Lạc Văn - Tính chính đáng của các bên trong cuộc chiến tại Việt Nam 1945-1975 (phần 1)

  • Bởi lacvan
    03/04/2010
    2 phản hồi

    Lạc Văn

    Cảm ơn tác giả Lạc Văn đã chia sẻ với Dân Luận bài viết này. Độc giả có thể gửi bài viết tới Dân Luận theo <em><a href="http://danluan.org/node/378">hướng dẫn ở đây</a></em>!

    Đã từ lâu tôi có tham vọng bình luận về tính chính đáng của các bên trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam 1945-1975, tuy những chuẩn mực để đánh giá cũng chỉ mang tính tương đối, nhưng vì đó là đề tài quá phức tạp nên đã đắn đo rất nhiều.

    Phức tạp xuất hiện ngay từ điều tưởng chừng đơn giản nhất như tên gọi nào là thích hợp. Tên thường dùng tại Việt Nam là "cuộc kháng chiến chống Pháp" và "cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước", trên thế giới là "chiến tranh Đông Dương 1" và "chiến tranh Đông Dương 2" hay vẫn được biết đến là "cuộc chiến tranh Việt Nam", hoặc như một số người Việt Nam chống cộng gọi đó là "cuộc chiến Quốc – Cộng". Mỗi cái tên đều mang hàm ý nhất định. Qua cái tên "cuộc kháng chiến chống Pháp" và "cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước" người ta khẳng định vai trò của mình là chống quân xâm lược ngoại bang như bao đời cha ông ta đã làm. Cái tên "chiến tranh Việt Nam" lại không chỉ ra vai trò chủ thể của Mỹ trong cuộc chiến đó. Điều này làm cho ta liên tưởng tới trường hợp người Mỹ thay đổi cách gọi ban đầu của quá trình phi-Mỹ hóa (de-Americanization) chiến tranh thành Việt Nam hóa (Vietnamization) chiến tranh. Người ta làm vậy vì cố tình làm nhẹ sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến. Còn những người gọi nó là "cuộc chiến Quốc – Cộng" thì coi mình như những người vì Quốc Gia, chống cộng để bảo vệ tự do.

    Sự phức tạp khi nhận xét về cuộc chiến tại Việt Nam cũng bởi có quá nhiều thông tin để tham khảo, nó liên quan đến nhiều bên, trong tình hình thế giới đặc biệt phức tạp và có quá nhiều sự kiện diễn ra trong quá trình dài, đặc biệt là tính nhiều mặt của mỗi sự việc v.v. ...

    Bản thân xác định thời điểm bắt đầu của cuộc chiến đó cũng mang tính quy ước. Mỹ coi sự kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra vào mùng 2 và 4 tháng 8 năm 1964 là thời điểm bắt đầu, nhưng sự kiện đó cũng chỉ là một mốc thời gian tất yếu phải xảy ra, và là kết quả của cả một quá trình. Nói vậy không chỉ vì có bao nhiêu phần trăm sự sắp đặt ở trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ, mà còn bởi sự tham dự quá sâu của Mỹ vào quyết định số phận của nước Việt Nam, đã làm thay đổi cục diện chính trị, quân sự ở Việt Nam trước thời điểm đó.

    Trước sự kiện Vịnh Bắc Bộ, tuy Mỹ chưa chính thức tham chiến tại Đông Dương, nhưng 16.732 quân Mỹ có mặt tại Việt Nam vào thời điểm tháng 10 năm 1963 dưới hình thức cố vấn quân sự ("The Pentagon Papers", Gravel Edition, Volume 2, Chapter 3, "Phased Withdrawal of U.S. Forces, 1962-1964," pp. 160-200.). Quân đội Mỹ đã tham gia một số nhiệm vụ bí mật chống lại VNDCCH, như OPLAN 34A. OPLAN 34A (Operation Plan - kế hoạch hành quân) được tổng thống Johnson chấp thuận vào tháng 1 năm 1964 với mục đích chống lại VNDCCH, đưa những đội thám báo phá hoại vào miền Bắc, đột kích một số cơ sở của VNDCCH được chọn lựa trước, bí mật thu thập thông tin bằng không quân và ném bom tại Lào, mở rộng do thám của hải quân Mỹ tại vịnh Bắc Bộ được biết dưới cái tên Desoto ("Chapter 4 – The Burden’s First Fanfare: American SIGINT Arrives in the Republic of Vietnam,1961-1964".).

    Vào năm 2001, nhà sử học của Cục an ninh quốc gia Mỹ (the National Security Agency) Robert J. Hanyok đã đăng bài "Skunks, Bogies, Silent Hounds, and the Flying Fish: The Gulf of Tonkin Mystery, 2-4 August 1964" trên tạp chí Cryptologic Quarterly của Cục an ninh quốc gia Mỹ NSA dựa trên những tài liệu tối mật, đưa ra chứng cớ là vào ngày 4/8/1964 không xảy ra việc Bắc Việt Nam tấn công các tàu chiến Mỹ trên Vịnh Bắc Bộ, mà NSA cố tình che đậy và bóp méo sự thật.

    Ngoài chứng cứ mà Hanyok đưa ra, có nhiều thông tin cho ta thấy là sự chuẩn bị cho hành động vũ trang quy mô chống VNDCCH của Mỹ bắt đầu từ trước sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Trước thời điểm cuối năm 1964, Nam Việt Nam gần với sụp đổ ("CIA and the Generals, Convert Support to Military Government in South Vietnam", Thomas L. Ahern, Jr.). Vào quý 3 của năm 1964, có sự đồng thuận trong chính quyền tổng thống Johnson trong đánh giá về việc công khai gây áp lực mạnh chống lại VNDCCH sắp tới có thể là cần thiết. Mục đích của việc gây áp lực đó là:

    1) Tác động đến quyết tâm và khả năng của VNDCCH để thuyết phục và ép lãnh đạo Hà Nội dừng việc ủng hộ và chỉ đạo chiến tranh tại Miền Nam.

    2) Khiến đàm phán trong thời điểm tương lai theo điều kiện của Mỹ sau khi Bắc Việt Nam bị thương tổn và phải nghe theo quyết định của Mỹ ("The Pentagon Papers", Gravel Edition, Volume 3, Chapter 2, 2, "Military Pressures Against North Vietnam, February 1964-January 1965," pp. 106-268.).

    Báo Washington Post ngày 14 tháng 6 năm 1971 có đăng bài "U.S. Planned Before Tonkin For War on North, Files Show", chỉ ra rằng Mỹ đã đặt kế hoạch chiến tranh trước sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Hai tháng trước sự kiện Vịnh Bắc Bộ, chính quyền Mỹ đã phái nhà ngoại giao Canada J. Blair Seaborn đi một chuyến công du bí mật đến Hà Nội để thông báo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng: "trong trường hợp chiến tranh leo thang, VNDCCH sẽ phải chịu sự tàn phá lớn nhất". Vào ngày 30 tháng 4 (1964) Ngoại trưởng Mỹ Rusk bay đi Ottawa gặp Seaborn để mang tin nhắn đến Hà Nội vào tháng 6, tin nhắn "cái gậy và củ cà rốt" với lời gợi ý hỗ trợ kinh tế đi cùng với sự đe dọa "tàn phá".

    Đó là kế hoạch 16 điểm cho "Ngày D", ám chỉ ngày được chọn sẽ tấn công bằng không quân vào Bắc Việt Nam. Kịch bản được đề nghị bao gồm tránh các cuộc họp báo cho đến "Ngày D" với lời tuyên bố của Tổng thống kêu gọi thông qua nghị quyết Nghị viện cho phép hành động chống Bắc Việt Nam.

    Hành động được đề nghị, bắt đầu từ "Ngày D", bao gồm rải mìn các cảng Bắc Việt Nam, đánh phá các cầu, doanh trại quân đội, sân bay quân sự và các mục tiêu khác tiến hành trước tiên bằng không quân Mỹ. Cùng lúc, trong „Ngày D”, Hoa Kỳ sẽ tổ chức họp báo và tuyên bố: mục đích không phải lật đổ chế độ Bắc Việt Nam hay phá hoại đất nước, mà là ngăn chặn những can dự của VNDCCH tại Miền Nam.

    Với Việt Nam, cuộc chiến tranh đó đã bắt đầu từ trước đó lâu rồi. Có thể coi thời điểm quân Pháp nã đại bác vào Đà Nẵng vào năm 1858 là điểm đầu của cuộc chiến liên tục của nước Việt Nam giữ và giành lại độc lập, tự chủ, thống nhất Đất nước. Tuy cuộc đấu tranh suốt hơn trăm năm đó có những hình thái khác nhau qua mỗi thời kỳ, giai đoạn, nhưng đó là một quá trình liên tục không thể tách rời.

    Đánh giá về cuộc chiến đó, người ta thường hay nhìn dưới lăng kính ý thức hệ hoặc ý thức hệ hóa cuộc chiến. Nhưng theo tôi, cuộc chiến xảy ra tại Việt Nam và quyết định số phận của nước Việt Nam thì cần phải đánh giá theo tiêu chuẩn quyền lợi và yêu cầu cơ bản nhất của dân tộc Việt Nam.

    Yêu cầu cơ bản nhất của dân tộc Việt Nam từ thủa cha ông ta dựng nước tới giờ, không thay đổi theo thời gian là: Độc lập – Tự chủ, Thống nhất Đất nước, Toàn vẹn lãnh thổ.

    Có những nhu cầu xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử mang tính thời đại của dân tộc ta như: Hạnh phúc, Tự do.

    Ngoài các tiêu chuẩn trên, tính Hợp pháp cũng là yếu tố cần tham khảo để đánh giá tính chính đáng của các bên.

    (Còn tiếp)

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Đề tài rất hay, tôi đang đón đọc phần hai. Mong rằng tác giả sẽ đưa ra những luận điểm sắc bén để tôi rõ hơn về vấn đề này.