Lạc Văn - Tính chính đáng của các bên trong cuộc chiến tại Việt Nam 1945-1975 (phần 4)

  • Bởi Khách
    06/04/2010
    1 phản hồi

    Lạc Văn

    2. Yếu tố độc lập – tự chủ của Quốc Gia Việt Nam và VNCH

    Từ cuối năm 1947, sau chiến dịch Lea với mục đích tiêu diệt đầu não Việt Minh tại Việt Bắc không thành công, Pháp nhận thấy không thể thắng Việt Minh một cách dễ dàng như đã lầm tưởng ban đầu và tình hình chiến sự tại Đông Dương càng ngày càng xấu đi. Không thể thực hiện chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh", Pháp phải thay bằng chiến lược mới "đánh lâu dài", và cần xây dựng một chính quyền bản địa. Để có được sự ủng hộ của dư luận trong cũng như ngoài nước và đặc biệt sự hỗ trợ vật chất của Mỹ cho cuộc chiến tranh giành lại thục địa của mình, nhà cầm quyền Pháp đã gắn cái mác chống cộng bảo vệ tự do cho hành động của mình tại Đông Dương trong tình hình đối đầu của cuộc chiến tranh Lạnh gia tăng.

    Mùng 5 tháng 6 năm 1948, trên tuần dương hạm Duguay-Trouin cựu hoàng Bảo Đại chứng kiến lễ ký hiệp ước Vịnh Hạ Long giữa Emile Bollaert và Nguyễn Văn Xuân. Pháp công nhận độc lập của Việt Nam, nhưng Pháp vẫn nắm quyền quản lý quân đội và ngoại giao, ngoài ra Pháp trì hoãn trao các quyền lực khác. Trên thực tế là không có quyền hạn nào được chuyển giao cho phía Việt Nam. Trong khi người Pháp tại Hà Nội dựng lên chính quyền bản địa trên danh nghĩa, Bảo Đại quay về ở Châu Âu.

    Trong năm 1949, tình hình Trung Quốc biến đổi nhanh, Quốc dân đảng ngày càng thất thế. Sau chiến dịch Bình-Tân từ 29/11/1948 đến 31/1/1949, quân Giải phóng giành được Bắc Bình (Bắc Kinh) và Thiên Tân, Mỹ khuyến cáo Pháp nên đi đến thỏa thuận với Bảo Đại hoặc bất cứ nhóm Quốc gia nào khác. Mùng 8/3/1949 tổng thống Pháp Auriol ký hiệp ước Elysee với Bảo Đại, tái công nhận độc lập của Việt Nam là Quốc gia Liên kết, nằm trong Liên hiệp Pháp và toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đặt dưới sự quản lý của Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên người Pháp vẫn nắm quân sự, tài chính và ngoại giao, và lần nữa lại trì hoãn trao lại các quyền tự trị khác.

    Vào cuối tháng 6/1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới quyền Bảo Đại, nhưng sự chuyển giao quyền lực xảy ra rất chậm, thường chỉ trên danh nghĩa, thực quyền không được chuyển cho người Việt Nam. Quốc gia Việt Nam trở thành ngụy trang để người Pháp tiếp tục thống trị Đông Dương ("The Pentagon Papers", Gravel Edition, Volume 1, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954").

    Trong Hội nghị Giơ-ne-vơ, phái đoàn Chính phủ QGVN cùng phái đoàn Hoa Kỳ đã từ chối không ký Hiệp định. Ngay trong ngày 21/7/1954, Trưởng đoàn Chính phủ QGVN đưa ra bản tuyên bố riêng, giải thích lý do phái đoàn QGVN không ký là để phản đối "cách ký Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt", khẳng định Chính phủ QGVN "hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện thống nhất và tự do cho xứ sở".

    Viện lý do không ký vào bản Hiệp định Giơ-ne-vơ và nhất là không tham dự vào bản "Tuyên bố cuối cùng", Chính phủ QGVN tự cho rằng không bị ràng buộc vào những điều khoản và không có trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

    Ngày Tổng tuyển cử (20 tháng 7 năm 1956) theo như Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định tới gần, Bắc Việt Nam cố gắng một cách không hiệu quả tiến hành thảo luận với Nam Việt Nam. Vào đầu tháng 6/1955, Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Bắc Việt Nam và cựu Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, tuyên bố rằng miền Bắc sẵn sàng tiến hành Tổng tuyển cử và "tất cả các đảng phái, tổ chức cũng như các cá nhân đều có quyền tham gia". Một tháng sau, với sự chống lưng của người Mỹ, Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị Phạm Văn Đồng.

    Quan điểm của Washington đơn giản là nếu Tổng tuyển cử có được tiến hành, thậm chí hoàn toàn tự do, được giám sát bởi các tổ chức quốc tế thì những người cộng sản vẫn có thể thắng ("Chapter 2 - The Struggle for Heaven's Mandate: SIGINT and the Internal Crisis in South Vietnam,... 1962").

    Như những đánh giá của Mỹ, đến cuối năm 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm xa lánh dần các cộng đồng xã hội chính của Nam Việt Nam. Trước khi Tổng thống Kennedy lên nắm quyền vào năm 1961, một điều rõ ràng là sự ủng hộ của người nông dân Nam Việt Nam - mà họ là khoảng 90% dân số - đối với chính quyền Sài Gòn là rất thấp ("The Pentagon Papers", Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960"). Những người ủng hộ chính đối với Ngô Đình Diệm chỉ là cộng đồng Công giáo nhỏ bé tại Nam Việt Nam, những người được hưởng ưu tiên, đặc quyền, đặc lợi do ông ta ban cho. Sự ưu đãi đó cũng được dành cho những người Công giáo di cư từ Bắc Việt Nam, con số khoảng 900 ngàn người.

    Cao điểm của cuộc khủng hoảng xã hội Nam Việt Nam bắt đầu từ giữa năm 1963. Như hồi ký "Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam" của cựu Bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ McNamara miêu tả lại, vào thời điểm đó nổ ra cuộc khủng hoảng chính trị và tôn giáo trên toàn Nam Việt Nam. Nổi giận do việc Diệm hạn chế tự do tôn giáo, giới Phật giáo (Phật tử chiếm gần 80% dân số Nam Việt Nam) đã tiến hành những cuộc biểu tình phản đối dẫn đến những cuộc trả đũa dữ dội do lực lượng an ninh của Diệm tiến hành. Phản ứng tàn bạo này làm bùng thêm nhiều cuộc biểu tình, trong đó có những vụ tự thiêu ghê người của các nhà sư. Những sự kiện này làm tôi (McNamara) và nhiều người khác ở Washington sửng sốt, kinh hoàng và làm cho sự thống trị của Diệm gặp khó khăn hơn bao giờ hết.

    Xung đột giữa các Phật tử và chính quyền Nam Việt Nam đã âm ỉ suốt mùa hè. Rồi bỗng nhiên ngày 21/8 chính phủ ra tay đàn áp. Với sự đồng ý của Diệm, Nhu đã ra lệnh cho một đơn vị quân đặc biệt tấn công các ngôi chùa Phật giáo vào sáng sớm. Họ đạp đổ các cánh cửa cản đường và đánh đập các nhà sư có phản ứng chống lại. Vài trăm người đã bị tống vào nhà tù.

    Diệm đã hành động bất chấp lời đảm bảo của chính ông ta với Frederick E. Nolting (Jr.), Đại sứ Mỹ sắp hết nhiệm kỳ, rằng ông ta sẽ không có bất kỳ bước đi nào chống lại các Phật tử. Sự trở mặt xấu xa này làm át cả một diễn biến gây bối rối khác có liên quan tới Charles de Gaulle ở Paris. Hồi đầu mùa hè năm đó, chúng tôi (Mỹ) đã nhận được thông báo cho biết Diệm, thông qua em mình là Nhu, đã bí mật thiết lập mối liên hệ với Hà Nội. De Gaulle, người vẫn mong muốn gây lại ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương, cũng đã nhận được tin đó theo các nguồn riêng của mình ở miền Bắc và Nam Việt Nam và coi đây là một cơ hội. Ông ta nhanh chóng đưa ra lời kêu gọi thống nhất và trung lập hoá Việt Nam. Lúc đó chúng tôi không chắc là liệu lời đồn đại trên có đúng sự thật không, và chúng tôi băn khoăn không biết liệu có phải Diệm định tống tiền nước Mỹ vì đã buộc ông ta phải nhẹ tay trong việc đối xử với các nhóm chống đối.

    Ngày 24/8, khi những tin tức về vụ bạo lực tới Washington, một vài quan chức còn lại ở Washington thấy đây là một cơ hội để loại bỏ chính quyền Diệm. Cuối ngày hôm ấy, nước Mỹ đã sắp đặt cho một cuộc đảo chính quân sự.

    Người đưa ra sáng kiến này là Roger Hilsman (Jr.), người đã kế nhiệm Averell Harriman làm Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Viễn Đông. Ông ta và các cộng sự của mình tin rằng với Diệm chúng tôi (Mỹ) không thể thắng và do vậy phải loại bỏ Diệm. Hilsman bắt đầu bằng việc thảo bức điện gửi Đại sứ mới của chúng tôi (Mỹ) tại Sài Gòn, Henry Cabot Lodge (Jr.). Bức điện (DEPTEL 243) bắt đầu bằng lời lên án những hành động của Nhu:

    "Giờ đây sự việc đã rõ ràng là dẫu quân đội có đề xuất việc thiết quân luật hay Nhu đã buộc họ làm việc đó, thì Nhu đã lợi dụng việc thiết quân luật để phá chùa... Cũng rõ ràng là Nhu đã dùng thủ đoạn để giành cho mình vị trí chỉ huy.

    Chính phủ Mỹ không thể chịu được khi quyền lực lại nằm trong tay Nhu. Diệm cần phải có cơ hội để thoát khỏi Nhu và những người thân cận của Nhu và thay thế họ bằng những người tốt nhất hiện có trong giới quân sự và chính trị.

    Nếu, bất chấp những cố gắng của chúng ta, Diệm vẫn cứng đầu và từ chối, thì chúng ta chắc chắn phải đối mặt với khả năng là không thể giữ Diệm lại được.

    Đồng thời, chúng ta cũng cùng một lúc phải báo cho những người đứng đầu giới quân sự biết rằng nước Mỹ sẽ không thể tiếp tục hỗ trợ chính quyền Nam Việt Nam về quân sự và kinh tế được nữa trừ phi... có những hành động ngay lập tức (thả các nhà sư bị bắt giữ). Chúng tôi thấy cần phải loại bỏ gia đình Nhu ra khỏi cuộc. Chúng tôi mong muốn đem lại cho Diệm cơ hội thích hợp để loại bỏ Nhu, nhưng nếu ông ta vẫn không thay đổi, thì chúng ta sẵn sàng chấp nhận tình huống hiển nhiên là chúng ta không thể ủng hộ Diệm hơn được nữa. Ngài cũng có thể thông báo cho các tư lệnh quân đội biết là chúng ta sẽ trực tiếp hỗ trợ họ trong bất cứ giai đoạn chuyển tiếp nào khi cơ chế chính phủ trung ương bị phá vỡ.

    Cùng với những việc trên, ngài Đại sứ và đội ngũ nhân viên sở tại nên khẩn trương xem xét giới chức lãnh đạo có khả năng thay thế và lập kế hoạch chi tiết làm thế nào chúng ta có thể thay thế Diệm, nếu điều này trở nên cần thiết".

    Ta có thể thấy rằng, cho dù chính quyền họ Ngô có mong muốn hoặc tự nghĩ mình có thể tự chủ, độc lập với chính sách của Hoa Kỳ thì đó là sai lầm lớn. Sự thật là quyền lực tại Nam Việt Nam nằm trong tay người Mỹ. Người ta có quyền thay thế chính quyền đó nếu khi thấy cần.

    Kịch bản xóa sổ chế độ Ngô Đình Diệm lại được Tổng thống Nixon đem ra dọa Tổng thống Thiệu khi ông này định không chấp nhận các điều khoản của Hiệp định Paris mà Mỹ và VNDCCH đã phác thảo.

    Ngày 20/1/1973, Nixon hỏi Kissinger như vậy chúng ta có đi quá xa với Thiệu không? Nixon nói cụ thể với Kissinger như sau: "Nói một cách khác, tôi không biết sự đe dọa của chúng ta có đi quá xa hay không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì kể cả những điều không hay ho gì như cắt cái đầu Thiệu".

    Ngày 23/6/2009, thư viện Tổng thống Richard Nixon công bố thêm những cuốn băng ghi âm ở Nhà Trắng với thời gian tổng cộng là 154 giờ đã được thu từ tháng 1 đến tháng 2/1973. Lần đầu tiên những cuốn băng được công bố như những tài liệu giải mật này là ngày 11/7/2007. Lần thứ hai là ngày 2/12/2008. Cả ba lần công bố này với tổng số giờ của các cuốn băng là 2.371 giờ.

    Điều nổi bật trong 154 giờ ghi âm được công bố lần này là thái độ của Nixon đối với Nguyễn Văn Thiệu và chính quyền Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu trở thành cái gai hay nói cách khác trở thành một nhân vật mà Nixon nhiều lúc muốn loại bỏ.

    Có một thực tế là từ khi có cuộc thương thuyết giữa Mỹ và Bắc Việt Nam về việc Mỹ phải rút quân ra khỏi Việt Nam và chấm dứt chiến tranh thì Thiệu luôn chống lại những thảo thuận giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Lúc đầu, Nixon chưa có thái độ mạnh với Thiệu vì sự chống lại của phe Bảo thủ đối với ông ta.

    Nhưng từ khi Nixon thuyết phục được 2 thượng nghị sỹ quan trọng của phe Bảo thủ là Goldwater và Stennis thì Nixon ra tối hậu thư cho Thiệu rằng nếu Thiệu không chấp nhận thảo thuận giữa Mỹ và Bắc Việt Nam thì Mỹ sẽ chấm dứt mọi viện trợ cho chính quyền Sài Gòn.

    Và như vậy, chính quyền Sài Gòn trong mắt các cố vấn quân sự của Nhà Trắng chỉ còn một con đường duy nhất là sụp đổ. Nixon ra chỉ thị cho Kissinger hãy nói thẳng vào mặt Thiệu là nếu Thiệu không ký nháy vào bản thảo thuận thì những lãnh tụ Quốc hội Mỹ sẽ chấm dứt ủng hộ chính quyền Sài Gòn ngay lập tức.

    Trong những lần tuyên bố trước đó, khi nghe Kissinger nói Thiệu không chịu đồng ý với sự thỏa thuận giữa Mỹ và Bắc Việt Nam thì Nixon nổi giận và nói: Cái đuôi con chó không thể nào quẫy con chó được. Ý của Nixon là chính quyền Sài Gòn hay cụ thể là Thiệu chỉ là một một tay sai phụ thuộc vào Mỹ quá nhiều nên không có quyền và không thể nào điều khiển được Mỹ. Chỉ có Mỹ mới có quyền điều khiển chính quyền Sài Gòn và Thiệu mà thôi ("Âm mưu phía sau chuyện Nixon đòi cắt cổ Nguyễn Văn Thiệu").

    II. TIÊU CHÍ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ

    Đất nước Việt Nam là một, cho dù vì một mục đích chính trị nào mà người ta đi ngược lại thì cũng là điều không thể chấp nhận được.

    Thời hạn cuối để thảo luận vào tháng 7/1955, và ngày Tổng tuyển cử được sắp đặt vào tháng 7/1956 trôi qua mà không có hành động quốc tế nào. VNDCCH lại cố gắng tiến hành các cơ chế của Hiệp định Giơ-ne-vơ, chuyển tin đến chính quyền Nam Việt Nam vào tháng 7/1955, tháng 5 và 6/1956, tháng 3/1958, tháng 7/1959 và tháng 7/1960, đề nghị thảo luận để đàm phán về "Tổng tuyển cử tự do thông qua bỏ phiếu kín", và tự do hóa quan hệ Bắc-Nam nói chung. Mỗi lần như vậy VNCH trả lời bằng thái độ khinh khỉnh hoặc im lặng. Vĩ tuyến 17 với vùng phi quân sự mỗi bên trên thực tế đã trở thành biên giới quốc gia, và từ khi Ngô Đình Diệm nhất quyết từ chối thông thương với miền Bắc và ngay cả sự thỏa thuận trao đổi bưu điện, vĩ tuyến 17 là biên giới kiểm soát nghiêm ngặt nhất trên thế giới. VNDCCH kiến nghị với Anh và Liên Xô, đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ nhưng không có kết quả ("The Pentagon Papers", Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960").

    Một sai lầm của VNDCCH trong thời kỳ đó cũng nên nhắc tới là việc tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước CHDN Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Tuy công hàm đó (14/9/1958) không đủ tính pháp lý để Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng không phải vì công hàm đó mà Trung Quốc mới có tham vọng đối với Biển Đông, và không phải vì nó mà Trung Quốc đưa ra quyết định tiến đánh vào năm 1974 và 1988 (động lực đưa Trung Quốc đưa ra quyết định đó là do diễn biến chính trị trên thế giới có lợi để họ tiến hành những hành động như vậy), nhưng dù sao đây cũng là bài học chính trị cho ta về sau. Trong mọi trường hợp, chúng ta cần phải giữ lập trường rõ ràng trong vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cho dù đối mặt với đồng minh thân cận nhất.

    III. TIÊU CHÍ TỰ DO, HẠNH PHÚC

    Dân chủ - tự do là yếu tố căn bản biện minh cho sự tồn tại của Quốc Gia Việt Nam, và sau này là VNCH, dân chủ – tự do cũng là lý do biện minh cho tính chính đáng của cuộc chiến tranh của Pháp và Mỹ tại Việt Nam.

    Viện cớ không có tự do - dân chủ tại Bắc Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm từ chối tiến hành Tổng tuyển cử để thống nhất Đất nước, nhưng bản thân ông ta thắng Bảo Đại trong cuộc trưng cầu dân ý tiến hành vào ngày 23 tháng 10 năm 1955 với 98,2% phiếu bầu và trở thành Tổng thống VNCH cũng nhờ gian lận. Tại đô thành Sài Gòn, Ngô Đình Diệm nhận được hơn 600 ngàn phiếu bầu, trong khi khu vực này chỉ có 450 ngàn cử chi ghi tên.

    Ngô Đình Diệm tiến hành chiến dịch công kích cá nhân Bảo Đại, người bị ngăn cấm tiến hành vận động bầu cử. Quân đội và cảnh sát Quốc gia tuần tra bắt tuân theo lệnh cấm các hoạt động ủng hộ Bảo Đại và chống Diệm ("State of Vietnam referendum, 1955", http://en.wikipedia.org/wiki/1955_State_of_Vietnam_referendum). Ngày 6 Tháng 10 Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố quyết định mở cuộc trưng cầu dân ý. Các cơ quan truyền thông do Thủ tướng điều khiển cũng bắt đầu vận động dân chúng sửa soạn đi bầu với những bài chỉ trích hành vi của Quốc trưởng Bảo Đại và phổ biến những câu nhắc nhở cử tri như:

    "Phiếu đỏ ta bỏ vô bì (phiếu đỏ bầu cho Ngô Đình Diệm)
    Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi".

    Sau đảo chính gia đình họ Ngô, chính quyền VNCH thay đổi như chong chóng. Bắt đầu là Hội đồng quân nhân cách mạng nắm quyền do Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn cầm đầu, rồi 30/1/1964 Nguyễn Khánh đảo chính và chuyên quyền nắm hết quyền lực. Do sức ép từ các đảng phái và dân chúng, vào tháng 9/1964 vai trò Quốc trưởng được giao lại cho Dương Văn Minh. 26/10/1964 Thượng hội đồng Quốc gia bầu Phan Khắc Sửu làm Quốc trượng. Chỉ được vài tháng, Phan Khắc Sửu bất đồng với Thủ tướng Phan Huy Quát, chính phủ của Phan Huy Quát bị giải tán, Phan Khắc Sửu rút lui. Quyền hành giao lại cho Hội đồng Quân lực. 12/6/1965 Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành Chủ tịch Hội đồng Quân Lực và là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (coi như Quốc trưởng), Thiếu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ban Hành pháp Trung ương (coi như Thủ tướng).

    Ngày 10/3/1967, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia duyện bản dự thảo Hiến pháp mới do Quốc hội Lập Hiến soạn thảo. Bầu cử Tổng thống VNCH được ấn định vào 3/9/1967.

    Ứng cử Tổng thống VNCH năm 1967 có liên danh quân nhân Thiệu – Kỳ, phía dân sự có liên danh Trương Đình Du, liên danh Trần Văn Hương... Thiệu và Kỳ đều muốn làm Tổng thống, nhưng nếu không hợp tác thì cả hai có thể bị thua.

    Lo sợ sự bất ổn định vẫn thường thấy của chính quyền dân sự yếu kém, Mỹ muốn giới quân sự thắng. Nhưng Mỹ lại muốn Thiệu – Kỳ không làm sai quy tắc để mất uy tín của cuộc bầu cử.

    Trong buổi gặp với Russ Miller (quan chức CIA tại Sài Gòn) 21/6, Kỳ đề nghị ông ta tiếp xúc với người phụ trách cuộc vận động bầu cử Nguyễn Xuân Phong, Bộ trưởng Bộ phúc lợi xã hội, từng tốt nghiệp Oxford. Miller chấp nhận đề nghị của Kỳ, gặp Phong vào ngày 14/7 và thực hiện những cố gắng của Văn phòng CIA tại Sài Gòn để gây ảnh hưởng tới cuộc vận động.

    Kỳ hướng dẫn Phong thông báo đầy đủ cho Miller về kế hoạch của cuộc vận động bầu cử, cũng như lắng nghe những kiến nghị từ phía Mỹ. Miller ghi lại rằng Phong dường như nghĩ là có thể tiến hành cuộc vận động một cách tinh tế. Nhưng Văn phòng CIA lại lo rằng, một cuộc bầu cử hoàn toàn trung thực là cuộc bầu cử thất bại, Văn phòng CIA chấp nhận ý định sử dụng bộ máy cánh sát của Tướng Loan, không có lời bình luận của Phong (Nguyễn Ngọc Loan – Giám đốc Cảnh sát Quốc gia và Giám đốc Nha An ninh quân đội, tùy tùng thân tín của Nguyễn Cao Kỳ) "trong những trường hợp nguy hại đòi hỏi nhiều cố gắng hơn để quay ngoặt lá phiếu cho Thiệu – Kỳ".

    Cuộc vận động bị hụt hơi, một phần vì thiếu tiền, Kỳ dọa rằng, thiếu quỹ hộ trợ của Mỹ, ông ta buộc phải trông vào tướng Loan bòn rút "từ những cá nhân mà kết quả là những hậu quả không tốt đẹp". Văn phòng CIA đánh giá rằng cuộc vận động của Thiệu – Kỳ thiếu tiền sẽ có vẻ trung thực hơn. Vài ngày sau Phong có nhắc là sử dụng 8 triệu đồng tại đồng bằng sông Cửu Long. Kỳ không tiết lộ nguồn tiền và Phong chỉ có thể phỏng đoán tiền đó có từ Tướng Loan.

    Mùng 3/9 liên danh Thiệu – Kỳ đắc cử với 35% phiếu bầu. Liên danh Trương Đình Du về nhì với 17% số phiếu.

    Một tuần trước khi thông qua kết quả bỏ phiếu vào ngày 2/10, Văn phòng CIA huy động toàn bộ các mối quan hệ chính trị của mình, thực hiện 50 cuộc gặp với mục đích ngăn cản việc không thừa nhận kết quả bầu cử gây rắc rối. Một đối thủ Thiệu – Kỳ thú nhận "một cách ngây thơ và thô kệch" rằng, ông ta và các đồng minh của mình quan tâm ít hơn tới việc điều chỉnh gian lận bầu cử so với "khả năng bòn rút lợi ích nhất định từ việc tống tiền chính trị". Dù kết quả của chiến thuật gây sức ép của Văn phòng CIA sao đi nữa, thì các thành viên của Quốc hội Lập pháp cũng không nghi ngờ về sự ưu tiên của Mỹ đối với việc thông qua kết quả bầu cử. Quốc hội Lập pháp thông qua với số phiếu 58/43. Thiệu và Kỳ tuyên thệ nhận chức vào ngày 31/10/1967.

    Sau cuộc bầu cử Thượng viện 1970, Phái đoàn Mỹ tại Sài Gòn bắt đầu quan tâm đến cuộc bầu cử Tổng thống được ấn định vào tháng 10/1971. Vào cuối năm 1970, Phó tổng thống Kỳ dường như không chắc ra ứng cử, các quan chức Mỹ lo ngại hậu quả đối với tính hợp pháp chính trị của Thiệu, nếu như ông ta ứng cử không có đối lập. Đại sứ Bunker đề nghị giải quyết trước hậu quả bằng cách thuyết phục cựu Quốc trượng và là người theo đạo Phật Dương Văn Minh ứng cử vào chức đó.

    Không phải Mỹ muốn Minh giành ghế Thiệu. Sự cống hiến của Minh đối với nỗ lực chiến tranh là đáng nghi ngờ, và câu hỏi về mối quan hệ không được ủy quyền với miền Bắc qua người em ở Hà Nội chưa có lời giải.

    Mặc dù sự miễn cưỡng của Minh, chiến thắng của Thiệu không phải nắm chắc, và vào tháng 1/1971 Đại sứ Bunker muốn hành động để đảm bảo điều đó. Văn phòng CIA cũng muốn có thế đứng vững chắc trong phía đối lập để loại bỏ khả năng, tuy mơ hồ, thất bại của Thiệu. Văn phòng CIA muốn thêm 10 người "dễ cảm" tại Hạ viện, nơi mà 10 điệp viên đang có của họ có thể thúc đẩy hoặc ngăn chặn sự lập pháp. Dành cho những công việc này, và hỗ trợ những ứng cử viên ủng hộ Thiệu vào Hạ viện, Văn phòng CIA muốn 252 ngàn đô-la. Khi cuộc bầu cử tiến gần, Văn phòng xác định lại mục tiêu dài hạn của mình về sự huy động chính trị tại Việt Nam, giờ đây đơn giản là kiếm phiếu cho Nguyễn Văn Thiệu.

    Ngày 24/7, Thiệu tuyên bố ứng cử, và Minh "lớn" chiều lòng mong muốn của Đại sứ Bunker ứng cử 2 ngày sau đó. Phó tổng thống Kỳ tuyên bố vào mùng 4/8, nhưng Tòa án tối cao bác đơn của ông ta ngày hôm sau, công bố rằng ông ta không đáp ứng đủ những điều lệ theo luật bầu cử, những cái mà Thiệu đã đưa ra công thức với Kỳ trên tinh thần. Khi đó Minh bắt đầu dọa rút lui. Điều này lại đưa ra viễn cảnh của một cuộc bầu cử không đối lập, 19/8 Đại sứ Bunker tới thăm Minh và thuyết phục ông ở lại cuộc chạy đua. Minh thực chất rút lui ngày hôm sau.

    Tòa án tối cao thay đổi ý kiến của mình ngày 20/8, phục hồi lại Kỳ, nhưng ông ta rút lui vào ngày 23/8, để lại Thiệu là ứng cử viên duy nhất. Việc này không có nghĩa là Kỳ nhường chiến thắng cho Thiệu, mà ông ta cố gắng sử dụng CIA để tạo ra sức ép của Mỹ đối với cải cách bầu cử. Ông ta bắt đầu bằng việc đưa lậu người thân tín Đặng Đức Khôi qua Phnôm Pênh, từ đó Khôi bay đi Washington vào đầu tháng 8 và thỉnh cầu mối quan hệ CIA cũ để sắp xếp cuộc gặp với cố vấn An ninh quốc gia Kissinger. Giám đốc Trung tâm tình báo DCI Helms thông báo cho Kissinger về lời đề nghị, kết luận thỉnh cầu của Kỳ là để buộc Thiệu dẫn dắt cuộc bầu cử công bằng. Nhưng ràng buộc của người Mỹ với chiến thắng của Thiệu đã che mờ sự quan tâm về công bằng trong bầu cử. Khôi đã gặp được Quyền trợ lý Ngoại trưởng William Sulliva, nhưng không làm Kỳ hài lòng.

    Như vậy Tổng thống Thiệu đã đắc cử với 91,5% vào ngày 3/10/1971 (theo tài liệu mật của CIA mới được công bố) ("CIA and the Generals, Convert Support to Military Government in South Vietnam", Thomas L. Ahern, Jr.).

    Đối với tự do cá nhân, Tổng thống Diệm phân loại dân chúng ra thành các nhóm chính trị tùy thuộc mối liên hệ của họ với Việt Minh. Vào năm 1956, VNCH lộ ra rằng, khoảng 15-20 ngàn người cộng sản bị giam giữ trong "các trại cải tạo chính trị" của mình, trong khi đó Devillers đánh giá con số 50 ngàn người. Chuyên gia người Anh về Việt Nam, P.J. Honey, người được Diệm mời điều tra về các trung tâm cải tạo vào năm 1959 kết luận rằng, sau khi phỏng vấn một số người nông dân Việt Nam, "sự đồng thuận trong ý kiến được bày tỏ của những người đó là phần lớn những người bị giam cầm không phải cộng sản cũng như ủng hộ cộng sản" ("The Pentagon Papers", Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960"). Tra tấn và giết hại "những người bị tình nghi cộng sản" là việc xảy ra thường ngày.

    Vào cuối 1957, những tòa báo phê phán chế độ bắt đầu bị quấy rối, và vào tháng 3/1958, sau bài xã luận châm biếm, VNCH đóng cửa tòa báo lớn nhất tại Sài Gòn. Vào năm 1958, những nhà chính trị đối lập mạo hiểm bị tống tù cho việc thử lập đảng phái không được Nhu hoặc Cẩn ủy quyền, và trước 1959 tất cả các hoạt động chính trị chống đối bị bắt dừng.

    Trước thu 1960, giới trí thức Nam Việt Nam bị câm về chính trị, công đoàn bị bất lực, chống đối ở dạng đảng phái không tồn tại ("The Pentagon Papers", Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960").

    Chính quyền Ngô Đình Diệm phân biệt đối xử tôn giáo. Là người theo Công giáo, Ngô Đình Diệm ưu tiên đặc quyền đặc lợi, tin dùng và nâng đỡ những người Công giáo. Vì chính sách bất công đối với những tín đồ theo đạo Phật của chính quyền dẫn đến cuộc khủng hoảng xã hội trầm trọng từ giữa năm 1963 và kết quả là cuộc đảo chính lật đổ gia đình họ Ngô.

    Xung đột giữa chính quyền và Phật tử bắt đầu xảy ra ngày 8/5/1963, xuất phát từ việc cấm treo cờ Phật trong ngày lễ Phật đản trong khi trước đó cờ Va-ti-căng được treo nhân dịp ngày lễ của Thiên Chúa giáo, quân lính Ngô Đình Diệm đã nổ súng vào đám đông biểu tình tại Huế, giết chết 9 người.

    Ngày 3/6/1963 cảnh sát và quân đội VNCH dội chất hóa học lên đầu những người biểu tình niệm Phật tại Huế, 67 người được đưa vào viện. 11/6/1963 Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để phản đối chính sách của chế độ Ngô Đình Diệm. Ngày 21/8/1963 Lực lượng đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung tấn công một loạt các chùa ở Nam Việt Nam, 1400 sư sãi bị bắt. Số người bị giết hoặc mất tích lên đến hàng trăm.

    Từ năm 1965, chiến tranh leo thang ác liệt. Chiến tranh len lỏi vào từng ngõ ngách của đất nước Việt Nam. Bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân chiến tranh bất cứ khi nào. Tự do cá nhân là cái không thể tồn tại trong điều kiện đó. Một ví dụ về "tự do" trong chiến tranh là chiến dịch Phượng Hoàng.

    Chương trình Phượng Hoàng từ năm 1968 đến 1975 thường được gọi bằng cái tên "chiến dịch ám sát", bị chỉ trích là một ví dụ tiêu biểu của những hành động tàn bạo xâm phạm nhân quyền mà chính quyền VNCH và CIA đã tiến hành.

    Theo thống kê của Mỹ, trong những năm 1968-1972, 81.740 người được coi là Việt Cộng đã bị "vô hiệu hóa": 26.369 người bị giết, 33.358 bị bắt, 22.013 chiêu hồi ("Phoenix and the Birds of Prey – The CIA's secret campaign to Destroy Vietcong", Mark Moyer).

    Trong số nêu trên, không ai có thể khẳng định bao nhiêu người là Việt Cộng đích thực, bao nhiêu người là nạn nhân thường dân. Cơ sở để định đoạt một đối tượng có phải là Việt Cộng hay không rất thiếu cụ thể.

    Điều tệ hại của chương trình này là có thể giết hại người tình nghi không cần xét sử, và các hình thức tra tấn có hệ thống đối với những người bị tình nghi là Việt cộng.

    Nếu như chính quyền Mỹ coi mình đã đem dân chủ, tự do đến cho đất nước Việt Nam qua chế độ VNCH thì tiêu chuẩn dân chủ - tự do đó là quá thấp. Tôi không mong rằng trong tương lai sẽ lặp lại một chế độ dân chủ - tự do chỉ có vậy tại Việt Nam.

    Còn nhiều điều phải nói nếu bình luận về tự do và dân chủ của VNDCCH, nhưng mô hình chính trị - xã hội VNDCCH hoạt động đặc biệt hiệu quả trong thời kỳ chiến tranh. Khác với VNCH, xã hội chia rẽ nặng nề, chế độ VNDCCH đã tạo nên sự đoàn kết, sự đồng thuận của đa số người dân và tính kỷ luật của xã hội, thế nên nó có thể huy động mọi tài lực của Đất nước và sự hy sinh cao nhất của người dân cho mục tiêu rõ ràng.

    Trong chiến tranh người dân mong ước những điều đơn sơ nhất. Người ta mong Đất nước được độc lập, hòa bình, gia đình được yên ổn, không phải khắc khoải lo âu liệu ngày mai mình hoặc người thân có còn được sống hay không, mong cho Đất nước hết chiến tranh để có quyền mơ ước đến hạnh phúc, được no ấm hơn.

    Chẳng nhẽ những bộ não siêu việt của chính quyền Mỹ lại không hiểu lý luận sơ đẳng là khi nhu cầu cuộc sống cơ bản nhất của người người dân bản địa chưa được đáp ứng, thì khẩu hiệu tự do - dân chủ không thể là mồi câu hữu hiệu để có được sự cộng tác của người dân nơi đó? Thực ra vì sự thiếu hiểu biết về Việt Nam, họ đã phạm sai lầm, và từ những sai lầm ban đầu gây nên những sai lầm kế tiếp, người trước kéo người sau xuống vũng lầy ngày càng sâu hơn.

    Nhắc đến lịch sử không phải để coi lịch sử là liều thuốc trường sinh đối với bất kỳ ai, mà tôi muốn có một lời công bằng đối với những gì đất nước - dân tộc Việt Nam đã gánh chịu. Công bằng cho Đất nước bị tàn phá nặng nề, công bằng cho hàng triệu nạn nhân chiến tranh, thậm chí những người của thế hệ tương lai sẽ là nạn nhân của chất độc da cam, bom mìn còn sót lại của chiến tranh.

    Mỹ không thể dùng sức mạnh của siêu cường, bẻ cong lịch sử, biến những gì là tội lỗi thành công lao bảo vệ tự do - dân chủ tại Việt Nam. Sự can dự vào số phận Việt Nam của Mỹ đã không những không đem lại mà còn đi ngược lại những yêu cầu cơ bản của dân tộc Việt Nam: Độc lập, Thống nhất, Tự do, Hòa bình và Hạnh phúc.

    Một khi vấn đề chất độc da cam chưa được phía Mỹ giải quyết thỏa đáng thì nó vẫn sẽ là hòn đá tảng cản đường phát triển của mối quan hệ Việt - Mỹ. Nó còn tồn tại thì Mỹ cũng không thể cao giọng dạy người dân Việt Nam một cách hiệu quả về tự do và dân chủ.

    Lạc Văn 3/2010

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Mình thật sự muốn hiểu hơn về cuộc chiến. Nhiều ý kiến trái chiều và bài viết này tương đối gần với những gì mình hình dung. Mình muốn được nghe những lập luận của những người có quan điểm chống cộng phản biện bài viết này trên tinh thần gắn với các giai đoạn lịch sử chứ không phải những lập luận theo kiểu "giá như". Mình cũng hi vọng đươc đọc những phản biện đi thẳng vào việc bẻ gẫy được những lập luận của bài viết mặt đối mặt chứ không phải vòng vèo theo kiểu tả con voi giống như cái chổi xề của thầy bói mù.