Nguyễn Gia Kiểng - Chúc Tết đồng bào

  • Bởi Admin
    12/02/2010
    3 phản hồi

    Nguyễn Gia Kiểng

    “…sau cuộc đấu tranh này chúng ta sẽ đi vào giai đoạn lịch sử thực sự mới, giai đoạn lịch sử thứ hai, giai đoạn đoạn của tự do, của đất nước Việt Nam tự do và những con người Việt Nam tự do, được kính trọng và thực sự làm chủ đất nước…”

    Nhân dịp năm mới, tôi xin chúc toàn thể đồng bào trong và ngoài nước một năm Canh Dần an khang, hạnh phúc trong một nước Việt Nam tự do hơn, dân chủ hơn, tươi đẹp hơn và giàu mạnh hơn.

    Đó là một lời chúc rất thành thực và lễ phép. Nhưng tôi chợt thấy phải có ngay một lời trần tình. Có thể nhiều người được chúc sẽ nổi giận: "Anh là cái thớ gì mà chúc đồng bào? Bộ anh mắc bệnh điên tưởng mình là tổng thống, tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng hả? Anh lố bịch vừa vừa thôi chứ!" Điều đáng buồn cho chúng ta chính là ở chỗ có nhiều người, không chừng là đa số, sẽ phản ứng như vậy. Nhưng chúc Tết có gì là cao ngạo? Anh em, bè bạn chúc Tết nhau, con cháu chúc Tết ông bà, cha mẹ chỉ là bổn phận và lễ giáo truyền thống của dân tộc. Vấn đề là chúng ta chỉ chúc những người thân quen hoặc những người phải chúc, và đồng bào là khối người chúng ta không quen và cũng không có bổn phận phải chúc. Phải chăng thái độ đúng đắn là phải coi đồng bào mình như người xa lạ? Có thể còn có một lý do khác: chúng ta không quen chúc lành cho đồng bào và đất nước là vì trong thâm tâm chúng ta không có ý định đó. Cho tới nay chỉ có những người cầm quyền mới được coi là có danh nghĩa và thẩm quyền để chúc Tết đồng bào và đất nước. Nhưng những người này không chúc thực lòng, họ chúc Tết đồng bào chỉ vì ở địa vị họ không lẽ không chúc. Họ chúc chiếu lệ, qua loa, giả dối. Điều họ thực sự mong muốn là được cầm quyền dài dài, còn tương lai đất nước và đồng bào ra sao là điều không quan trọng, nếu khá thì càng hay, nếu không thì cũng không sao, điều quan trọng là họ vẫn thống trị. Họ ở địa vị "được quyền chúc Tết đồng bào" chỉ vì họ có bạo lực, và bạo lực này họ dùng để đàn áp những đồng bào không chấp nhận để họ đè đầu đè cổ. Thực ra họ còn không có tư cách bằng một người Việt Nam bình thường để chúc lành cho đồng bào và đất nước. Và đất nước như ngày hôm nay – nghĩa là bị chà đạp và bóc lột - chủ yếu vì chúng ta, trong thâm tâm mỗi người, không chúc lành cho đồng bào và đất nước mình.

    Tôi xin đánh cuộc một điều. Có một việc nhỏ và rất dễ làm, bất cứ ai cũng làm được, và nếu mọi người đều làm thì đất nước sẽ khá lên ngay. Đó là trong mỗi dịp đầu năm, hay trong mỗi dịp mà mình thấy có thể được, mỗi người bỏ ra một số tiền nhỏ (nếu nghèo thì rủ nhau chung tiền) đăng báo chúc đồng bào hạnh phúc hơn, đất nước tự do và giàu mạnh hơn. Chắc chắn mọi tờ báo đều sẽ hoan nghênh.

    Sau lời giải thích dài dòng này, tôi lại xin có một lời thú nhận. Đó là thực ra lúc đầu tôi chỉ có ý định chúc riêng một số người, rồi thình lình nhận ra cái ngu của mình và tự hỏi tại sao lại phân biệt đối xử, tại sao lại chỉ chúc riêng những người này mà không chúc toàn thể đồng bào?

    * * *

    Những người đầu tiên mà tôi muốn gửi lời chúc là khối ba triệu đảng viên cộng sản.

    Không phải vì tôi có một cảm tình đặc biệt nào đối với họ, mà vì họ đang đứng trước một chọn lựa lớn cho đảng của họ, cho đất nước, và cho chính bản thân họ. Tôi chúc họ sức khoẻ, an khang, hạnh phúc. Nhưng tôi cũng chúc họ những điều họ đang rất cần: dũng cảm và sáng suốt. Họ đang ở thời điểm nghiêm trọng của giai đoạn chuẩn bị cho đại hội đảng lần thứ 11, một đại hội rất khác với tất cả mọi đại hội đảng trước đây. Nó đòi hỏi những thay đổi lớn về các định hướng trong một thế giới đang bị bắt buộc phải xét lại tất cả một cách triệt để. Quan trọng không kém, nó cũng là đại hội chuyển giao thế hệ toàn bộ, có thể nói là chuyển giao thời đại. Những người có ít nhiều công lao và vai trò trong cuộc chiến đưa đến thắng lợi của đảng cộng sản sẽ ra đi hết. Không còn ai ở lại, dù chỉ là để đứng trong hậu trường đỡ đầu cho những người cầm quyền. Các cấp lãnh đạo xuất phát từ đại hội 11, những người đã được biết đến từ lâu nhưng chưa hề chứng tỏ một nhân cách, một tầm nhìn hay một sự hiểu biết nào và cũng không có thành tích nào đáng nói, sẽ không thể có một sự chính đáng nào không những đối với nhân dân mà ngay cả trong nội bộ đảng. Họ sẽ không có một tư cách nào để lãnh đạo đất nước đã đành nhưng họ cũng sẽ không có ngay cả uy tín tối thiểu để giữ cho đảng khỏi tan vỡ thành những phe phái đấu đá lẫn nhau. Họ sẽ không thể nào duy trì được chế độ này. Hy vọng duy nhất của họ là tự cho mình sứ mạng của những con người cần có cho một cuộc chuyển hoá phải có về dân chủ. Nếu thực sự dám chọn lựa sứ mạng này thì họ có thể được ủng hộ mạnh mẽ và không những thoát hiểm mà còn giành được chỗ đứng vinh quang trong lòng dân tộc và trong lịch sử. Họ phải quyết định nội trong năm nay, sau đó sẽ quá trễ vì một quyết định duy trì chế độ toàn trị sẽ là một lời tuyên chiến với dân tộc, sau đó đảng cộng sản sẽ không thể hoà giải với nhân dân Việt Nam được nữa.

    Vào lúc này mọi dấu hiệu cho thấy là những người đang lãnh đạo đảng cộng sản từ chối mọi thay đổi. Họ kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất định giữ nguyên vai trò lãnh đạo độc quyền của đảng. Họ còn gia tăng đàn áp. Họ đang chọn con đường tự sát vì không thể nào duy trì chế độ độc tài toàn trị với những người lãnh đạo vừa mờ nhạt vừa không chính đáng.

    Đây là lúc khối ba triệu đảng viên cộng sản phải tự đặt cho mình những câu hỏi lớn và nghiêm trọng. Đất nước đã quá tụt hậu so với thế giới, chúng ta không có một công nghiệp tiên tiến nào mà chỉ có những hoạt động gia công quần áo, giày dép, đóng bao bì, nông phẩm, hải sản. Các trường đại học của ta xuống cấp và thua kém quá đáng, không chuẩn bị được cho thanh niên Việt Nam tranh đua với thế giới. Đảng cộng sản đang chuẩn bị cho đất nước chỗ đứng nào và tương lai nào? Môi trường của chúng ta đã bị tàn phá tới mức nước và không khí cũng không còn an toàn; rừng bị tàn phá hết ngoại trừ một vài khu đặc dụng cho nên hạn hán và lụt lội kế tiếp nhau. Tình trạng này có thể tiếp tục được không? Một thiểu số đang hàng ngày khoe khoang sự giàu có một cách xấc xược trong khi đại đa số nhân dân thiếu thốn, một phần đáng kể thiếu cả quần áo, thực phẩm và thuốc men. Tình trạng này có thể chấp nhận được không, nhất là khi người ta hiểu rằng phong trào cộng sản thế giới và các đảng cộng sản đã ra đời, đã đổ nhiều máu và làm đổ nhiều máu nhân danh công bằng xã hội? Như vậy thì chế độ này có lý do gì để phải kiên trì giữ nguyên? Phải chăng là để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải? Nhưng có bảo vệ thực không? Và sự thần phục Trung Quốc có lợi gì cho Việt Nam? Chúng ta học hỏi được gì ở Trung Quốc hơn là với các nước dân chủ phương Tây?

    Quan trọng hơn nữa họ phải tự hỏi trong suốt lịch sử của phong trào cộng sản thế giới đã có một đảng cộng sản nào thắng một cuộc bầu cử lương thiện nào chưa và đã có một chế độ cộng sản nào đem lại phồn vinh cho một dân tộc nào chưa? Như vậy thì chủ nghĩa Mác-Lênin có lý do gì để giữ lại? Vả lại còn ai thực sự tin ở chủ nghĩa này?

    Và Đảng Cộng Sản Việt Nam còn có công dụng gì? Ngày nay mọi người Việt Nam đều muốn dân chủ và đều biết là phải dân chủ hoá. Đại bộ phận đảng viên cộng sản cũng không khác. Tất cả mọi người cộng sản, kể cả các cấp lãnh đạo, trong thâm tâm đều biết rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là một sai lầm đẫm máu và cũng đều biết là phải thay đổi, thế nhưng đảng lại không dám thay đổi và vẫn chỉ biết nhắc lại một cách nhàm chán khẩu hiệu kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Bình thường thì tổ chức là môi trường của sự thay đổi, khiến người ta tự tin hơn, mạnh bạo hơn để thực hiện ý chí chung. Thực tế hiện nay là đảng cộng sản đã trở thành một chướng ngại cho những thay đổi mà mọi người đều thấy là cần thiết, nó khiến các đảng viên trở thành nhu nhược và sợ sệt, nó trói buộc mọi người trong sự bất lực và trong một tình trạng quái đản là mọi người đều nghĩ như nhau nhưng đều phải nói điều ngược lại. Vả lại nó có còn là một chính đảng đúng nghĩa nữa hay không hay chỉ còn là một giai cấp đặc quyền đặc lợi chống lại sự thay đổi để duy trì những quyền lợi bất chính?

    Nhưng duy trì được bao lâu? Không ai có thể nói là ý chí đấu tranh của dân tộc Việt Nam hiện đang rất mạnh. Có thể nói là nó rất yếu. Nhưng sự thực của muôn đời vẫn là không gì mạnh hơn một ý kiến đã chín muồi và cũng không một chế độ nào đi ngược với mong muốn của người dân mà có thể tồn tại, tất cả chỉ là một vấn đề thời gian. Thời gian này không thể dài trong thế giới toàn cầu hoá dồn dập thay đổi này. Có thể có những người nghĩ rằng chế độ dù có đổ cũng còn lâu, bằng chứng là nó đã kéo dài trong ba mươi lăm năm qua. Nhưng nếu có những trường hợp mà một bằng chứng đưa ra chỉ chứng minh điều ngược lại với điều người ta tưởng nó chứng minh thì chính là lúc này. Chế độ này phải thay đổi vì sự vô lý đã kéo dài quá lâu. Hiện tượng tức nước vỡ bờ có thể xảy tới một cách rất đột ngột.

    Và nếu giả thử chế độ cộng sản sụp đổ trong sự phẫn nộ của toàn dân thì cái gì sẽ xảy ra? Các cấp lãnh đạo cộng sản chắc là sẽ không gặp hiểm nguy nào. Sẽ chẳng làm gì có những vụ án chính trị và những trại tập trung cải tạo; chế độ dân chủ tương lai chỉ có thể là một chế độ hoà giải và hoà hợp dân tộc. Vả lại phần lớn các cấp lãnh đạo cộng sản đã có sẵn tài sản ở nước ngoài và cũng không thiếu những nước, như Trung Quốc chẳng hạn, sẵn sàng tiếp nhận họ để họ sống cuộc sống lưu vong nhung lụa. Nhưng đa số các đảng viên cộng sản sẽ phải tiếp tục sống tại Việt Nam, chịu đựng cái nhìn trách móc và rẻ rúng của nhân dân Việt Nam và với sự bẽ bàng trong chính lòng mình là đã làm công cụ cho một chính quyền cướp bóc. Trừ khi chính họ cũng là những tác nhân của cuộc chuyển hoá về dân chủ.

    Đa số đảng viên cộng sản cũng hiểu tính bắt buộc của cuộc chuyển hoá này và mong muốn nó diễn ra một cách nhanh chóng. Họ cần dũng cảm và sáng suốt. Dũng cảm để nói lên một cách thẳng thắn nguyện vọng của mình và để áp đặt sự thay đổi cần có. Trong lúc này nhút nhát là thái độ nguy hiểm nhất. Sáng suốt để hiểu phải hành động như thế nào để áp đặt sự thay đổi. Sai lầm to lớn nhất hiện nay của các đảng viên cộng sản (và của một số không nhỏ trí thức Việt Nam) là cho rằng có thể thay đổi bằng cách phục tùng guồng máy và thay đổi nó từ bên trong. Chọn lựa thực dụng này rất tiện nghi nhưng rất sai nếu ta chịu bỏ ra một chút thì giờ nghiên cứu và suy nghĩ. Thực tế là hoà nhập vào một guồng máy xấu người ta sẽ bị tiêu hoá trong guồng máy và đánh mất chính mình để rồi trở thành xấu chứ không thay đổi được nó. Khoa sinh vật học trình bày sự tiến hoá của các chủng loại, kể cả tiến hoá từ vượn lên người, như sau: trong một thiểu số tình cờ xuất hiện một sự thay đổi khác thường; có hai trường hợp xảy ra; một là thiểu số này hoà nhập với tập thể cũ và sự khác lạ nhỏ bé lúc ban đầu bị tan biến; hai là thiểu số này không hoà nhập với tập thể cũ, sự khác biệt được giữ nguyên và tiếp tục gia tăng, sau cùng một chủng loại mới thành hình, khác với chủng loại cũ. Điều kiện cốt lõi là thiểu số "đổi mới" phải tự cô lập để không hoà nhập với tập thể cũ, để giữ nguyên cái mới của mình. Nếu không mầm mống thay đổi sẽ bị triệt tiêu, và vượn vẫn là vượn chứ không thành người. Trong khoa học xã hội các nhà nghiên cứu cũng đều đồng ý là mọi thay đổi có chủ ý đều diễn ra theo một tiến trình tương tự: một thiểu số nhận ra sự bế tắc của tập thể mình và muốn khai thông. Họ khẳng định sự khác biệt đó, chấp nhận bị cô lập và cương quyết không chấp nhận luật chợi cũ, họ cũng ý thức được quán lực của guồng máy và kết hợp với nhau để có sức mạnh áp đặt sự thay đổi. Mặc dù thiện chí muốn cứu vãn tập thể họ có thể phải trả những giá rất đắt; họ có thể bị trù dập, bị khai trừ, bị trừng trị; nhưng họ cũng có thể ngày càng lôi kéo được đông đảo thành viên hưởng ứng đường lối của mình, cuối cùng đủ mạnh để thắng thế lực thủ cựu và áp đặt sự thay đổi.

    Đến đây cần nhấn mạnh một điều để tránh hiểu lầm. Khẳng định lập trường đổi mới và liên kết với nhau để có sức mạnh không nhất thiết là phải tách ra khỏi đảng để thành lập một tổ chức mới. Trái lại đấu tranh trong nội bộ tổ chức có hiệu quả hơn nhiều vì tiếng nói đổi mới được tiếp nhận như một tiếng nói thân thiện trong khi những tiếng nói từ bên ngoài hay của những người đã ly khai dễ bị coi như những tiếng nói thù địch. Việc trả thẻ đảng chỉ có ý nghĩa nếu nó có tác dụng tạo ra nơi một số đông đảo đảng viên ý thức về tình trạng bế tắc nghiêm trọng, như thế nó phải công khai và phải gây được tiếng vang; đằng nào thì nó cũng phải được coi như một giải pháp bất đắc dĩ. Những người muốn thay đổi trong nội bộ đảng cộng sản hiện nay rất đông đảo, có thể là đa số. Xin chúc họ dũng cảm để khẳng định lập trường và cũng xin chúc họ sáng suốt để đấu tranh đúng phương pháp, nghĩa là không nhượng bộ, khẳng định mạnh mẽ lập trường dân chủ và kết hợp với nhau để có sức mạnh.

    Và để tăng thêm quyết tâm của những người cộng sản muốn đổi mới về dân chủ, tôi mong họ tự đặt ra cho mình ít nhất hai câu hỏi trên hai vấn nạn của đất nước mà mọi người, kể cả các cấp lãnh đạo cộng sản, đều đã lên tiếng báo động.

    Một là, chúng ta đang tụt hậu một cách bi đát trong một thế giới đã dứt khoát bước vào kỷ nguyên tri thức trong đó ý kiến và sáng kiến là tất cả và sẽ quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc; nhưng ý kiến và sáng kiến có thể nào nảy sinh và phát triển trong một môi trường bưng bít và cấm đoán hay không? Tự hỏi như vậy họ sẽ nhận ra là ý kiến và sáng kiến là những yếu tố chỉ nảy sinh và phát triển nơi những con người tự do, trong một xã hội dân chủ.

    Hai là, trong lịch sử của mọi dân tộc đã bao giờ có trường hợp một chính quyền tham nhũng tự cải tiến để hết tham nhũng chưa? Chỉ cần quan sát họ sẽ thấy là không thể có và giải pháp duy nhất cho một chính quyền tham nhũng chỉ là thay thế nó bằng một chính quyền khác. (Đảng cộng sản vẫn có thể tiếp tục cầm quyền với điều kiện nó phải là một đảng hoàn toàn đổi mới về cả đường hướng lẫn lãnh đạo).

    * * *

    Lớp người thứ hai mà tôi muốn chúc là thành phần trí thức.

    Tôi định nói "thành phần trí thức dân chủ" nhưng rồi thôi, bởi vì ít ra tình hình cũng đã khả quan trên một điểm: mọi người trí thức đúng nghĩa hôm nay đều là những người dân chủ. Có những người chọn con đường hợp tác, có những người chọn thái độ đối lập trực diện, cũng có những người trùm chăn, nhưng trong thâm tâm họ đều là những người dân chủ. Tôi cũng chúc họ dũng cảm và sáng suốt như khối ba triệu đảng viên cộng sản nhưng một cách hơi khác. Có lẽ họ không cần chấp nhận nhiều thử thách và mất mát để khẳng định lập trường dân chủ của mình như những người đấu tranh dân chủ hoá trong nội bộ đảng cộng sản nhưng họ cần một sự dũng cảm khác. Đó là đừng quá trông đợi ở những áp lực từ bên ngoài, dù là các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền hay dư luận thế giới. Đó là dám tin tưởng rằng Việt Nam sẽ có dân chủ và dân chủ sẽ đến chủ yếu do sự phấn đấu của chính người Việt Nam. Đó là đừng quên rằng dân chủ và tự do là những giá trị quá quí báu để có thể tự nhiên mà tới hay được ban phát, mọi dân tộc đều phải đấu tranh cam go để có tự do và dân chủ, và cuối cùng thì mọi dân tộc đều xứng đáng với chính quyền mà mình đang có. Tôi cũng chúc họ dũng cảm để kiên trì bởi vì trong lúc này hình như những người bỏ cuộc có vẻ đông đảo hơn những người nhập cuộc vận động dân chủ.

    Quan trọng hơn, tôi chúc họ sự sáng suốt. Dù muốn hay không trí thức trong mọi xã hội và trong mọi thời đại đều có vai trò lãnh đạo. Họ không thể từ chối vai trò này. Quần chúng trong mọi quốc gia không khác nhau bao nhiêu. Các dân tộc khác nhau ở tầng lớp trí thức. Tại sao chủ nghĩa cộng sản lại có thể được du nhập vào nước ta năm 1945, bảy mươi lăm (75) năm sau khi nó đã bị phủ nhận tại đại hội Gotha năm 1870 tại Châu Âu, quê hương của nó và tại chính trung tâm của nó, nước Đức, và sau khi nó đã gây ra những thảm kịch kinh khủng tại Nga? Và tại sao nó lại được những trí thức Việt Nam rất lỗi lạc ủng hộ để toàn thắng ngày 30-4-1975, hơn một thế kỷ sau? Đó là vì chúng ta không có tư tưởng chính trị. Và chúng ta không có tư tưởng chính trị bởi vì trí thức của chúng ta quá kém. Đó là những trí thức học chứ không phải những trí thức nghĩ, và cũng chỉ học để lấy bằng chứ không phải học để hiểu biết.

    Nhưng câu hỏi bi đát hơn và đòi hỏi nhiều sáng suốt nhất để trả lời là tại sao sau ba mươi lăm năm dưới một chế độ bạo ngược đã thất bại trên mọi phương diện và trong mọi địa hạt chúng ta vẫn chưa có nổi một đối lập dân chủ có tầm vóc? Đó là vì chúng ta không biết phải đấu tranh như thế nào. Nhiều người nghĩ rằng mình đấu tranh nhưng thực ra chỉ phá đám.

    Một cách ngây thơ chúng ta tin rằng có thể thay đổi bằng con đường phục tùng và hợp tác như đã trình bày ở phần trên. Chúng ta tin những biến chuyển trên thế giới sẽ đem lại dân chủ cho Việt Nam, trong khi chỉ cần quan sát và suy nghĩ một chút chúng ta sẽ thấy rằng thời đại của những can thiệp từ bên ngoài nhằm thay đổi chế độ chính trị của một nước đã vĩnh viễn đi vào dĩ vãng. Chúng ta tin rằng tham nhũng, bất công, ức hiếp, nghèo khổ sẽ khiến quần chúng nổi dậy trong khi mọi nghiên cứu cũng như mọi kinh nghiệm đều cho thấy rằng một quần chúng dù bị ức hiếp đến đâu, thậm chí bị dồn vào chỗ chết, cũng không bao giờ nổi dậy trừ khi có một tổ chức để lãnh đạo họ và tổ chức này phải đủ mạnh để khiến họ tin rằng thắng lợi là chắc chắn. Quần chúng không lãng mạn. Và chúng ta cũng tin, và cố từ chối suy nghĩ thêm, rằng một tổ chức đấu tranh đổi đời có thể thành hình nhanh chóng và giành được thắng lợi trong một thời gian ngắn, trong khi mọi nghiên cứu cũng như kinh nghiệm lịch sử đều chứng tỏ một tổ chức như vậy chỉ có thể là thành quả của những cố gắng thông minh và kiên trì trong nhiều thập niên, và với điều kiện bắt buộc là đặt nền tảng trên một tư tưởng chính trị hoàn chỉnh. Đến bao giờ chúng ta mới bỏ được thói quen thành lập vội vã những tổ chức và liên minh lỏng lẻo, ô hợp mỗi khi thời cơ có vẻ thuận lợi để chỉ đóng góp gây hỗn loạn và làm lỡ cơ hội? Đọc nhiều bài của nhiều trí thức có trình độ cao và theo dõi những việc họ làm đôi khi tôi bâng khuâng tự hỏi: tại sao họ đọc sách báo nhiều như vậy mà lại không gặp vô số những nghiên cứu về đấu tranh chính trị, nhất là đây lại là những điểm mà tất cả các nhà nghiên cứu đều đồng ý? Phải chăng người Việt Nam không nghiên cứu phương thức hoạt động chính trị vì cho rằng làm gì cũng phải học trừ làm chính trị? Có lẽ.

    Và nếu chỉ được chúc một điều thôi cho trí thức Việt Nam thì tôi chúc họ điều trị được bệnh nhân sĩ. Đó là bệnh nặng lắm và rất khó chữa của trí thức Việt Nam. Nó là di sản của hàng nghìn năm dưới văn hoá Khổng Giáo. Nó là bệnh kẻ sĩ, cái tâm lý chờ thời để được làm bầy tôi cho các vua chúa. Thực tế là bệnh nô lệ. Nó khiến các nhân sĩ coi hoạt động chính trị như là những cố gắng để được làm quan, nghĩa tìm mọi cách để có danh tiếng với niềm tin rằng một khi đã được đời biết đến thì có ngày sẽ được làm quan, danh tiếng càng lớn, chức quan càng cao. Với thời gian một biến chứng khác cũng nguy hiểm không kém xuất hiện và cũng trở thành một đặc tính của nhân sĩ: bệnh háo danh. Phương tiện trở thành cứu cánh. Danh thay vì là phương tiện để làm quan trở thành điều tự nó được mơ ước. Bệnh nhân sĩ thể hiện rõ nét nhất và tệ hại nhất qua sự dị ứng với đấu tranh có tổ chức. Nó khiến người ta luôn luôn nhìn thấy vô số lý do để không tham gia tổ chức nào hay nếu đã tham gia thì luôn luôn nhìn thấy nhiều lý do để bỏ tổ chức hơn là tiếp tục xây dựng tổ chức. Trí thức Việt Nam không chữa khỏi bệnh nhân sĩ thì không thể nào giành được thắng lợi cho dân chủ bởi vì đấu tranh thay đổi chế độ chính trị không bao giờ có thể là đấu tranh cá nhân cả. Nó bao giờ cũng chỉ có thể là đấu tranh có tổ chức. Bệnh nhân sĩ lan tràn lắm. Có nhiều người tôi rất quí mến và tưởng là lành mạnh nhưng rồi chua chát nhận ra là cũng mắc bệnh nhân sĩ, có khi ở mức độ khá cao.

    Nhưng làm thế nào để chữa bệnh nhân sĩ? Chúng ta chưa chữa được có lẽ vì chúng ta chẩn bệnh sai. Chúng ta thường cho rằng bệnh nhân sĩ là do "cái tôi" quá lớn. Nhận xét này rất sai. Ngược lại nó là do cái tôi quá bé. Sự bé nhỏ khiến người ta không có nổi cái nhìn lớn mà chỉ có những tham vọng cá nhân vụn vặt, và do đó không thấy nhu cầu kết hợp để có sức mạnh. Hoặc người ta sợ khi hoạt động trong tổ chức con người nhỏ bé của mình sẽ lộ diện. Sự chẩn bệnh chính xác này rất cần thiết bởi vì một người có thể bị phê phán, và trong thâm tâm cũng thừa nhận, là có cái tôi quá lớn mà không thấy cần phải thay đổi vì có thể nghĩ cái tôi của mình lớn bởi vì chính mình lớn thực. Nhiều người được chỉ phản đối qua loa khi bị đánh giá là nhân sĩ, cũng có những người tự nhận là nhân sĩ hoặc muốn được coi là nhân sĩ. Chỉ có ý thức rằng bệnh nhân sĩ có gốc gác từ sự thấp bé người ta mới thấy phải chữa chạy bằng mọi giá và coi sự kiện bị đánh giá là nhân sĩ là một xúc phạm không thể chấp nhận. Vậy thì lời chúc của tôi cho trí thức Việt Nam là sự cao cả. Và dĩ nhiên xin bày tỏ lòng kính mến sâu xa đối với những trí thức Việt Nam ít ỏi không mắc chứng bệnh tâm thần này.

    * * *

    Nhưng xin trở lại chúc Tết đồng bào, với tư cách của một đứa con rất tầm thường, chẳng ra gì và vô tích sự của dân tộc này. Xin chúc tất cả chúng ta niềm tin vào tương lai. Trong lúc này, với một chính quyền bạo ngược, một phong trào dân chủ rã rượi và một lớp trí thức bạc nhược,chúng ta cần niềm tin lắm. Nhưng tôi trộm nghĩ là chúng ta vẫn có những lý do xác đáng để tin. Thay đổi mà chúng ta mong muốn chắc chắn sẽ đến vì một lý do giản dị là chế độ này không thể tiếp tục được nữa như đã trình bày ở phần trên. Phong trào dân chủ thực ra cũng không rã rượi đâu, nó đang trải qua giai đoạn sàng lọc bắt buộc cần thiết và sẽ khởi sắc lành mạnh hơn. Chúng ta sẽ có dân chủ và dân chủ sẽ đến trong một tương lai gần chứ không xa. Đây là một niềm tin thực sự chứ không phải chỉ là một niềm tin duy ý chí. Kẻ viết bài này do hoàn cảnh của cuộc sống cũng đã có dịp quan sát khá nhiều dân tộc và thành thực nghĩ rằng chúng ta còn nhiều tiềm năng không kém nhiều dân tộc đã có dân chủ và đang ở một mức độ phát triển hơn hẳn chúng ta.

    Chúng ta chúc nhau rằng dân chủ sẽ đến thật sớm vì một ngày dùng dằng là một ngày mất đi, trong khi đất nước đã quá chậm trễ rồi.

    Chúng ta chúc cuộc chuyển hoá về dân chủ diễn ra trong hoà bình và trong tình anh em để chúng ta bắt đầu ngay cuộc chinh phục tương lai. Đất nước đã trải qua quá nhiều đổ vỡ rồi để có thể chấp nhận thêm những đổ vỡ mới.

    * * *

    Sau cùng, như một món quà Tết, cũng xin đưa một lý do để phấn đấu và chấp nhận những khó khăn của thực tại hôm nay. Từ trước đến nay lịch sử của chúng ta đã chỉ là sự kế tiếp nhau của những chế độ nô lệ. Các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm mà chúng ta tự hào xét cho cùng cũng chỉ là để đánh đổi một ách nô lệ ngoại bang lấy một một ách nô lệ bản xứ. Lần này, sau cuộc đấu tranh này chúng ta sẽ đi vào giai đoạn lịch sử thực sự mới, giai đoạn lịch sử thứ hai, giai đoạn đoạn của tự do, của đất nước Việt Nam tự do và những con người Việt Nam tự do, được kính trọng và thực sự làm chủ đất nước. Có tất cả mọi triển vọng là tuyệt đại đa số những người Việt Nam hôm nay sẽ được chứng kiến bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử này. Đó là biến cố mà các thế hệ mai sau sẽ không còn được dịp chứng kiến. Và họ nên sống thế nào để có quyền nghĩ rằng mình đã đóng góp để lại di sản đó cho muôn đời con cháu.

    Nguyễn Gia Kiểng
    © Thông Luận 2010

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Theo tôi vấn đề lớn nhất của trí thức nói riêng của cũng như công dân ở trong nước nói chúng là họ đang quá thờ ơ trứoc vận mệnh dân tộc. Cốt lõi của những việc mà chúng ta(lực lượng dân chủ) đang làm là tuyên truyền. Nhưng dân chúng thờ ơ, ta biết tuyên truyền cho ai? Vậy cái gì đã làm nên thành công cho đảng cộng sản trong việc làm cho dân ta trở nên vô hồn thế này?

    Thuốc đắng giã tật. Chúng ta phải gạt bỏ "cái tôi" lớn vô cùng để chấp nhận những lời phê bình cảnh tỉnh của tác giả. Tuy cách hành văn có thể làm phật ý một số người, nhưng nói thẳng nói thật, theo tôi, là cách dạy đời, đi vào lòng người nhanh nhất, hiệu nghiệm nhất.

    Tên tác giả viết:
    Từ trước đến nay lịch sử của chúng ta đã chỉ là sự kế tiếp nhau của những chế độ nô lệ. Các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm mà chúng ta tự hào xét cho cùng cũng chỉ là để đánh đổi một ách nô lệ ngoại bang lấy một một ách nô lệ bản xứ

    Tôi rất tâm đắc với câu trích dẫn trên, trong bài viết này của tác giả. Chính tôi cũng đã từng có những nhận định tương tự như vậy trong những bài viết rải rác trên các diễn đàn trước kia.
    Nói chung, tác giả Nguyễn Gia Kiểng là một người có nhiều nhận xét rất sâu sắc và xác đáng. Hầu hết tôi đều đồng ý với tác giả. Chỉ có 2 điều tôi không đồng ý, đó là :
    1/ Tác giả Nguyễn Gia Kiểng có cái nhìn không đúng, thậm chí sai lầm ngược hẳn lại với tinh thần Nhân Bản và rất Minh Triết của Khổng Giáo. Thậm chí tôi có thể nói rằng, căn cứ vào những điều anh viết về Khổng Giáo, tôi cho rằng anh chưa từng đọc những gì chính Khổng Tử viết.
    2/Phong cách viết của anh rất đáng tiếc là thiếu một sự ân cần, tế nhị của một người trí thức, một người có văn hóa. Trái lại nó mang vẻ lạnh lùng, ngạo mạn, dạy đời nên khó đi vào lòng người. Khuyết điểm này cũng có nguyên nhân từ khuyết điểm 1: Tác giả do không hiểu biết Khổng Giáo, nên đã không có được lòng Nhân Ái - Một nền tảng cơ bản và minh triết của học thuyết Khổng Tử - Do đó bài viết nào, tác phẩm nào, dù sắc xảo đến đâu, cũng thiếu hơi ấm của lòng Nhân Ái - Vì thế không đi được vào lòng người. Thật đáng tiếc.