Martian Mobile - Sự hội nhập của người Việt (Phần 1)

  • Bởi martianmobile
    18/04/2010
    2 phản hồi

    Martian Mobile

    Sự hội nhập của người Việt.

    Gần đến ngày 30 tháng 4 năm nay, kỷ niệm 35 năm người Việt rời bỏ đất nước Việt Nam; họ đã hình thành một lực lượng quan trọng về nhân số ảnh hưởng mạnh đến xã hội, kinh tế và chính trị cho chính họ, cho các quốc gia họ đến và cả về Việt Nam, một quốc gia họ đã không nghĩ đến ngày sẽ quay trở lại.

    Bức hình cho thấy là người Mỹ đã thất bại tại Việt Nam nhưng cũng tiết lộ là người Việt miền Nam đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ thiên đường Cộng Sản.

    Những người Việt ra đi trong những năm ngay sau cuộc chiến chấm dứt là những người thành công nhất hơn những người Việt ra đi sau họ. Nhiều người về xã hội học và tâm lý học quan sát và có những kết luận là sự thành công của họ đạt được chỉ vì ý chí dứt khoát lựa chọn quốc gia họ đến sẽ là quốc gia mới của họ. Việt Nam của họ chỉ là quá khứ và họ không bao giờ nghĩ là sẽ quay trở lại. Sự so sánh tương tự như chủ thuyết thiên nhiên, như một con vật khi dồn vào đường cùng nếu nó chỉ còn một lối thoát để vươn lên thì vì bản năng sinh tồn nó sẽ bằng mọi cách để sống sót, đó là động lực duy nhất để người Việt tị nạn Cộng Sản đã thành công hơn là những người Việt thuộc diện di dân đến các quốc gia Tây Phường sau này.

    Người Việt tại Mỹ là một lực lượng đông đảo và có nhiều dữ kiện để theo dõi, do đó quan sát về sự hội nhập của người Việt tại Hoa Kỳ là một điều không thể bỏ qua được. Mặc dầu nó không bao trùm được hết các cộng đồng người Việt to lớn khác như tại Úc, Canada, Pháp, Anh, Đức, Âu Châu, và những quốc gia khác như Israel, Nhật, New Zealand... nhưng tôi nghĩ nó cũng có một phần tương tự như nhau.

    Ngoài Việt Nam, dân số người Việt ở Mỹ có mật độ cao nhất. Theo điều tra dân số năm 2000, có 1.122.528 người tự nhận là người Việt Nam chính thống hoặc là 1.223.736 nếu được tính là họ là con cháu của người Viêt với các sắc tộc khác. Trong số những người này thì 447.032 (39,8%) sống ở California và 134.961 (12,0%) ở Texas. Mật độ lớn nhất của người Việt ở bên ngoài Việt Nam được nhìn thấy ở Orange County, California, với tổng cộng 135.548. Các doanh nghiệp người Mỹ gốc Việt rất đông tại Little Saigon, họ cư ngụ tại Westminster và Garden Grove, chiếm 30,7 và 21,4 phần trăm dân số, tương tự như tại California, tại các bang Louisiana, Pennsylvania, Illinois, Minnesota, Washington, và Virginia đã gia tăng dân số người Mỹ gốc Việt. Các tiểu bang New England và New York City metropolitian cũng đang hình thành một cộng đồng khá lớn người Việt. Gần đây, mô hình di trú người Việt Nam đã chuyển sang các tiểu bang khác như Oklahoma và Oregon.

    Lịch sử của người Mỹ gốc Việt

    Lịch sử của người Mỹ gốc Việt so với lịch sử của các giống dân tại Hoa Kỳ thì họ tương đối là mới. Trước năm 1975, hầu hết người Việt Nam định cư ở Hoa Kỳ là vợ con của quân nhân Mỹ tại Việt Nam hoặc là những người du sinh của miền Nam Việt Nam, và số lượng của họ là không đáng kể. Theo Cơ Quan Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ, chỉ có 650 Việt đến Mỹ từ năm 1950-1974. Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam (hay được gọi là "Giải phóng Sài Gòn" của Chính Phủ Cộng Sản Việt Nam), ngày 30 tháng tư năm 1975, kết thúc Chiến tranh Việt Nam, thúc đẩy làn sóng quy mô lớn đầu tiên của người nhập cư từ Việt Nam. Nhiều người có quan hệ mật thiết với người Mỹ lo sợ Cộng Sản VN trả thù và 125.000 người trong số này rời Việt Nam trong thời gian tháng 4, và những tháng sau đó trong năm 1975. Nhóm này nói chung được đánh giá rất có học về chuyên môn, về giáo dục và chính nó đã tạo ra một tình trạng mất "chất xám nghiêm trọng" cho Việt Nam. Họ đã được đưa đến Hoa Kỳ tạm trú tại các căn cứ ở Philippines, đảo Guam và đảo Wake, và sau đó được chuyển giao tại các trung tâm tị nạn khác nhau tại Hoa Kỳ.

    Những hình ảnh người Việt trong các trại tị nạn rải rác khắp mọi quốc gia tại Đông Nam Á cho đến cả Úc và New Zealand.

    Trại tị nan tại Hoa Kỳ

    Đám cưới trong trại Tị Nạn ở Hoa Kỳ.

    Người tị nạn miền Nam Việt Nam ban đầu phải đối mặt với sự chống đối của người Mỹ sau cuộc khủng hoảng và biến động của Chiến tranh Việt Nam. Một cuộc thăm dò thực hiện vào năm 1975 cho thấy chỉ có 36 phần trăm của người Mỹ tán thành việc di tản người tị nạn Cộng Sản Việt Nam. Tổng thống Gerald Ford và các quan chức khác ủng hộ mạnh mẽ việc người Việt nhập cư sang Mỹ và đã thông qua Đạo Luật Di Cư ngưòi Tị Nạn Đông Dương năm 1975 (the Indochina Migration and Refugee Act), cho phép người tị nạn Việt Nam nhập cảnh Hoa Kỳ dưới một tình trạng đặc biệt. Đạo luật này cũng tìm cách ngăn chặn những người tị nạn tạo ra những khu người Việt thuần túy ghetto như các người Ý, Mexico,... đến Mỹ trước đây và nhằm giảm thiểu va chạm với cộng đồng địa phương, Những người Việt này bị phân tán trên cả nước Mỹ. Tuy nhiên, trong vòng một vài năm sau nhiều người Việt đã tái định cư và tụ tập tại California và Texas.

    Năm 1978 bắt đầu một làn sóng thứ hai của người Việt tị nạn kéo dài cho đến giữa thập niên 1980. Khi Sàigòn bị rơi vào tay Cộng Sản, các sĩ quan và công chức VNCH đã bị đẩy đến các trại cải tạo của người Cộng Sản nhiều tù nhân đã bị chết tại các trại cải tạo. Nhiều người bỏ trốn trước và sau khi bị cải tạo, khoảng hơn hai triệu người chạy khỏi Việt Nam trong những chiêc thuyền đánh cá nhỏ, không an toàn, và đông đúc. Những "thuyền nhân" nói chung nếu họ thoát khỏi cướp biển, thì họ thường kết thúc chuyến vượt biển trong các trại tị nạn ở Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Hong Kong, hay Philippines, nơi họ có thể được phép vào các quốc gia đã đồng ý chấp nhận họ. Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật tị nạn năm 1980 (the Refugee Act of 1980), giảm bớt các hạn chế về nhập cảnh. Và với áp lực quốc tế, chính phủ Cộng Sản Việt Nam và các nước Âu, Mỹ, Canada, Úc thành lập Chương trình đi có trật tự (ODP) thuộc Cao Ủy về người tị nạn của Liên Hiệp Quốc (the United Nations High Commissioner for Refugees) để đáp ứng với thế giới phản đối kịch liệt chính sách của Cộng Sản Việt Nam với người miền Nam Việt Nam, và cho phép người dân rời khỏi Việt Nam một cách hợp pháp để đoàn tụ gia đình và vì lý do nhân đạo. Luật bổ sung của Mỹ được thông qua cho phép con của quân nhân Mỹ và cựu tù chính trị và gia đình họ được vào Hoa Kỳ. Tới giữa năm 1981 và 2000, Hoa Kỳ chấp nhận 531.310 người tị nạn chính trị Việt Nam.

    Trại quản huấn tại tỉnh Bến Tre.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bác NiNi,

    Đó là chính sách xã hội chung cho tất cả công dân của một nước, như Canada, chứ không phải chỉ riêng cho người tị nạn VN đâu.

    Ngày càng có nhiều bà mẹ độc thân để có thể lãnh trợ cấp xã hội cao hơn, ... Khi vữa lãnh trợ cấp xã hội, vừa đi làm lậu ở ngoài như sửa nhà, làm nhà hàng

    Tất cả những việc trên, tạo ra căng thẳng xã hội khi ngày càng có nhiều dân nhập cư để lợi dụng chu cấp xã hội và khi kinh tế của các nước này càng bị suy thoái

    Quan sát xã hội như vậy, tôi đoan chắc rằng không thể nào tồn tại thiên đường cộng sản theo kiểu làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu được. Marx không hiểu gì về xã hội + con người + tài nguyên hoặc đó chỉ là giấc mơ hoang đường của Marx mà thôi để cho Lenin, Stalin và các đảng CS Mac-Le lợi dụng

    Phản hồi: 

    Nếu tính toán cho rõ, làn sóng người tị nạn ra khỏi nước đã được khoảng 27-37 năm, với thế hệ như chúng tôi thì cũng là nửa đời người, thế hệ 1,5 và thế hệ thứ hai cũng đã ra đời lập nghiệp .

    Nhìn chung, không thể phủ nhận sự thành công của mỗi gia đình, mỗi cá nhân .

    Tại nước người, đặc biệt là tại TP này hơi khác với HK về thành phần người Việt trong cộng đồng, đơn giản là vào thời điểm nhận người tị nạn, HK không chấp nhận các thành phần CS hay người dân ra đi từ miền bắc trong khi Canada , với chính sách nhân đạo và đặc biệt là tại tỉnh bang Quebec, họ có 1 quy chế nhận người ra đi từ cả hai miền .

    Vì thế mà tại TP này, chúng tôi được nhìn thấy sự phát triển con người vốn cùng cảnh ngộ nhưng khác điều kiện về cách sống và giáo dục trước hội nhập .

    Hầu hết các thuyền nhân khi qua đây đều với hai bàn tay trắng, được hưởng sự giúp đỡ từ chính quyền như nhau . Đa số đều được học các lớp " đời sống mới " kèm sinh ngũ và sau một năm thì " dứt sữa " , nguồn sữa này là từ chính quyền quốc gia và chính quyền Canada coi như xong trách nhiệm của mình đối với thuyền nhân. Còn con cái ở tuổi dưới 18 thì cũng sau 1 năm học riêng về ngôn ngữ, họ được chuyển vào các trường học , học chung với con cái người bản xứ, không hề có sự phân biệt .

    Nhưng không phải gia đình nào cũng có thể " dứt sữa " được ngay . Vì thế, những ai chưa có thể ra đời làm lụng, gánh nặng này được chuyển qua chính quyền tỉnh bang với chính sách xã hội, nôm na là " ăn xã hội " .

    Ngoài khoản tiền xã hội, thuyền nhân cũng vẫn được hưởng các trợ cấp về việc nuôi con như mọi di dân hay bản xứ và mặt khác, nhờ vào việc " ăn xã hội ", họ lại được lắm ưu đãi hơn là người có công ăn việc làm như chương trình nhà ở, thuốc men ... lúc đó lại còn chương trình khuyến khích sinh đẻ nữa cho nên khối nhà phất lên nhờ .. sinh đẻ .

    Tôi quen 1 gia đình có thể nói là " tiêu biểu " cho 1 chính sách nâng đỡ ra để làm dẫn chứng chứ không phải ai cũng " đạt " được như thế , nhân những ngày đáng để tưởng nhớ này, đem ra kể lại cho mọi người như chuyện đùa nhưng thề không gian dối .

    Gia đình này chỉ nhờ có đến 7 con mà thu nhập tính ra còn cao hơn cả kỹ sư vì riêng khoản tiền sữa từ đứa trẻ thứ ba trở đi đã là hơn 300 / tháng đấy là chưa tính tiền thưởng công đẻ cho bà mẹ , từ đứa thứ tư trở đi là 15 ngàn đô tiền tươi thóc thật .

    Còn nhà cửa cấp phát thì là 1 cái apt rộng lớn tới 8 phòng ngủ , 1 cái apt có đến 8 phòng ngủ, trong đó có 1 master bedroom thì nói thật, cỡ thu nhập cao như bác sĩ cũng chưa có nổi .

    Tiền phải trả cho cái apt được trừ vào tiền xã hội, không cần biết nhà to nhà nhỏ, họ cứ tính 25% trên số tiền xã hội cấp phát chứ không đụng vào tiền sữa cho nên với 1 cái nhà cấp phát rộng như thế mà chỉ bị trừ có hơn 300 /tháng lại bao hết cả điện nước , sưởi thì chỉ có nằm mơ, chủ nhà lại còn tận dụng , chính phủ quy định mỗi con 1 phòng nên mới có 8 phòng ngủ thì anh ta "linh động"; cho con cái ngủ chung, lấy các phòng trống cho các tị nạn độc thân thuế lại, tiền điện vốn được bao trả nên chả ngại tốn kém, hai vợ chồng chiên chả giờ đem ra tiệm thực phẩm VN giao với giá rẻ, tối đến, anh chồng đi làm chui ở quán bar . Thu nhập tổng cộng chắc chắn là có làm ký sư cũng chả thể bằng .

    Hạn chế duy nhất mà người ăn xã hội không được phép là mua xe hơi đắt hơn 3 ngàn và du lịch ra khỏi bắc Mỹ ... điều này chả hề hấn gì vì vẫn có thể nhờ người đứng tên .

    Rảnh rang nên tôi cũng kể sơ về các vụ mua xế này cho vui : 1 ngày năm 86, anh ta nhờ tôi dẫn đi mua xe hơi mới, nhìn khách hàng nhếch nhác tay bế tay dắt, anh chàng bán xe chả muốn quan tâm , đến khi anh ta hỏi phương thức thanh toán cho chiếc wagon đã chọn, tôi bảo : "Trả tiền mặt"; anh tây đớ người .

    Khi chọn chiếc wagon và khuyên nên mua với lý do con cái còn bé, lê la thì chỉ nên mua đơn giản như thế, ghế nệm nhung làm gì để khó lau chùi rồi lại mắng, đánh con ... anh ta chấp nhận mua với sự miễn cưỡng và tuần sau, khi tôi về lại TP thì anh ta đến một dealer khác , mua .. thêm 1 chiếc xe khác, xe không phải quá " xịn " nhưng phải là nệm nhung ... vì anh ta thích xe là phải có nệm nhung . Tất nhiên, chủ quyền cả hai chiếc xe đều do 1 cậu em đứng tên .

    Chục năm sau, số con cái đã quá tuổi trưởng thành, tiền sữa cạn dần, chính phủ cũng đòi lại căn apt lắm phòng .. anh ta mua luôn 1 căn nhà rộng rãi ngay nơi thị tứ làm ăn .

    Đố ai chỉ ăn xã hội mà thành công về tài chánh được như gia đình này .

    Nhưng đó chỉ là 1 mảnh nhỏ tiêu biểu cho chính sách hỗ trợ ở xứ người và một phần ngắn mà tôi định viết ra về những vụn vặt trong đời tị nạn .