Liệu Việt Nam có trở thành quân đô-mi-nô đầu tiên của Châu Á? (phần 1)

  • Bởi Admin
    12/02/2010
    1 phản hồi

    Shawn W Crispin<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    BANGKOK - Trong khi thị trường toàn cầu châu Âu băn khoăn về các khoản vay nợ nước ngoài của Châu Âu khoản nợ có chủ quyền, thì liệu Việt Nam có khả năng trở thành quân đô-mi-nô đầu tiên sụp đổ vì bị kích thích kinh tế quá mức? Với một đồng tiền lung lay, hệ thống ngân hàng cho vay nhanh chóng và lỏng lẻo, và không có niềm tin trong nước về khả năng quản lý kinh tế của chính phủ, Việt Nam nổi bật lên trong khu vực như một ứng cử viên sáng giá cho sự tái định giá thị trường đột ngột vì ảnh hưởng tài chính của việc chi tiêu ngân sách mạnh bạo và thường xuyên sai lầm gần đây.

    Nhờ có sự tài trợ thiếu hụt khổng lồ của chính phủ, năm ngoái Việt Nam đã thành công hơn so với các quốc gia ngang tầm trong khu vực, với tăng trưởng GDP 5,5%. Để chống lại sự suy thoái kinh tế toàn cầu, chính phủ đã cam kết các gói kích thích kinh tế vĩ đại chiếm tới 8% GDP. Mặc dù chưa tới nửa số tiền hứa hẹn được giải ngân, chi tiêu trong ngân sách và cho vay ngoài ngân sách của ngân hàng nhà nước đã đẩy nền kinh tế qua khỏi cuộc khủng hoảng toàn cầu.

    Với dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, chính quyền do Đảng CS lãnh đạo đã đưa những dấu hiệu rằng họ sẽ chấm dứt kích thích kinh tế và trở lại con đường phát triển dựa trên xuất khẩu. Nhưng vì không có sự phối hợp chính sách giữa các bộ ngành nhà nước và doanh nghiệp, niềm tin vào khả năng chính phủ có thể kiểm soát lạm phát càng bị bào mòn, tới một mức đáng kể làm mất hiệu lực các nỗ lực từ trung ương nhằm chấm dứt áp lực lên tiền Đồng và thị trường bất động sản quá nóng.

    Việc ngắt kết nối giữa mệnh lệnh trung ương và sức đề kháng ngoại biên đã tỏ rõ cuối năm ngoái khi nhiều ngành công nghiệp hướng xuất khẩu từ chối không bán USD [mà họ thu được] theo tỷ giá chính thức của ngân hàng nhà nước. Cho đến tháng 10, tỷ giá chính thức và tỷ giá trợ đen đã chênh nhau 9%, và khoảng cách đó đã khiến chính phủ quyết định vào tháng 11 là phá giá tiền Đồng 5% bằng cách tăng biên độ tỷ giá. Ngay cả với lần phá giá đó, các nhà phân tích tài chính quan sát tình hình nói rằng vẫn còn khoảng cách là 5% giữa tỷ giá chính thức và chợ đen.

    Một yếu tố thúc đẩy sự biến dạng là việc trợ giá lãi suất của nhà nước, được thực hiện vào năm ngoái như một phần của gói kích thích kinh tế để cổ vũ cho vay trong nước nhiều hơn. Chính sách đó đã chính thức làm giảm lãi suất cho vay từ 10% xuống 6,5%, và tạo ra một khối lượng cho vay khổng lồ trị giá 24 tỷ USD, hay gần 23% GDP. Theo Standard & Poor's, một công ty đánh giá tín dụng, thì tăng trưởng tín dụng (loan growth) tính theo năm của Việt Nam tăng lên 37%.

    Các nhà phân tích tài chính nói rằng, bởi vì các doanh nghiệp nhà nước và công ty tư nhân trong lĩnh vực hướng xuất khẩu - nơi đã nhận được lượng tín dụng khổng lồ kia - hầu như không có nhu cầu sử dụng vốn để hoạt động, do đó họ đã đem phần lớn số tiến quay vòng vào thị trường chứng khoán trong nước. Đồng tiền "dễ dàng" này đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành thị trường hoạt động tốt nhất thế giới trong nửa đầu năm 2009; và nó tụt xuống đáng kể vào nửa sau.

    Các nhà phân tích tài chính và phân tích nợ nước ngoài không biết rõ bao nhiêu trong số 24 tỷ USD cho vay năm ngoái đã mất vào đầu cơ chứng khoán. Kim Eng Tan, một nhà phân tích nợ nước ngoài và tài chính công tại Standard & Poor's, đã bày tỏ quan ngại ban đầu của mình về tăng trưởng tính dụng 37% của năm ngoái. Ông nói rằng bảng cân đối tài chính của các ngân hàng lớn Việt Nam trông có vẻ "tạm được" vào cuối năm 2008, nhưng rằng "chúng ta cần phải xem chúng thay đổi thế nào sau cơn sóng cho vay mới rồi".

    Từ góc nhìn của chính phủ, những khoản tiền "dễ dàng" kia nhằm giải quyết tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt vào thời điểm các ngành xuất khẩu cần nhiều sức lao động đã phải đối mặt với sự gần như sụp đổ của thương mại toàn cầu. Các lãnh đạo của Đảng Cộng Sản rõ ràng muốn tránh sự bất ổn xã hội như năm 2008, khi lạm phát vượt quá 25% và tình trạng người lao động đình công nở rộ cả trong doanh nghiệp nước ngoài lẫn địa phương khắp cả nước.

    Lạm phát phi mã cũng góp phần vào thiếu hụt tài khoản tài khoản vãng lai (currency account deficit) khi các công ty tích trữ trong ho hàng đống hàng nhập khẩu để đợi bán ra ăn chênh lệch. Sự đánh mất quyền kiểm soát kinh tế đã dẫn tới việc giảm quyền lực của Thủ tướng theo xu hướng tự do hóa, ông Nguyễn Tấn Dũng, người mà một số nhà phân tích ước tính rằng đã chỉ né được cú sụp đổ do siêu lạm phát nhờ sự tụt dốc của kinh tế toàn cầu và sự tụt giá các mặt hàng cơ bản đi kèm. Một số nhà phân tích tin rằng phe bảo thủ trong Đảng có thể sẽ thắng thế trong Đại hội Đảng XI vào tháng Một 2011.

    Carlyle Thayer, một chuyên gia về Việt Nam tại Học Viện Quốc Phòng Úc, chỉ ra những báo cáo nói rằng phe bảo thu trong Đảng đã yêu cầu ông Dũng từ chức trong cuộc họp Ban chấp hành Trung Ương Đảng năm 2008, vì cách điều hành nền kinh tế được cho là không đúng cách của ông này. Sự khác biệt về chính sách giữa phe bảo thủ và phe tự do hóa nằm ở tốc độ và phạm vi hội nhập nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam, và ảnh hưởng của sự hội nhập tới ổn định trong nước và khả năng kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế, ông Thayer cho biết.

    "Phe bảo thủ tìm cách duy trì quyền lực độc đảng, duy trì trật tự và ổn định, và sự kiểm soát của nhà nước trong các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế, mà họ coi là "những con bò sữa" của mình", Thayer viết trong một bức email trao đổi với tờ Asia Times. "Ví dụ rõ ràng là tiến trình cải tổ các doanh nghiệp quốc doanh đã chững lại. Những người [như ông Dũng] muốn thúc đẩy hội nhập toàn cầu hơn nữa lại muốn bàn tay vô hình của thị trường đóng vai trò quan trọng hơn."

    Trong khi chương trình tự do hóa tài chính và kinh tế rộng rãi của ông Dũng vẫn lăn bánh, có dấu hiệu cho thấy rằng các yếu tố bảo thủ đang tác động gây ảnh hưởng nhiều hơn vào quản lý kinh tế. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã yêu cầu các ngân hàng nhỏ, vốn góp phần vào tạo lạm phát qua việc cho vay mạnh tay trong năm 2008, phải tăng gấp ba vốn của họ từ nay cho tới cuối năm, nếu không sẽ phải đóng cửa. Chính phủ cũng ra lệnh đóng tất cả các tiệm giao dịch vàng trong cả nước - một hạn chế sẽ có hiệu lực đầy đủ vào tháng Ba nhằm mục đích ngăn cản việc bán tháo tiền Đồng đổi lấy vàng.

    (còn tiếp)

    Chủ đề: Kinh tế, Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Ông tác giả viết bài này có thể nói là một tay amateur toàn tập về kinh tế, đặc biệt là về kinh tế Việt Nam.

    Phần lớn những phân tích của ông này đều là những ý kiến cóp nhặt giông dài, không có chiều sâu, và một số thì sai lầm một cách tệ hại.

    Thông tin chính phủ đóng cửa các sàn giao dịch vàng (thực tế là một dạng đánh bạc), vì ngăn chặn tình trạng phi quản lý ở các sàn vàng nở rộ bị ông này đánh đồng thành "chính phủ đóng cửa các tiệm vàng trên toàn quốc để ngăn chặn đổi tiền đồng thành vàng". Không hiểu ông tác giả này suy luận và nhận thức theo kiểu gì.