Liệu Việt Nam có trở thành quân đô-mi-nô đầu tiên của Châu Á? (phần 2)

  • Bởi Admin
    12/02/2010
    0 phản hồi

    Shawn W Crispin<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Áp lực và biến dạng

    Những thử nghiệm kỹ trị mới đang nổi lên với dấu hiệu của lạm phát, thâm hụt thương mại tăng cao và áp lực duy trì tiền Đồng khỏi mất giá trước một đồng Đô-la đang yếu đi trên toàn cầu. Ngay cả với việc phá giá tiền Đồng 5% tháng 11 năm ngoái, và nâng lãi suất cơ bản từ 10% lên 12%, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân vẫn tiếp tục giữ đô-la thay vì chuyển sang đồng, cho thấy trong nước thiếu niềm tin vào khả năng hoặc ý chí của ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát lạm phát.

    "Ngân hàng trung ương cần phải gửi một tín hiệu khá gay gắt tới thị trường rằng nó sẵn sàng bảo vệ tỷ giá tiền tệ, rất có thể bằng cách tiếp tục nâng lãi suất lên cao hơn", ông Sriyan Pietersz, người đứng đầu nhóm nghiên cứu tại JP Morgan ở Bangkok, đã nói. "Nếu làm như thế, họ có nguy cơ đánh mất luồng vốn FDI [vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp] tiềm năng do một đồng tiền không vững vàng."

    Một lượt trái phiếu trị giá 1 tỷ USD đã được bán thành công tới các nhà đầu tư nước ngoài vào tháng Một năm nay, nhưng các nhà phân tích nói con số đó chưa đủ để giảm bớt áp lực mới đang đặt lên tiền Đồng. Tiền Đồng có thể sẽ tạm thời thoát hiểm do ngoại hối gửi về vào dịp Tết, nhưng nhiều nhà phân tích tin rằng Ngân hàng Nhà nước cần phải tăng lãi suất ít nhất thêm 3% để tạo ra một kiểu thuế trừng phạt trong nước dành cho những ai đổi đồng sang đô-la.

    Bởi Ngân hàng Nhà nước là nguồn chính thức duy nhất được phép trao đổi ngoại hối trong nước, chính phủ đang duy trì việc kiểm soát vốn chặt chẽ để bảo vệ tiền Đồng. Theo luật, các công ty và doanh nghiệp chỉ được phép nắm giữa một lượng vừa đủ ngoại hối để trả nợ và thanh toán các giao dịch thương mại hiện thời. Thế nhưng cho đến quý III năm ngoái, 27% tất cả các thanh khoản trong hệ thống tài chính trong nước đã bỏ Đồng để nắm Đô-la, theo JP Morgan.

    Bất chấp sự kiểm soát tiền tệ, doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ lượng ngoại hối thanh toán bằng đô la có trị giá ước tính khoảng 10 tỷ USD. Đáng chú ý là, họ gần đây đã phản kháng lại một thông tư do chính phủ ban hành nhắm vào 10 doanh nghiệp nhà nước, bao gồm Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam, Tập đoàn Than Khoáng Sản, Tổng công ty Hóa Chất Việt Nam, yêu cầu các doanh nghiệp này bán đô-la nắm giữ để lấy tiền Đồng.

    Theo Thông tư, các doanh nghiệp nhà nước đáng lẽ phải trả 3 tỷ USD ngoại hối vào ngân hàng Nhà nước vào cuối năm ngoái; nhưng cho đến đầu tháng Hai, họ mới chỉ chuyển có 300 triệu USD, theo các nhà phân tích theo dõi tình hình. Sự phản kháng, cũng là những nhà phân tích kia cho biết, đã càng khiến Ngân Hàng Nhà Nước lưỡng lự trong việc đổ thêm thanh khoản vào thị trường để bảo vệ tiền Đồng. Theo con số thống kê chính thức, Ngân Hàng Nhà Nước hiện nay nắm khoảng 16 tỷ USD dự trữ ngoại hối.

    Trong khi Việt Nam rõ ràng sao chép phản ứng tài chính đặc biệt của Trung Quốc trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Hà Nội lại tương đối thiếu khả năng kiểm soát từ trên xuống mà Bắc Kinh có để phanh các chương trình kích cầu của mình một cách quyết đoán hơn. Và như trò chơi kéo co trong tỷ giá hối đoái cho thấy, các doanh nghiệp nhà nước lớn của Việt Nam thường được điều hành sở thích cá nhân của các đảng viên cao cấp của Đảng CS, và có đủ ô dù để thách thức những chỉ thị từ trung ương.

    Một số nhà phân tích biện hộ rằng họ yên lòng hơn khi thấy các doanh nghiệp nhà nước vốn thua lỗ lâu nay, bây giờ đã nghĩ tới việc ưu tiên "kiếm lợi" hơn là giải quyết nhiệm vụ "xã hội" mà chính phủ giao phó. Đối với một số khác, điều này càng làm rõ sự thiếu minh bạch và trách nhiệm đã diễn ra từ lâu của các doanh nghiệp nhà nước lớn, và đặt ra những câu hỏi mới đáng lo lắng về việc những khoản vay trị giá hàng tỷ đô-la họ nhận được năm ngoái đã được dùng để làm gì? Việc cho vay có sự khuyến khích của nhà nước vào năm ngoái đã được dồn sang đầu cơ thị trường chứng khoán bây giờ biến thành một máy bơm tốc độ cao thúc đẩy giá cả tiêu dùng, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh.

    Điều rõ ràng hơn cả là Việt Nam vẫn thiếu sự phối hợp chính sách có hiệu quả giữa các bộ ngành chính phủ và doanh nghiệp tại thời điểm mà người quản lý kinh tế cần chứng tỏ cho thị trường rằng mình quyết tâm duy trì ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô. Sự thiếu kiểm soát cũng đưa ra những câu hỏi về cách điều hành chắp vá của ngân hàng trung ương trong vụ lạm phát gia tăng năm 2008, và khả năng kỹ trị của nó trong việc giảm bớt áp lực lạm phát đang nổi lên hiện nay, bao gồm cả thị trường bất động sản.

    Pietersz của JP Morgan nói rằng các cấp chính quyền có liên quan là những người "rất thông minh và quyết tâm", nhưng vẫn còn "vừa làm vừa học" trong việc quản lý nền kinh tế. Những người khác nói rằng họ không rõ liệu chính quyền, vốn đang có sự chia rẽ trong nội bộ, có đủ ý chí trính trị để rút lại các biện pháp kích thích kinh tế năm ngoài - vào thời điểm đấu tranh dành quyền lực chính trị hướng tới Đại hội Đảng năm tới.

    "Xét cho cùng, chính phủ không thể đóng cửa nền kinh tế hoàn toàn... nhưng kỳ vọng lạm phát sẽ phải được giữ lại ở một mức nào đó", ông Tan của Standard & Poor's nói. "Nếu lạm phát quá cao trong một thời gian dài, đó có thể là một điểm yếu nghiêm trọng."

    Một nhà phân tích thuộc một ngân hàng đầu tư Châu Âu ước tính ngày "phán xét cuối cùng" của Việt Nam là "không thể tránh khỏi do chính phủ bất lực trong việc tăng doanh thu", và quốc gia này sẽ phải đối mặt với nhiều lần "phá giá chấn động" cho tới khi ngân hàng trung ương được phép độc lập hơn khỏi những gánh nặng của Đảng.

    Bất chấp áp lực gần đây lên tiền Đồng, Tan nói Việt Nam không có dấu hiệu của "một cuộc khủng hoảng tiền tệ cổ điển" bởi vì "vay mượn bên ngoài vẫn nằm trong vòng kiểm soát" và "FDI vẫn đổ vào nhiều". Không giống như các quốc gia say sưa nợ nầm bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-98, gánh nặng nợ nần của Việt Nam là khá khiêm tốn bởi vì nó được tạo phần lớn bởi các khoản nợ dài hạn, ít rủi ro và mang tính ưu đãi.

    Tuy nhiên, khi mà sự chỉ trích của thị trường đối với các khoản tài chính công đang gia tăng ở Châu Âu, đánh giá rủi ro giữa các quốc gia Châu Á sẽ được quyết định ngày càng nhiều bởi nhận thức của nhà đầu tư về việc chính phủ quản lý và chi tiêu các biện pháp tài chính gần đây như thế nào. Người dân trong nước đã chứng tỏ rõ ràng họ mất lòng tin vào sự quản lý của chính phủ và lịch sử cho thấy cách nhìn của nước ngoài thường trễ hơn, nhưng sẽ theo các gợi ý của người bản xứ tại các thị trường mới nổi lên có độ rủi ro.

    Khi nỗi sợ hãi một nạn dịch tài chính do chính phủ tạo ra ở Châu Âu, Việt Nam dường như là ứng cử viên hàng đầu cho một cuộc khủng hoảng niềm tin diễn ra song song ở Châu Á.

    Shawn W. Crispin là biên tập viên khu vực Đông Nam Á của tờ Asia Times Online. Độc giả có thể liên hệ với ông qua email: [email protected]

    Chủ đề: Kinh tế, Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi