Ngô Minh Trí - Cuộc đua quyền lực mềm Mỹ - Trung

  • Bởi Admin
    15/03/2010
    2 phản hồi

    Ngô Minh Trí

    fulbright-vn-20092.jpg
    Fulbright Việt Nam - một trong các chương trình của Harvard Kennedy (ảnh: website Fulbright Việt Nam)

    Học viện Khổng Tử và trường chính sách công Harvard Kennedy là một phần quan trọng trong cuộc đua quyền lực mềm giữa Trung Quốc và Mỹ.

    Gần đây, sự phát triển nhanh chóng về số lượng của học viện Khổng Tử trên khắp thế giới như biểu trưng cho sự vươn lên của Trung Quốc. Đó cũng là một phương tiện quan trọng để nước này gia tăng sức mạnh mềm nhằm tìm kiếm vị thế siêu cường của mình. Bên kia Thái Bình Dương, Mỹ bao năm qua vẫn không ngừng gầy dựng và phát triển ảnh hưởng của trường chính sách công Harvard Kennedy trên toàn thế giới.

    Một bên là trường chính sách công Harvard Kennedy với “khoa học chính sách” được hỗ trợ bằng “nền tảng dân chủ”. Một bên là học viện Khổng Tử của một Trung Quốc trỗi dậy “phát triển hài hòa” từ sức mạnh tiềm tàng bao năm. Cả hai trở thành một phần quan trọng trong cuộc đua quyền lực mềm Mỹ – Trung.

    Khổng giáo thời Trung Quốc trỗi dậy

    Sau những nỗ lực không ngừng để phát triển, ngày nay, Trung Quốc đang ra sức thể hiện sự hùng cường về kinh tế, gia tăng hiện đại hóa lực lượng vũ trang, đẩy mạnh ảnh hưởng với các quốc gia trên thế giới. Thế nhưng, để có thể tiến lên trở thành một siêu cường mạnh mẽ hơn nữa, chắc chắn Trung Quốc cần đến những phương tiện gia tăng quyền lực mềm. Sự ra đời của học viện Khổng Tử không nằm ngoài mục đích đó.

    Ngày trước, Khổng Tử từng mong muốn tư tưởng của ông trở thành nền tảng tư tưởng chính trị, nhưng không thành. Rồi Khổng giáo gặp phải họa “đốt sách diệt Nho” thời Tần Thủy Hoàng. Đến thời Hán Vũ Đế, Khổng giáo mới chính thức trở thành hệ tư tưởng cốt yếu để dễ bề thuần phục bá tánh. Nhưng, Khổng giáo lại một phen chìm nổi trong giai đoạn Cách mạng Văn hóa, mộ của Khổng Tử đã bị các tiểu hồng vệ binh san phẳng. Cho nên, khi Khổng giáo trở thành một biểu trưng cho Trung Quốc thời trỗi dậy thì xem như Khổng giáo sau bao cơn bĩ cực đã đến hồi thái lai.

    Mô hình học viện Khổng Tử tuy không mới, bởi nó tương tự như các cơ sở Hội đồng Anh hay học viện Alliance của Pháp. Nhưng học viện Khổng Tử vẫn rất cần thiết cho Trung Quốc khi giới thiệu và quảng bá Hán ngữ, bản sắc văn hóa Trung Quốc như một nền văn hóa lâu đời. Hơn nữa, học viện Khổng Tử còn có thể chuyển tải “thiện ý” về một Trung Quốc “phát triển hài hòa” như học thuyết của ông Hồ Cẩm Đào.

    Tháng 6.2004, Trung Quốc thử nghiệm mô hình học viện Khổng Tử tại Tashkent, thủ đô Uzbekistan. Đến ngày 21.11.2004, Trung Quốc chính thức khai trương học viện Khổng Tử đầu tiên tại Seoul, Hàn Quốc. Đến cuối năm 2008, trên toàn thế giới có 250 học viện Khổng Tử, dù mục tiêu ban đầu chỉ là 100, theo Tân Hoa xã.

    Cũng theo Tân Hoa xã, tính tới tháng 11.2009, Trung Quốc có cả thảy 282 học viện Khổng Tử và khoảng 272 lớp dạy Hán ngữ ở 88 quốc gia và vùng lãnh thổ tại 5 châu lục. Theo kế hoạch đến năm 2010, Trung Quốc sẽ mở tổng cộng 500 học viện Khổng Tử, và đến năm 2020 con số đó sẽ là 1.000. Trong khi đó, Hội đồng Anh mất 70 năm để có 233 chi nhánh tại 107 quốc gia, Alliance mất gần 130 năm mới có 1.033 chi nhánh tại 133 quốc gia… Có thế mới thấy số lượng học viện Khổng Tử đã tăng nhanh như thế nào. Tại nhiều quốc gia, học viện Khổng Tử xuất hiện đông đảo. Các nước như Úc, Canada, Đức, Nhật, Nga, Hàn Quốc, Thái Lan, Anh đều có từ 5 đến 10 học viện Khổng Tử. Đặc biệt có đến gần 50 học viện Khổng Tử tại Mỹ.

    Tuy với số lượng chi nhánh lớn như thế nhưng số lượng người theo học tiếng Hoa tại các học viện Khổng Tử vẫn còn khá khiêm tốn. Bà Hứa Lâm – Tổng thư ký Tổng bộ Học viện Khổng Tử, phát biểu với hãng tin Reuters rằng so với tiếng Anh, Pháp hay Tây Ban Nha thì tiếng Hoa vẫn còn nhiều thua thiệt. Tại Mỹ, tuy có gần 50 học viện Khổng Tử, nhưng số lượng sinh viên học tiếng Hoa vẫn còn thua xa tiếng La-tinh. Cũng theo bà Hứa Lâm, số người học thực tế còn khá ít so với số người mong muốn học tiếng Hoa. Nguyên nhân của tình trạng trên được bà lý giải là vì các học viện Khổng Tử đang bị thiếu hụt trầm trọng giáo viên lẫn phương tiện giảng dạy.

    Ngoài ra, hình ảnh một Trung Quốc “hài hòa” mà học viện Khổng Tử gánh vác sứ mệnh xây dựng vẫn chưa cho thấy được hiệu quả, ngược lại, cảm nhận của thế giới về sự trỗi dậy của Trung Quốc có phần xấu đi. Theo kết quả của một số khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tại các nước Âu châu, cũng như tại Úc, đa phần người dân tại các khu vực này xem sự trỗi dậy của Trung Quốc là một nguy cơ đe dọa. Trung Quốc càng phát triển, những kết quả khảo sát lại càng tiêu cực.

    Như vậy, sự gia tăng về số lượng học viện Khổng Tử dường như chưa đồng bộ với chất lượng mà Trung Quốc mong muốn, do đó kỳ vọng vào một quyền lực mềm dựa vào học viện Khổng Tử xem ra vẫn còn xa.

    “Vũ khí” của người Mỹ

    Ngày trước, chính sách New Deal của Tổng thống Franklin D.Roosevelt đã giúp Mỹ vượt qua cuộc Đại suy thoái, để trỗi dậy trở thành siêu cường. Kể từ New Deal, người Mỹ bắt đầu hình thành một chuyên ngành mang tên “khoa học chính sách”. Chuyên ngành này sử dụng các lý thuyết kinh tế học, nghiên cứu xã hội học để hoạch định chính sách phát triển.

    Hai chủ điểm của “khoa học chính sách” là kinh tế thị trường và thể chế điều hành. Cả hai đều là những giá trị mà người Mỹ cho kết quả có được từ dân chủ. Tất cả các đời tổng thống Mỹ đều đề cập việc “phổ biến dân chủ” như cách để người Mỹ gia tăng ảnh hưởng, tăng cường quyền lực mềm. Tổng thống đương nhiệm Barack Obama, trong cuốn Hy vọng táo bạo, cũng nói rằng Mỹ muốn giữ vững vị trí của mình thì phải không ngừng phổ biến dân chủ. Cho nên, khi môn khoa học chính sách phát triển, ảnh hưởng mạnh mẽ, thì vô hình trung, những lý luận về dân chủ của Mỹ cũng được quảng bá rộng rãi.

    Năm 1936, tiền thân của trường Harvard Kennedy ra đời mang tên The Graduate School of Public Administration (GSPA). Đến năm 1966, ngôi trường ấy đổi tên thành Trường đào tạo chính sách công Kennedy nhằm vinh danh cố Tổng thống J.F.Kennedy, người cổ súy rất nhiều cho thuyết Domino và nêu cao ý thức hệ dân chủ tư bản. Từ đó đến nay, trường chính sách công Harvard Kennedy không ngừng phát triển và tạo những ảnh hưởng khắp thế giới.

    Khi Chiến tranh lạnh ngày càng căng thẳng, Mỹ không ngừng cung cấp học bổng cho người nước ngoài. Các học bổng thường tập trung vào các trí thức, các nhà quản lý, những người làm việc cho các cơ quan nhà nước, phóng viên… từ các nước trên thế giới. Đó là những người có ảnh hưởng đáng kể trong xã hội. Các học bổng khá linh hoạt: từ ngắn hạn đến dài hạn, tổ chức cả trong và ngoài nước Mỹ. Hiện nay, trường Harvard Kennedy có 15 trung tâm và hàng chục chương trình để tổ chức giao lưu, giảng dạy về các giá trị dân chủ, quan điểm thực thi chính sách… Song hành cùng việc phát triển các chương trình đào tạo giao lưu, trường Kennedy còn đẩy mạnh quảng bá các học thuyết, nghiên cứu của các học giả trường này. Và nay, các học thuyết, nghiên cứu ấy đang tràn ngập các quốc gia như: Quyền lực mềm của Joseph Nye, Các vấn đề phát triển kinh tế Đông Á của Dwight Perkin, học thuyết Sự va chạm giữa các nền văn minh của Samuel Huntington…

    Rất nhiều chính trị gia thế giới đã tham gia các khóa đào tạo của trường Harvard Kennedy. Nổi bật có ông Lý Quang Diệu, Lý Hiển Long của Singapore, Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon, Tổng thống Mexico Felipe Calderon Hinojosa, cựu Tổng thống Ecuador Jamil Mahuad… cùng nhiều chính trị gia khác. Đó là chưa kể đến hàng chục nghìn người được nghe các hội thảo về dân chủ do trường Kennedy tổ chức khắp nơi trên thế giới. Nhờ đó, Mỹ đã tạo ra một sức mạnh mềm đầy mạnh mẽ.

    Nhưng có một điều mà có lẽ chẳng bao giờ Mỹ nói đến, đó là không ít các kinh tế gia hàng đầu của nước Mỹ đã cho rằng những quan điểm chính trị nhiều lúc hầu như bỏ qua các chuẩn tắc của kinh tế học, xã hội học. Kinh tế học, xã hội học chỉ là bề nổi của một chính sách bất kỳ. Bởi bên trong mỗi chính sách còn ẩn chứa cả những góc nhìn, quan điểm về xã hội, về sự phát triển. Phần bên trong ấy chính là thiên kiến chính trị. Điển hình như nhà kinh tế học lừng danh Paul Samuelson đã từ chối tham gia ban cố vấn về kinh tế giúp Tổng thống John Kennedy hoạch định chính sách. Ông cho rằng khi hoạch định chính sách, các lý luận kinh tế của ông sẽ phụ thuộc vào thiên kiến chính trị và ông sẽ không được nói theo điều mình muốn nói.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Mặc kệ Mỹ - Trung, hãy là chính mình. Đi trên con đường mà lịch sử đã lựa chọn, tiếp tục đặt nền móng cho những đoạn đường tiếp theo nhằm tiến đến mục địch cuối cùng mà dân tộc đã đặt ra và đang phấn đấu. Nhà nước nào cũng có ưu điểm và khuyết điểm. Thời giai đôi co tranh luận thất là phí! Hãy cùng nhau xây dựng đất nước trên mọi lĩnh vực!

    Trung Quốc thì họ có thể phô trương "sức mạnh cứng" để uy hiếp những kẻ yếu vía và đớn hèn thì có,chứ một đất nước CS độc tài với dân chúng,phá hoại môi trường thế giới một cách kinh khiếp,và cứ ôm mộng bành trướng xâm lược nước khác ... thì có hàng bao nhiêu học viện Khổng tử thì thế giới càng biết đến TQ với một sự ghê sợ chứ đừng mong có sức mạnh mềm mà so sánh với Mỹ.