Thu Hiền - Freakonomics của hai tác giả Steven Levitt và Stephen Dubner

  • Bởi Khách
    20/02/2010
    0 phản hồi

    Thử tưởng tượng bạn mở một trường giữ trẻ, hàng ngày đúng 4h là ba mẹ phải đến trường đón con về. Lâu lâu cũng có ba mẹ bận việc đến đón con trễ khoảng 15p. Cũng bực mình lắm chứ, vì mình phải ở lại, đợi đến khi bé đó có người đón rồi mới đóng cửa trường đi về được.

    Giải pháp đơn giản nhất mà nhà kinh tế học nào cũng có thể chỉ ra cho bạn đó là bắt đóng tiền phạt. Cứ đón con trễ 15p là vị ba mẹ đó bị phạt $3 (tiền giữ trẻ hàng tuần khoảng $380). Sau một tuần thực thi biện pháp đó, bạn nhận thấy số vị phụ huynh đón con trễ ko những ko giảm đi, mà còn tăng lên gấp đôi! Nghĩa là hình phạt đó đã vô hiệu.

    Incentive” Hiền dịch là động cơ là một từ Hiền đã nhắc đến trong quyển Superfreakonomics review lần trước. Economics – kinh tế học, về mặt bản chất là ngành chuyên nghiên cứu về động cơ: cách con người lấy được những gì họ muốn, hay cần, đặc biệt là khi những người khác cũng cần cái y chang như vậy. Nhà kinh tế học rất yêu thích động cơ, họ nghĩ ra chúng, họ áp dụng chúng, nghiên cứu chúng và thích thú thay đổi chúng từ từ để quan sát sự thay đổi ở hành vi con người. Một nhà kinh tế học tiêu biểu sẽ tin rằng trên thế giới này, chưa có vấn đề nào mà ông ko giải quyết được, miễn là ông được tự do thiết kế một mô hình động cơ phù hợp. Động cơ được ví như là viên đạn, đòn bẩy, hay chìa khóa: một vật nhỏ xíu nhưng có quyền lực vô vàn trong khả năng thay đổi tình huống qua việc thay đổi hành vi con người.

    Vì vậy, hình phạt $3 đó là một động cơ, được đưa ra với mục đích làm cho phụ huynh ko đón con trễ nữa.

    Có 3 đặc tính chính của động cơ: kinh tế, xã hội và đạo đức. Thông thường, một động cơ nào đó sẽ bao gồm cả 3 yếu tố này. Ví dụ như các chiến dịch chống hút thuốc gần đây... tiền thuế $3 lên mỗi bao thuốc lá là một động cơ kinh tế hữu hiệu ngăn ngừa việc mua thuốc lá. Việc cấm hút thuốc trong nhà hàng và quán bar là một động cơ xã hội mạnh mẽ. Và khi chính phủ Mỹ khẳng định rằng nhóm khủng bố quyên tiền bằng cách bán thuốc lá chợ đen, họ đã tạo ra một động cơ đạo đức đáng kể.

    Vậy thì tại sao động cơ mình thử nghiệm ở nhà giữ trẻ lại ko thành công? Mình có thể đoán ngay là tại vì số tiền phạt $3 đó quá nhỏ so với số tiền chính $380 phải trả hàng tuần. Nếu mình tăng tiền phạt lên $100 thì sao? Chắc chắn sẽ ko còn ai dám đón con muộn nữa, nhưng mà nó cũng có thể gây ra hậu quả khó lường, ví dụ ba mẹ đón con trễ sẽ dặn con ra ngoài đứng trước thay vì ở trong trường, gây nguy hiểm cho trẻ nè. Mọi động cơ về mặt bản chất đều là sự trao đổi – tradeoff, cái khó là làm sao cân bằng hai thái cực.

    Thật ra còn một vấn đề khác về vụ nhà giữ trẻ đó nữa. Bằng cách đóng tiền phạt, động cơ kinh tế (tiền phạt $3) đã thay thế cho động cơ đạo đức (sự tội lỗi mà phụ huynh đáng lý phải cảm nhận khi họ đón con trễ). Nói cách khác, nay họ đã có thể dùng $3 đó để mua đứt sự tội lỗi của mình. Hơn nữa, $3 nhỏ nhoi làm cho họ nghĩ rằng chuyện đón con trễ ko có gì là ghê gớm cả, bởi vậy cứ từ từ shopping hay chơi tennis. Và bởi vậy, thậm chí khi người ta quyết định ngưng chuyện đóng tiền phạt lại, số phụ huynh đón con trễ vẫn ko hề giảm, vì bây giờ họ đã nghĩ rằng chuyện đó là chuyện nhỏ rồi.

    Các nhà khoa học cũng đã thử nghiệm tương tự so sánh động cơ đạo đức và động cơ kinh tế sau hành động hiến máu. Họ thấy rằng khi cho người hiến máu một số tiền nhỏ thay vì chỉ khen ngợi họ như trước kia, người ta thật ra lại hiến máu ít hơn. Số tiền nhỏ đó đã biến một hành động từ thiện cao cả thành một cách kiếm tiền ít ỏi đầy đau đớn, nên họ thấy ko đáng để hiến máu nữa. Ngược lại, nếu cho nhiều tiền quá sẽ dẫn đến việc ăn cắp máu để “bán”, hoặc lấy máu heo để giả, hoặc cho máu nhiều hơn mức quy định bằng cách dùng giấy tờ người khác.

    Ví dụ trên cho ta thấy quyền năng to lớn của động cơ, nhưng giờ thử nhìn nó với một góc nhìn khác. Bạn kể tình hình ở trường giữ trẻ của bạn cho bạn bè nghe, ai đó buông ra một câu “vậy phạt đi .. ai đón trễ thì bị phạt”. Bạn gật gù “uh hen .. phạt $10 thì hơi cao quá, thấy kỳ kỳ, trễ 15p thôi mà, phạt vậy mất công mất lòng phụ huynh, $3 là vừa phải rồi”. Bạn nghĩ rằng bạn đã ra một quyết định đúng, vì quyết định đó đơn giản, tiện lợi và nhẹ nhàng. Nhưng rõ ràng là nó không “đúng”, vì ko giải quyết được vấn đề bạn muốn giải quyết.

    The conventional wisdom – sự thật thông thường đôi khi ko phải là chân lý. Con người thường có khuynh hướng liên tưởng chân lý với sự tiện lợi, với những gì gần gũi nhất với sự hiểu biết của chính họ. Chúng ta cũng rất dễ dàng chấp nhận những gì có tác động tích cực đến lòng tự tôn của mình (ví dụ, ai khen Hiền đẹp thì Hiền tin là sự thật, còn ai nói ngược lại thì Hiền nghĩ là tại lúc đó Hiền chưa kịp trang điểm :D ). Túm lại, cái sự thật, cái conventional wisdom đó, cái mà ai trước giờ cũng nghĩ là đúng đó, chưa chắc là sự thật, và có thể chỉ cần nhìn kỹ hơn vào hiện tượng thì mình sẽ thấy sự khác biệt.

    Vai trò của giới học thuật, những Ph.D nghiên cứu như Hiền nhiều lúc đơn giản chỉ là nhìn vào những cái conventional wisdom đó, nghiên cứu nó và xem xét coi nó có phải đúng như người thường nghĩ hay ko. Nếu hên thì mình sẽ chứng mình được rằng “nhìn vậy mà ko phải vậy”, nhưng cũng có lúc sau một hồi chứng minh dông dài, mình ko thể phủ nhận được nó thì mình đành phải chấp nhận, để rồi “vậy mà cũng nói, ai chẳng biết, huề vốn ko hà”. Ví dụ như trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, dân chúng, rồi báo chí, thậm chí Obama cũng cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng này là do các CEOs được trả lương quá cao nhưng ko làm đúng chức trách của mình, họ đầu tư vào những dự án có quá nhiều rủi ro nhằm sinh lợi nhanh mà ko nghĩ đến nghĩa vụ của họ là đảm bảo tài sản cho cổ đông .. blablabla .. ai cũng nghĩ như vậy, ai cũng la lối ầm ĩ .. mà ko ầm ĩ sao được khi mà mấy công ty lớn vừa nhận được tiền bail-out của chính phủ là quay ra trả lương, thưởng ngập mặt cho CEOs của họ. Giới học thuật ko nói ko rằng, quay ra nghiên cứu xem có đúng như vậy hay ko, và cả năm trôi qua rồi, nhưng câu trả lời thật sự cho cái conventional wisdom kia vẫn còn bỏ ngỏ.

    Một conventional wisdom khác mà nhiều người hay lầm tưởng đó là nghệ thuật dạy con cái. Nhiều bậc cha mẹ cho rằng việc nuôi dưỡng, dạy dỗ con của mình có vai trò rất lớn trong sự phát triển, cho số phận của chúng. Đĩa nhạc Baby Mozart nè, rồi những chuyến đi thăm viện bảo tàng, rồi sở thú, rồi những bài học piano, học tiếng Anh, tiếng Pháp nè .. việc âu yếm, khuyến khích, khen ngợi con, hay làm thế nào để tranh luận với con, phạt con cho con hiểu nè .. tất cả những điều đó tạo nên nghệ thuật dạy con cái.

    Tuy nhiên, một nghiên cứu theo dõi 245 đứa trẻ được nhận làm con nuôi cho thấy rằng hầu như ko có sự liên quan nào giữa tính cách của chúng với tính cách ba mẹ nuôi cả. Một nghiên cứu khác thì cho thấy đặc tính của trẻ ko ảnh hưởng đến việc đứa trẻ đó có được đi nhà trẻ hay ko, có cả cha lẫn mẹ hay chỉ có mẹ, hay mẹ đi làm hay ở nhà. Nhà nghiên cứu Judith Rich Harris thậm chí còn cho rằng cha mẹ thật ra ko có ảnh hưởng gì lớn đến nhân cách của trẻ, mà chính là ảnh hưởng của bạn đồng lứa mà trẻ gặp gỡ hằng ngày đã tạo lên trẻ.

    Câu hỏi “cha mẹ ảnh hưởng đến trẻ” như thế nào là câu hỏi hay, nhưng lại cực kỳ phức tạp. Để đánh giá tầm ảnh hưởng của ba mẹ, chúng ta nên nhìn vào đặc tính nào của con đây? Tính cách? Điểm học trong trường? Hành vi đạo đức? Khả năng sáng tạo? Lương con sau này lớn lên đi làm? Rồi mình phải cân nhắc vai trò của những yếu tố khác thế nào đây: gen di truyền, môi trường gia đình, rồi mức độ kinh tế xã hội, trường học, may mắn, bệnh tật .. v.v..

    Thay vì giả thiết về vai trò của ba mẹ, ta thử nhìn vào những dữ liệu có được. Dễ nhất là nhìn vào kết quả học hành ..

    8 yếu tố sau liên quan trực tiếp đến điểm thi của trẻ

    - Cha mẹ học cao (vì cha mẹ có IQ cao, nên di truyền cho con, hơn nữa, họ cũng coi trọng chuyện học hành hơn –> con học giỏi như cha mẹ)

    - Cha mẹ có vị trí cao trong xã hội (thể hiện sự thành công – IQ cao và giáo dục cao –> con dễ thành công hơn)

    - Mẹ sinh con đầu tiên vào lúc 30 tuổi hoặc trễ hơn (người mẹ này thường là người vì muốn học cao hơn, hoặc có nghề nghiệp ổn định hơn nên mới có con trễ –> con giỏi hơn)

    - Trẻ sinh ra nhẹ cân (vì bị sinh sớm nên ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, hơn nữa, trẻ sinh ra nhẹ cân là do mẹ lúc mang bầu ko biết cách bảo vệ trẻ, uống rượu, hút thuốc chẳng hạn, nên lúc trẻ sinh ra rồi cũng ko biết cách dạy dỗ –> trẻ học ko giỏi)

    - Cha mẹ ở nhà nói tiếng Anh (nghiên cứu so sánh với nhóm trẻ mà ba mẹ là Hispanics –> trẻ học giỏi hơn khi ba mẹ đều nói tiếng Anh ở nhà .. chắc ko áp dụng được ở VN)

    - Trẻ là con nuôi (vì trẻ bị ảnh hưởng bởi IQ của ba mẹ ruột nhiều hơn, trong khi ba mẹ ruột thì thường có IQ thấp hơn nhiều so với ba mẹ nuôi – vì nghèo mới phải bỏ con –> trẻ ko học giỏi)

    - Ba mẹ tham gia vào hội phụ huynh ở trường (vì thể hiện cha mẹ quan tâm nhiều đến việc giáo dục –> con học giỏi hơn)

    - Nhà ở có nhiều sách (vì điều đó thể hiện trình độ văn hóa của ba mẹ)

    8 yếu tố sau hoàn toàn ko liên quan đến điểm thi của trẻ

    - Gia đình của trẻ còn nguyên (nghĩa là dù ba mẹ có li dị hay ko cũng ko ảnh hưởng)

    - Ba mẹ vừa mới chuyển nhà đến một khu tốt hơn.

    - Mẹ ở nhà chăm sóc trẻ từ lúc sinh ra đến lúc học mẫu giáo

    - Trẻ tham gia chương trình Head Start (là chương trình học trước khi lên tiểu học, kiểu như mình học dự bị lớp 1 đó :P )

    - Trẻ thường hay bị đòn

    - Ba mẹ hay dẫn con đi viện bảo tàng

    - Trẻ thường hay xem ti vi

    - Ba mẹ đọc sách cho con nghe hàng ngày

    Nhìn lại các yếu tố trên, ta sẽ thấy rằng 8 yếu tố đầu tiên mô tả những gì của cha mẹ, trong khi 8 yếu tố sau mô tả những thứ cha mẹ làm. Vì vậy, những bậc cha mẹ có trình độ cao, thành công và khỏe mạnh thì thường có con học giỏi ở trường, nhưng việc cho trẻ đi chơi bảo tàng, đánh mắng trẻ, cho đi học lớp 1 dự bị hay cho ngồi xem ti vi lại chẳng ảnh hưởng đến trẻ.

    Nói vậy ko có nghĩa là nói rằng cha mẹ ko ảnh hưởng gì cả. Họ ảnh hưởng nhiều lắm, nhưng vấn đề là khi họ cầm quyển sách làm cha mẹ lên để học thì đã quá trễ rồi. Những thứ ảnh hưởng lớn đến trẻ được quyết định từ xưa – từ lúc bạn là người như thế nào, bạn lấy ai, và bạn sống cuộc sống như thế nào (bởi vậy Hiền nghĩ .. ai nghĩ rằng, vì mình sắp có con nên mình sẽ thay đổi, sống tốt hơn để dạy được con, thật ra sẽ ko đạt được kết quả như mình nghĩ). Bạn làm cha mẹ như thế nào ko quan trọng bằng việc bạn là ai. Viết đến đây tự thấy bài post Hiền viết “Khi mẹ nghĩ con ko để ý” trong phần “Sưu tầm” trở nên liên quan kinh khủng.

    Giờ đọc lại, Hiền khuyên là mọi người nên đọc quyển Freakonomics này trước khi đọc quyển Superfreakonomics để quen với lối lập luận của tác giả. Quyển Freakonomics tập trung vào những vấn đề nhỏ và quen thuộc quanh ta, trong khi quyển Superfreakonomics thì lại giới thiệu nhiều đến những vấn đề mang tính thời sự hơn.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi