tôi đã đọc thêm để bổ sung kiến thức khoa học thực nghiệm của mình . Tôi cảm nhận được một điều chung rằng, để có tư duy sâu sắc, phải đọc qua các tư tưởng của các nhà triết gia.
    Nhìn ra các khiếm khuyết của giới trí thức khoa học thực nghiệm về tâm thức để hình thành nhân sinh quan, thế giới quan và những kiến thức một đất nước đa dạng sắc tộc, ở Mỹ đã xuất hiện những trường Đại học Minh Triết (Wisdom University), tiêu biểu là Đại học Minh Triết ở San Fransisco, từ năm 1996, chỉ đào tạo trên đại học (MA và PhD), đối tượng đào tạo của Trường là những người đã có trình độ nghiệp vụ chuyên môn chín chắn và còn muốn đặt mình trong một văn cảnh sống, học tập đa dạng hơn. Một trong các môn học là Indigenous mind (tâm thức bản địa) được đặc biệt chú trọng để những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại có thể hòa nhập suông sẻ vào cuộc sống của nhân dân bản địa với truyền thống riêng .

    Triết gia đào sâu suy nghĩ ! Tuy nhiên vì chưa có mô hình thực tế kiểm chứng nên triết gia như Karl Marx cũng có những sai lầm trầm trọng và có những tư duy hủy diệt như việc khuyến khích dùng “bạo lực” sát nhân để áp đặt trấn áp thay đổi các thể chế chánh trị thay vì là một “chuyển biến hòa bình”!
    Giết người thì cái xã hội CS thiết kế ra ...dành cho ai ? Xin thưa, Khmer Đỏ đã muốn sát hại hết dân ‘Khmer không CS’ như một trận ‘tận thế’ để thiết lâp lại một nhà nước với những con người hoàn toàn khác .
    Không có cái chết nào được nền văn minh chấp nhận là cần thiết cho nên ngày nay người ta cố gắng tăng cường giáo dục, cung cấp cuộc sống căn bản, nhu cầu thiết yếu và bỏ án tử hình !

    Khi Trung Quốc mua tín phiếu Mỹ, dân TQ hảnh diện vô cùng vì tưởng mình giàu đang cho Mỹ vay, không hề hiểu là còn nhiều lãnh vực khoa học công nghệ cao Trung Quốc không nắm công nghệ để đầu tư phát triễn như không gian, công nghệ Nano. Về xã hội như học vấn, TQ không chịu đầu tư, để cưỡng bách giáo dục hết lớp 12 như Mỹ, không có như chương trình mang đậm tính công bình và trách nhiệm như chương trình ‘No child left behind : Không có trẻ nào tụt hậu‘. Trung Quốc thích làm chuyện mang đậm tính ‘thể diện’ kiểu người nghèo thích đeo vàng. Vàng tuy không chứng minh giá trị song cũng có tác dụng quảng cáo với số người nghèo vật chất lẫn trí tuệ mà số đó không ít ở VN, Trung Quốc.
    Cho nên thứ trưởng Trung Quốc, được CS Trung Quốc cho lên tiếng dạy bảo ông Obama ở Hội Nghị Copenhagen là hàm ý thâm hiểm Trung Quốc coi bản thân ông Obama là người da màu cấp thấp, nước Mỹ đang phải vay nợ, không phải kẻ ngang cơ để Hồ Cẩm Đào phải bận tâm ! Ông Triết nhà ta cũng nói giọng ‘kẻ cả’ động viên ông Obama mà thâm ý là phân hóa nội bộ nước Mỹ. Những người phê bình chủ trương phân biệt sắc tộc lại không hề kính trọng ông Obama như người Mỹ trắng bỏ phiếu cho ông Obama. Vậy ra ai mới là người phân biệt màu da trong khi Mỹ đúng ra chỉ phân biệt đẳng cấp và giá trị ? Ông Lê Công Phụng, Đại sứ VN tại Hoa Kỳ cũng nói ông Obama có làm tổng thống Mỹ nhưng cũng vẫn là người Kenya ông Cao quang Ánh làm dân biểu cũng vẫn là người Vn chống VN là phản quốc! Các ông đều không biết nền giáo dục tốt giúp con người nắm bắt chân lý, vượt qua hình hài màu da sắc tộc, đạt được sự tự do tư tưởng ra sao. Cũng như người CS hình hài VN mà tâm hồn rất Trung Quốc qua học chủ thuyết Maoist ra sao !

    Còn nhớ khi Ông Bảo Đại mời Nguyễn Tất Thành hợp tác ông ta cũng ứng xử như vậy là cho cấp thơ ký quèn đi họp ! Không lạ vì những người mang mặc cảm dốt thua sút thường có cách ứng xử cực kỳ vô giáo dục và kiêu ngạo thế đó ! Họ cũng dễ thành kẻ giết người như tâm lý kẻ sát thủ trường học do mặc cảm thua sút còn đánh bom khủng bố do vừa bế tắt kinh tế vừa mang mặc cảm bị rẽ khinh, khiến thích thấy người giàu quốc gia mạnh khác phải tai họa, đau khổ phải đổ máu !

    Khi thế giới nhất là Mỹ chào đón Trung Quốc, bắt tay CSVN họ cũng sòng phẳng trấn an và không dấu niềm hy vọng chắc chắn sẽ có thay đổi chánh trị kèm theo. Nay thì trái hẳn , khi kinh tế khởi sắc họ dùng kinh tế làm lý do để càng độc tài hơn để bảo vệ đặc quyền như Vua. Nước Mỹ và mọi người đã hoàn toàn thất vọng song tiền CS vẫn rất ngọt ngào vì CS có cả tỷ người làm nô lệ để khai thác và nuôi dưỡng quyền lực !
    Tâm lý chủ nô của CS như TQ VN sẽ không dễ chịu buông tha dân tộc mình. Họ sẽ tiến ngang hàng nước Mỹ về trử kim do thu vén hết của dân, còn dân chúng TQ, VN ngàn đời là ...nô lệ nghèo khổ đến bán thân vì chỉ còn một ‘tư sản’ tuyệt đối và duy nhất là xác thân mình, hoàn toàn khác người dân Mỹ .
    Lòng tự cao CS vô cùng quái đản, nhưng tiền CS rất ngọt ngào nên vẫn được chào đón, dù bất công vô đạo mà nhiều người vẫn muốn dự phần ! CS biến cả tỷ dân mình thành nô lệ làm giàu cho CS cái giá dân Trung Quốc và VN phải trả là vô cùng khủng khiếp, vô cùng đáng thương !

    Trần Thị Hồng Sương