Nguyễn Lương Hải Khôi - Xây danh dự cho dân tộc Việt

  • Bởi Admin
    08/01/2010
    17 phản hồi

    Nguyễn Lương Hải Khôi

    <strong>Lời Tòa Soạn Tuần Việt Nam:</strong> Cũng trong mạch Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỷ mới, Nguyễn Lương Hải Khôi, nghiên cứu sinh văn học tại Nhật Bản có sự so sánh thú vị sự nghiệp Đổi Mới của Việt Nam và Duy Tân Minh trị của Nhật Bản, từ đó đưa ra kết luận: Để Việt Nam có chỗ đứng trong thế giới toàn cầu hóa này, đất nước cần một cuộc khai hóa văn minh tinh thần quyết liệt như Nhật Bản đã từng thực hiện, trong đó nền văn hóa cần được tái cấu trúc theo hướng tìm đường khai mở cho dân tộc "những chân trời có người bay", nơi "những người bay" luôn tìm thấy mọi loại "chân trời".<br />
    <br />
    Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm riêng của tác giả, trong đó có thể có những vấn đề cần được bàn bạc để làm sáng tỏ thêm. Mời độc giả tham gia tranh luận.


    Người đàn ông này đã làm thay đổi nước Nhật, bằng cách khuyến khích nhân dân Nhật học tập để thoát khỏi tư cách thần dân...

    Nghiên cứu so sánh sự nghiệp Đổi mới của Việt Nam từ 1986 đến nay với Duy tân của Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912), sẽ giúp nước ta có một điểm nhìn tham chiếu để nhìn lại chặng đường hôm qua và hoạch định chiến lược ngày mai tốt hơn.

    Quyền tự do cho mỗi người: Từ Fukuzawa Yukichi đến Karl Marx

    Một số sách sử về Nhật Bản ở Việt Nam thường nói về cuộc canh tân Minh Trị chỉ đơn giản như là một chiến lược "mở cửa", nhập khẩu các kỹ thuật hiện đại của các nước tiên tiến. Không phải vậy! Sự nghiệp Duy tân Minh Trị trong bản chất là một sự nghiệp tự khai hóa văn minh của dân tộc Nhật Bản. Chuyện "mở cửa giao thương" và "nhập khẩu kỹ thuật mới" chỉ là bề nổi của sự nghiệp vĩ đại đó.

    Hầu hết các nghiên cứu về lịch sử tinh thần Nhật Bản thời Minh Trị đều khẳng định rằng, bản chất của 30 năm Duy tân Minh Trị là quá trình dân tộc Nhật Bản nhìn văn minh Châu Âu để tự khai sáng tinh thần cho chính mình. Họ có cả một dòng "văn học khai sáng", ở đó các nhà văn viết hàng loạt "tiểu thuyết chính trị" để giải thích, không phải chỉ cho quốc dân mà trước hết là cho chính những người lãnh đạo đất nước, hiểu về những giá trị của con người cá nhân, về bản chất của "Tinh thần luật pháp", về dân chủ như một "giá trị đạo đức" và "phương thức quan hệ" trong xã hội, về con đường để rèn luyện văn hóa dân chủ trong mỗi cá nhân, những lợi ích của Nhà nước khi được giáo dục và tuân thủ giá trị đạo đức đó...

    Chúng ta thường chỉ nghĩ đến một Nhật Bản chỉ trong vòng 30 năm mà đuổi kịp Phương Tây về kinh tế và kỹ thuật, nhưng chúng ta gần như không nghĩ đến một Nhật Bản khác, một Nhật Bản của "khai hóa tinh thần", cũng chỉ trong vòng 30 năm, các lãnh chúa của họ từ chỗ là những tên chúa đất sống ăn bám vào nông dân, đã tự mình học tập kinh doanh để trở thành tư sản; người nông dân của họ từ chỗ chỉ là "tá điền" của một lãnh chúa nào đó, tiến hóa đến chỗ trở thành "quốc dân".

    Và ngày nay, quan chức nhà nước của họ từ chỗ nghĩ rằng giá trị của bản thân nằm ở sự phục tùng của nhân dân, tiến hóa đến chỗ coi sự lễ phép của mình với mỗi người dân là giá trị đạo đức bình thường trong công việc. Thời Minh Trị kết thúc vào năm 1912, đến nay là 2009, chưa đầy 100 năm!

    Hội nhập với thế giới có nghĩa là đi tìm cơ hội cho dân tộc mình ở phạm vi toàn cầu, thông qua việc tự mình cũng trở thành một cơ hội cho kẻ khác. Để làm được điều đó, Việt Nam không cần đến nỗi sợ hãi, mà cần một "tinh thần toàn cầu" - không phải là vong bản để trở thành "thế giới" - mà là ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc.

    Đầu thế kỷ XIX, khi các nước thực dân châu Âu bắt đầu đánh lan đến châu Á, "làm thế nào để bảo vệ tự do của Nhật Bản?" trở thành nỗi đau đáu của trí thức Nhật đương thời. Fukuzawa Yukichi1 đã đề xuất trả lời của mình bằng một câu ngắn gọn. Câu trả lời cho bài toán thời đại đặt ra, đã được ông viết lên lên một tấm lụa trắng bằng lối chữ thảo cực đẹp, và tôi đã được chiêm ngưỡng nó trong Bảo tàng Mỹ thuật Tokyo. Câu trả lời không phải là sức mạnh quân sự, bởi điều đó là hiển nhiên - mà là: "Bảo vệ tự do của Nhật Bản thông qua bảo vệ tự do của mỗi người dân Nhật Bản"

    Trong lịch sử cận đại Nhật Bản, ngành xuất bản và báo chí hiện đại ra đời và phát triển trong ánh sáng của tư duy minh triết đó. Sự nghiệp khai hóa văn minh của họ năm 1868, khác với cuộc Đổi mới của ta năm 1986, bắt đầu không phải bằng mở cửa kêu gọi đầu tư hay nhập khẩu máy móc, mà bắt đầu bằng báo chí và sách vở. Trong trường hợp Nhật Bản, việc khai sáng những tư tưởng và năng lực tư duy sao cho thích ứng với tính hiện đại đã được tiến hành trước và trở thành tiền đề văn hóa cho sự nghiệp canh tân về kỹ thuật và kinh tế.

    Mặt khác, sự nghiệp Duy tân của Nhật Bản không chỉ được bắt đầu bằng khai sáng văn minh, mà còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi một triết học về "tái cấu trúc quốc gia".

    Đọc quyển "Khuyến học" (Gakumon no Susume"), 2 tập hợp các bài diễn thuyết của Fukuzawa Yukichi, ta hiểu rõ một điều mà với đất nước ta đang là một bài học nhãn tiền. Tinh thần cốt tủy của sách này, theo như tôi hiểu, là nếu Nhật Bản bắt đầu bằng nhập khẩu phương tiện kỹ thuật và mở cửa buôn bán, và chỉ dừng lại ở đó, thì sẽ chỉ phát triển đến một mức nào đó rồi dừng lại, bởi lẽ, một dân tộc cắm rễ trong những thiết chế văn hóa và xã hội đối lập với văn minh hiện đại, không thể xây dựng được một nền văn minh hiện đại đích thực.

    Cũng với cái nhìn triết học này, sau khi Nhật canh tân được 17 năm, Fukuzawa Yukichi đề xướng thuyết "Thoát Á luận". Ông cho rằng, để hiện đại hóa thành công, Nhật Bản cần thoát khỏi hệ thống tín điều, hệ thống giáo dục, chính trị và xã hội... theo mô hình lạc hậu của Trung Quốc đương thời, tái cấu trúc thành một hệ thống mà các giá trị hiện đại có thể vận hành."Thoát Á luận", do đó, có thể coi là "con đường thoát khỏi Trung Quốc" của Nhật Bản thời Minh Trị. 3

    Chẳng phải Fukuzawa vẫn đang nói về tất cả các quốc gia đang phát triển ở thế kỷ XXI này đó sao? Đương thời, Thái Lan cũng "mở cửa" nhưng không "khai sáng tinh thần" và "tái cấu trúc" như Nhật Bản, nên dù không bị mất nước nhưng đến bây giờ, sau một thế kỷ rưỡi "mở cửa" trong hòa bình, nước này vẫn đứng chung hàng ngũ các nước đang phát triển.

    Còn Trung Quốc ngày nay, cũng vì lý do tương tự mà sau 30 năm cải cách của Đặng Tiểu Bình, dù có "tăng trưởng" (đến ngoạn mục) nhưng vẫn không có "phát triển". Những gì mà người Trung Quốc đóng góp vào nền kinh tế của chính họ hầu như vẫn chỉ là những gì thuộc về nền công nghiệp cũ. 4

    Trường hợp Việt Nam cũng không khác. Các trường đại học và doanh nghiệp của chúng ta, với một hệ thống tương tự mô hình của các cơ quan hành chính, đã giúp đất nước xây dựng được nền công nghiệp kiểu cũ, nhưng khó có thể xây dựng được nền kinh tế dựa trên tri thức. Bởi dòng chảy sáng tạo không thể khơi nguồn trong một cấu trúc như vậy.

    Nếu Nhật Bản bắt đầu bằng nhập khẩu phương tiện kỹ thuật và mở cửa buôn bán, và chỉ dừng lại ở đó, thì sẽ chỉ phát triển đến một mức nào đó rồi dừng lại, bởi lẽ, một dân tộc cắm rễ trong những thiết chế văn hóa và xã hội đối lập với văn minh hiện đại, không thể xây dựng được một nền văn minh hiện đại đích thực.

    Đứng trước bức lụa của Fukuzawa Yukichi, là "quốc dân" của một nước Xã hội chủ nghĩa, tôi nhớ đến Karl Marx:

    "... Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người!"

    Marx nói vậy ở đoạn cuối chương 2 trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" 5 năm 1848, trước Fukuzawa Yukichi 30 năm. Quả có những trùng hợp thú vị giữa Karl Marx và... tinh thần Nhật Bản thời khai sáng.

    Về tư tưởng, có lẽ nhiều người Việt Nam sẽ phải trăn trở về sự tương đồng giữa tuyên ngôn của K. Marx và câu trả lời của Fukuzawa. Về cái năm 1848, ở Nhật Bản cũng là năm ra đời cuốn sách "Keihatsu Roku" (Luận văn về Khai sáng) của Hashimoto Sanai. 6 Trong lịch sử tinh thần Nhật Bản, cuốn sách này được coi là điểm khởi đầu của một hành trình tinh thần dẫn đến cuộc Duy tân 30 năm sau đó.

    Dân chủ là một giá trị văn hóa có tính toàn nhân loại mà Châu Âu đã xây dựng từ thời Hi Lạp cổ đại và phát triển không ngừng từ thời Phục Hưng đến nay. Ngày nay, trí thức Châu Âu vẫn nói về Karl Marx như là con người thuộc về nền văn hóa của chính họ. "... Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người!" là hình ảnh lý tưởng của thế giới Cộng sản mà K. Marx mơ ước cho nhân loại và ông đặt cho các Đảng Cộng sản nhiệm vụ kiến thiết thế giới ấy.

    Hồ Chủ tịch, sau những ngày đất nước vừa độc lập, đã nói: Đất nước độc lập nhưng nếu nhân dân không tự do, hạnh phúc, thì độc lập ấy không có ý nghĩa gì. Tư tưởng ấy của Bác hoàn toàn tương đồng với K. Marx và Fukuzawa Yukichi. Tự do của mỗi quốc dân tạo nên tự do của cả đất nước, và tự do của mỗi con người tạo nên tự do của cả cộng đồng nhân loại. Độc lập trước ngoại bang chỉ là tiền đề, không phải là đích cuối cùng!

    Có sự tương đồng giữa Karl Marx, Hồ Chủ tịch và Fukuzawa Yukichi, nhưng tại sao có thể nhìn thấy trong tinh thần Nhật Bản hiện đại và các nước Châu Âu tư tưởng cao đẹp của K. Marx, nhưng điều cao đẹp ấy vẫn là một cái gì xa lạ trong nền văn hoá, trong cách tư duy của đất nước chúng ta?

    Câu trả lời nằm ở chỗ lịch sử cận hiện đại của chúng ta chưa từng có một công cuộc khai hóa văn minh tinh thần quyết liệt và rực rỡ như xứ họ. Chúng ta từng có một Đông Kinh nghĩa thục của Lương Văn Can năm 1908, học tập theo mô hình Khánh Ứng nghĩa thục của Fukuzawa Yukichi ở Nhật Bản, từng có một Phan Chu Trinh, nhưng tiếc thay, dù hết sức sâu sắc về tư duy nhưng tất cả đều ngắn ngủi và chưa triển khai đến tận cùng những giá trị tinh thần mà mình ấp ủ.

    Trong lịch sử hiện đại, trên toàn cõi Phương Đông, trừ Nhật Bản, chưa từng có một quốc gia nào thực sự nghiêm túc tiến hành một cuộc khai hóa tinh thần đúng với bản chất của văn minh hiện đại: xây dựng và bảo vệ tự do của quốc gia thông qua xây dựng và bảo vệ tự do của mỗi công dân!

    Điểm yếu của văn hóa dân tộc trước thời đại mới

    Đầu thế kỷ XXI, dân tộc Việt Nam đối đầu với những thử thách khó khăn hơn Nhật Bản một trăm năm trước. Thế giới ngày nay khi chúng ta mở cửa ra và nhìn thấy đã khác xa thế giới mà một thế kỷ trước người Nhật đã đối mặt. Chúng ta đang cần gấp một công cuộc khai sáng văn minh, và công cuộc ấy không giống với những gì người Nhật đã làm.

    Họ canh tân trong thời đại của máy dệt và xe lửa chạy bằng than. Trước mắt chúng ta ngày nay là thời đại của chip điện tử, một thế giới toàn cầu hóa, và một nền kinh tế - khoa học mà sự phát triển đích thực phụ thuộc trực tiếp vào khả năng sáng tạo của con người.

    Cuối thế kỷ XIX, Cao Thắng đã dùng khả năng bắt chước tuyệt vời của mình để chế tạo những khẩu súng kíp, chính xác đến mức giặc Pháp phải khâm phục. Nhưng chip điện tử của thế kỷ XXI không phải là cái có thể bắt chước. Từ điểm nhìn này, chúng ta có thể thấy được điểm yếu của văn hóa dân tộc trước thời đại mới.

    Marx cho rằng "lực lượng sản xuất" không bao giờ đứng yên, vì con người luôn có "nhu cầu" phát triển, và do đó, việc cải tiến và sáng tạo trong lao động là "tất yếu", thế nhưng, cái điều "tất yếu" kỳ diệu ấy ở Châu Âu không phải là "tất yếu" ở nước ta.

    Đến tận đầu thế kỷ XX, các cô thôn nữ Việt vẫn dệt vải theo cách mà các cung nữ nhà Lý đã dệt bên hồ Trúc Bạch. Ngày nay, phần đông người Việt đã có thể dễ dàng bỏ tiền ra mua một chiếc xe máy. Nhưng giữa việc biết đi xe máy và việc có thể sản xuất xe máy là cả một khoảng cách về văn hóa.

    Giữa việc sản xuất xe máy và việc cải tiến nó theo hướng tốt hơn cho thế giới lại là một khoảng cách khác, bởi cần đến một năng lực văn hóa cao hơn. Còn khi cái xe máy chưa ra đời mà đầu óc có thể sáng rực rỡ toàn bộ hình ảnh kỹ thuật của nó, lại cần đến một nền tảng văn hóa cao hơn gấp bội.

    Nền tảng ấy là năng lực của tư duy lý tính hướng vào sáng tạo, những phương thức tổ chức khai phóng cho tư duy, và một môi trường xã hội lấy dân chủ làm nguyên tắc quan hệ giữa người với người. Hầu hết những phát minh và sáng tạo quan trọng trong lịch sử hiện đại đều được cống hiến từ các dân tộc mà tính dân chủ của nền văn hóa đạt đến trình độ cao. Mối quan hệ ấy không hề ngẫu nhiên.

    Tất cả những điều trên đã và đang là một cái gì xa lạ với văn hóa của chúng ta. Do đó, nền văn hóa của chúng ta cần được tái cấu trúc theo hướng tìm đường khai mở cho dân tộc "những chân trời có người bay", nơi "những người bay" 7 luôn tìm thấy mọi loại "chân trời".

    Khai phá để phát triển trong kỷ nguyên sáng tạo

    Động lực phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và của mỗi dân tộc nói riêng, không chỉ là đấu tranh giai cấp, mà là năng lực sáng tạo của nó. Hay nói như chính K. Marx, trong lịch sử châu Âu, giữa việc sáng tạo ra nền văn minh cơ khí và các cuộc cách mạng tư sản có một mối quan hệ gián tiếp nhưng tất yếu.

    Ngày nay, trong thời đại "toàn cầu hóa", các dân tộc có sức sáng tạo phong phú tìm kiếm con đường sinh tồn bằng cách truyền bá các thành quả sáng tạo của mình đến phần còn lại của thế giới. Lực lượng xung kích của các dân tộc này là các cơ sở R&D ("Nghiên cứu và Phát triển"), các tập đoàn đa quốc gia với hệ thống cải tiến và sáng tạo toàn cầu 8

    Trước đây, những sáng tạo, phát minh, cải tiến đôi khi xuất hiện như là những ngẫu nhiên trong dòng chảy lịch sử, nhưng ngày nay, ở bộ phận tiên phong của thế giới, con người đã tiến đến trình độ có thể vạch kế hoạch kiến tạo những "thời đại mới" trong từng mảng khác nhau của cuộc sống, chủ động như thực hiện một "dự án".

    Do đó, sự chệnh lệch giữa chúng ta và bộ phận tiên phong của thế giới không chỉ là sự chênh lệch về GDP hay những thứ tương tự, mà trước tiên là chênh lệch về thời đại. Để hội nhập vào thời đại này, chúng ta cần một trái tim đập cùng nhịp đập với thế giới, một ý thức về sáng tạo như là danh dự và trách nhiệm của dân tộc trước nhân loại chung, và một cấu trúc mà các giá trị hiện đại có thể vận hành.

    Đầu thế kỷ XX, Rabindranath Tagore, trong một lần thỉnh giảng tại Đại học Keio Gijutsu, Tokyo, đã phát biểu rằng mỗi một dân tộc trên trái đất này đều mang gánh nặng một nghĩa vụ với toàn nhân loại, đó là nghĩa vụ cống hiến những sáng tạo của riêng mình cho tiến trình tiến hoá chung của loài người. Thi thánh của Ấn Độ còn tán dương Nhật Bản một cách cường điệu rằng với việc cống hiến quyển tiểu thuyết trường thiên đầu tiên cho nhân loại, kiệt tác "Truyện Genji", dân tộc Nhật đã hoàn thành nghĩa vụ của mình. 9

    Nhưng, "Truyện Genji" ra đời từ nghìn năm trước, mà nhân loại thì tiến hoá không ngừng. Cho nên, nghĩa vụ ấy của mỗi dân tộc không phải chỉ thực hiện một lần là hoàn tất. Ứng với mỗi thời đại, các dân tộc lại phải mang một nghĩa vụ sáng tạo mới đối với giống loài. Đó là một nghĩa vụ vĩnh viễn!

    Danh dự của Dân tộc được tính bằng những sáng tạo

    Và bởi vì cống hiến những sáng tạo cho lịch sử tiến hoá của nhân loại là trách nhiệm của mỗi dân tộc, nên sáng tạo cũng đồng thời là danh dự! Danh dự của mỗi quốc gia được tính bằng những sáng tạo mà nó cống hiến cho thế giới. Trong kỷ nguyên của văn minh sáng tạo, còn gì đáng buồn hơn cho một dân tộc, khi nó chỉ biết ăn sẵn những gì mà trí tuệ của kẻ khác đã tạo ra, còn mình thì không cống hiến được gì hết, dù chỉ là cải tiến một chiếc bút bi?

    Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, có lẽ Nguyễn Huy Tưởng là người đầu tiên đặt vấn đề về năng lực sáng tạo của dân tộc, trong vở bi kịch "Vũ Như Tô" (năm 1941). Nguồn lực vật chất eo hẹp của đất nước, sự giản đơn trong tư duy của nhân dân, sự bạo ngược và ngu dốt của kẻ cầm quyền không phải là một "chân trời" để nhà nghệ sỹ sáng tạo nên kiệt tác "Cửu trùng đài". Thông điệp của Nguyễn Huy Tưởng thôi thúc ta suy nghĩ về cái chết của năng lực sáng tạo ở rất nhiều dân tộc trong thế giới hiện đại ngày nay, ví dụ ở một số nước châu Phi, và, quay trở lại, nhìn vào chính mình.

    Thế kỷ XIX, với một trái tim đập lạc nhịp với thế giới, cha ông ta đã thất bại khi đối đầu với làn sóng thực dân hóa. Ngày nay, chúng ta đối đầu với làn sóng toàn cầu hóa không thể bằng đôi mắt sợ hãi hay phòng thủ mà phải bằng "tinh thần toàn cầu" và ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc thông qua những đóng góp của mình cho nhân loại chung.

    Năm 1831, Lý Văn Phức đi sứ Trung Quốc, đã tranh cãi kịch liệt với các trí thức Trung Quốc về việc Việt Nam là một vùng đất "man di" hay có "văn hóa", ta có "bản sắc" hay chỉ là "mô phỏng" Trung Quốc. Câu chuyện này cho thấy đầu thế kỷ XIX trí thức Việt Nam vẫn đang chìm vào những chuyện vớ vẩn, trong khi đương thời, năm 1848, Nhật Bản đã có một Hashimoto Sanai bất cần bận tâm đến thái độ của Trung Quốc với mình, ở độ tuổi 15, đã vạch cho dân tộc mình những giá trị tinh thần của thời đại mới. 10

    Mười năm sau "Luận văn về khai sáng" của ông, Fukuzawa Yukichi thành lập Đại học Khánh ứng Nghĩa thục (Keio Gijutsu Daigaku), sau khi đại học này thành lập 10 năm, Nhật Bản canh tân (1868). Từ sau Canh tân, xứ Phù Tang, vốn cũng nhỏ bé như chúng ta, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như chúng ta, đã tiến hóa từ chỗ là học trò của Trung Quốc thành người thầy của nó.

    Thế kỷ XIX, với một trái tim... đập lạc nhịp với thế giới, cha ông ta đã thất bại khi đối đầu với làn sóng thực dân hóa. Ngày nay, chúng ta đối đầu với làn sóng toàn cầu hóa, và sẽ ra sao? Việt Nam và Nhật Bản đang tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa với hai tâm thế khác nhau. Người Nhật đang là một trong những lực lượng kiến thiết quá trình ấy, còn Việt Nam, phải chăng chúng ta đang nhìn làn sóng khách quan này của lịch sử bằng đôi mắt sợ hãi và tư thế phòng thủ? "Hội nhập" trong nỗi lo "đánh mất", chúng ta không in hình ảnh của dân tộc mình lên diện mạo của nó, lại càng không thể làm cho nhịp sống có một không hai trong lịch sử này mang một phần hơi thở của chúng ta.

    Hội nhập với thế giới có nghĩa là đi tìm cơ hội cho dân tộc mình ở phạm vi toàn cầu, thông qua việc tự mình cũng trở thành một cơ hội cho kẻ khác. Để làm được điều đó, Việt Nam không cần đến nỗi sợ hãi, mà cần một "tinh thần toàn cầu" - không phải là vong bản để trở thành "thế giới" - mà là ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc thông qua những đóng góp của mình cho nhân loại chung.

    Là một hệ thống nhỏ tiến vào một hệ thống lớn hơn để phát triển chính mình, và do đó, thay đổi chính hệ thống bên ngoài, Việt Nam cần một triết học về hội nhập, tìm ra con đường tái cấu trúc chính mình thành một hệ thống thích ứng với tính hiện đại. Việc này tuy khó, nhưng không khó bằng những thử thách mà Đảng đã từng vượt qua trong lịch sử.

    Trong triết học cận hiện đại, có triết học về khai sáng (Philosophies of Englightment). Ngày nay, cùng với thời đại của sáng tạo, sự ra đời của "Triết học về Sáng tạo" sẽ là tất yếu. Chúng ta cần du nhập triết học về khai sáng đã có, và không được bỏ lỡ dòng triết học về sáng tạo sẽ đến, hơn thế, cần góp phần định hình diện mạo của dòng triết học ấy, xóa bỏ nỗi buồn của một dân tộc chưa từng cống hiến cho nhân loại một tư duy triết học nào.

    _______________________________

    Ghi chú:

    [1] Fukuzawa Yukichi (1835 - 1901), nhà khai sáng Nhật Bản. Là nhà tư tưởng vạch hướng đi cho đất nước đến thành công, tinh thông nhiều ngoại ngữ châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Hà Lan...) và góp phần chủ yếu quảng bá văn minh phương Tây vào Nhật, thành lập Đại học Khánh Ứng nghĩa thục (Keio Gijutsu Daigaku) năm 1858 để khai sáng tinh thần cho dân tộc. Ông được người dân Nhật ngày nay tôn xưng là "Người đàn ông tạo nên Nhật Bản hiện đại". Hình của ông được in trên tờ 10.000 Yên (mệnh giá cao nhất). Trường tư Keio Gijutsu hiện vẫn là nơi xuất thân của các chính khách chủ chốt của Nhật.

    [2] Fukuzawa Yukichi, Khuyến học, Nhà xuất bản Tri thức, 2008

    [3] Xem thêm 福沢諭吉、脱亜論 (Fukuzawa Yukichi, "Thoát Á luận") http://www.jca.apc.org/kyoukasyo_saiban/datua2.html Thực ra, "Thoát Á luận" có cũng phần tiêu cực không thể quên. Nó gợi ý Nhật cần "đối xử" với Trung Quốc, Triều Tiên và các nước châu Á khác "như người châu Âu đã đối xử", tức chiếm làm thuộc địa. Tuy vậy, phần tích cực của nó, tức triết lý về tái cấu trúc để quốc gia thích ứng với các giá trị hiện đại, thì vẫn còn nguyên giá trị.

    [4] Andre Chieng cho rằng Trung Quốc "thành công" là nhờ vào truyền thống tư duy nương theo "thế" của "Đạo". (Xem: Andre Chieng, Bàn về thực tiễn Trung Hoa cùng với Francois Jullien, NXB Đà Nẵng, 2007). A. Chieng đã "quên" một phê phán nghiêm khắc của F. Jullien với văn hóa Trung Hoa. Tư duy "nương theo thế" có thể giúp con người đạt đến hiệu quả, nhưng đó không phải là con đường đi đến tự do, nền tảng của sáng tạo. Tư duy sáng tạo, cơ sở cốt tử của kinh tế tri thức, là đối lập với tư duy nương theo "thế". Bắt chước, mô phỏng và ăn cắp bản quyền không phải là con đường xây dựng được nền kinh tế này.

    [5] K. Marx, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản http://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1840s/tuyen/index.htm

    [6] Xin xem: 橋本左内, 啓発録(Hashimoto Sanai, "Luận văn về Khai sáng") http://www.konan-wu.ac.jp/~kikuchi/jpn/sanai/keihatu.html

    [7] Chữ của Trần Dần

    [8] Ví dụ, xin xem C.K.Prahalad và M.S.Krishnan, "The new age of Innovation: Driving Cocreated Value Through Global Networks", Tata Mgraw Hill, 2008

    [9] Xem trong: 川端康成、美の存在と発見、一草一花、講座社、2007, p. 44 (Kawabata Yasunari, Tồn tại của cái đẹp và sự khám phá, in trong "Nhất thảo nhất hoa", Kouza-sha, 2007, tr. 44)

    [10] Hashimoto Sanai sinh năm 1833, tinh thông 3 ngoại ngữ (Anh, Đức và Hà Lan), viết "Luận văn về khai sáng" năm 1848, khi tròn 15 tuổi. Cuốn sách này lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng phương Đông luận về giá trị của tính độc lập trong tư tưởng ở mỗi cá nhân. Về khoa học, năm 1856, ở tuổi 22, ông tham gia dịch các sách kỹ thuật, ví dụ như kỹ thuật tinh chế sắt, của châu Âu sang tiếng Nhật. Về giáo dục, năm 1857 khi 23 tuổi, ông đề xướng chủ trương hiện đại hoá nền giáo dục Nhật, du nhập giáo dục toán học của châu Âu vào Nhật, và làm hiệu trưởng trường Meikokan, một trường theo mô hình châu Âu đương thời. Về kinh tế và ngoại giao, năm 24 tuổi, ông đề xướng mở rộng giao thương với Mỹ và cải tổ hệ thống quốc nội làm nền tảng khai phóng cho cuộc phát triển kinh tế. Phái bảo thủ chống đối ông kịch liệt và ép ông tự sát năm 25 tuổi. Cái chết của ông đã thúc đẩy tinh thần canh tân của trí thức Nhật mạnh mẽ hơn. Năm đó, Đại học Keio Gijutsu ra đời.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    17 phản hồi

    Bài viết mà có 1 chút ý tưởng của riêng mình, thì thông thường tôi sẽ khen, bởi nó đã vượt trên khỏi đám đông ngu dốt 1 tẹo.

    Nhưng với bài viết của một người "tự-nghĩ-mình" và "được-đám-đông-nghĩ-rằng" là trí thức, thì cần được đánh giá khắt khe hơn.

    Với sự khắt khe, tôi coi rằng bài này nhạt và nhảm. Cả bài chỉ tóm gọn thành mỗi ý rằng "dân tộc ta ít sáng tạo", còn lại những thông tin khác thì hoặc là ít ăn nhập, hoặc là đầy rẫy trong những nguồn tin bằng tiếng Việt khác.

    Ngay cả bài "Thoát Thân luận" hay "Thoát thân theo phương thẳng đứng" của Giáp Văn Dương cũng chỉ tóm gọn lại thành mỗi một ý: "Ta nên thoát ra thói xấu của chính ta". Efacx đã từng viết 1 vài bài về thoát Việt, chắc chắn sâu sắc hơn cái thoát-thân này, mà khi đọc lại cũng vẫn thấy hời hợt và nhảm.

    Thương thay dân tộc trì độn VN, dù có ráng suy nghĩ nhưng cũng không vượt qua được ngọn cỏ.

    Nguyễn Lương Hải Khôi viết:
    Xây danh dự cho dân tộc Việt

    Đặt danh dự cho dân tộc Việt như là một cái gì đó có thể "xây", một động từ vốn dễ làm cho mọi người gợi tưởng đến những phong trào theo kiểu "5 xây, 3 chống", cách tiếp cận vấn đề như vậy tôi nghĩ chưa hợp lý ngay từ điểm khởi đầu.

    Thứ nhất, danh dự của một người hay một dân tộc người chỉ có ý nghĩa trong sự đánh giá khách quan của người khác, dân tộc khác. Sự đánh giá đó là hình ảnh khách quan của ta phản chiếu vào tấm gương của cộng đồng quốc tế. Ta không can thiệp được tới tới hình ảnh của ta trong gương được, ta sẽ không làm được theo cái cách mà ta đã từng làm để khiến nhiều người dân trong nước phải nhìn nhận ta theo cách mà ta muốn được.

    Thứ hai, tôi nghĩ "xây danh dự cho dân tộc Việt" không phải là đích đến mà chỉ là một thước đo trong nhiều thước đó khác cho sự phát triển của một dân tộc. Đích đến của đất nước mình phải là cái gì đó thực chất cho từng hộ gia đình, nhìn thấy được, định lượng được, chẳng hạn như thu nhập bình quân như Brunei, cơ sở hạ tầng như Singapore, dân được tự do biểu tình bày tỏ ý kiến khác biệt như Mỹ. Danh dự là cái tự khắc sẽ đến sau những nỗ lực anh đã trải qua, chứ không phải là đích anh hướng tới để "xây". Anh không "xây" sự đánh giá của người khác. Anh chỉ "xây" cho chính đất nước anh trước, anh "xây" cho thu nhập của chính người dân anh, anh "xây" đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện cho đất nước, anh "xây" sự tự do ngôn luận cho chính dân tộc anh. Đó là cái anh cần "xây" và cái anh có thể "xây", khi mình "xây" mình phát triển trước thì danh dự sẽ tự đến cho dân tộc Việt mình.

    Vì thế, cách đặt vấn đề "xây danh dự cho dân tộc Việt" làm đích đến như của tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi theo tôi là không thực sự rõ ràng và không thực chất khi tác giả đã dùng một thước đo cho sự phát triển làm đích đến cho sự phát triển hướng tới.

    Khách viết:
    Bài viết ý mới, tuy nhiên tác giả có thể chỉ giáo cho tôi một vài thắc mắc liên quan tới Marx như sau:

    - Tại sao những người theo học thuyết Marx (thậm chí còn tưng được ca ngợi là các học trò xuất sắc) như Lenin, Stalin, Mao, Khome đỏ, Tổ chức khủng bố ở châu Âu như Lữ đoàn đỏ, Tổ đội đỏ9 red brigad), Csaucsecu,... đều có vấn đề cả. Ví dụ như: ngay chính nhân dân của các nước có các lãnh đạo này không coi những người đó là gì cả, thậm chí còn bị căm ghét nữa. Còn các tổ chức khủng bố thì rõ rồi. Khomer đỏ khỏi phải bàn. Còn Mao ở TQ có cần bàn không nhỉ ?

    Vậy học thuyết của Marx hoặc những lời Marx nói ko minh chứng được gì về con người Marx cả. Thậm chí liệu chủ nghĩa Marx có thể là nguyên nhân gây hại không?

    Tôi không phải là tác giả bài viết, nhưng xin phép nói leo: Tôi không biết ai đả cho nhửng người có tên trong đoạn bôi đậm là học trò "xuất sắc" của Marx, nhưng tôi cho rằng nhửng kẻ đó đả lợi dụng và bóp méo quan điểm của Marx một cách gian giảo để nắm quyền lực. Nhửng kẻ đó xuống âm ti, nếu có gặp Marx đáng bị Marx đánh đòn.

    Một bài viết hay. Nhìn lại lịch sử và nhìn ra thế giới để trăn trở cho số phận của dân tộc mình. Bài học và kinh nghiệm của người sẽ áp dụng cho ta sao đây? Bài toán thật nan giải. Hãy dùng đầu óc của mình để giúp giải bài toán đó chứ đừng để thành kiến, hận thù của mình che mờ lý trí.

    Ông slinkee không đồng ý với người ta thì cũng không nên miệt thị gọi người ta là 'bé'. Tôi thấy ông chưa viết được cái gì đáng đọc như của ông NLHK đâu mà đã dám lên mặt miệt ông NLHK.

    Trần Dần có viết "Cái đèm đẹp đánh chết cái đẹp", bài này còn chưa đèm đẹp được .

    1- 2 câu nói về bản chất khác nhau . Của Marx gần với của Bakunin "Thật không đúng khi tự do của một cá nhân bị giới hạn bởi tự do của những người khác. Một người thật sự tự do khi tự do của mình được người khác chấp nhận và phản ánh bởi sự đồng thuận hoàn toàn tự do của những người xung quanh [người đó], tìm được sự xác nhận và mở rộng sự tự do của họ." Ok, tôi trích lại Marx "... Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người!"

    Cách nhìn của giới trí thức ngoài này về kiểu suy luận đó, Kiểu ba hoa như vậy, ngày nay được biết đến dưới tên gọi không mấy hay ho “Đảng Trung Quốc.” (Party Chinese). Đọc lại câu của Bakunin để thấy Mill đúng hơn "tự do của một cá nhân bị giới hạn bởi tự do của những người khác", hay nói đúng hơn, là sự an toàn (well-being) của người khác . Trong Bakunin và Marx, ta chỉ cần đặt giả xử thế người khác không đồng ý thì sao, mùi bạo lực dậy lên ngay . Trong Fukuzawa và Mill không có bạo lực . Fukuzawa kêu gọi mở cửa cho chủ nghĩa cá nhân, Mill kêu gọi tôn trọng cá nhân .

    Karl Marx dù muốn hay không đã là một hiện tượng, người ta không thể làm gì hơn được . Hitler, Stalin, Lenin và những tay độc tài khác cũng vậy . Người ta vẫn phải chấp nhận như là một phần của nhân loại và cần để học hỏi . Nhưng học hỏi cái gì mới là quan trọng .

    Ô Hồ nói thế nhưng thật tâm ông có làm thế hay không lại là chuyện khác . Về mặt này, ông Hồ còn tệ hơn Hitler là người thực hiện những gì mình nói . Ô Hồ còn nói không nên học ông về chuyện không có vợ, sure, chỉ có con rơi con rớt . Và ít nhất bé Hải Khôi vẫn coi ông là thánh sống .

    Còn một chuyện nữa, căn nguyên của mọi căn nguyên . Chắc bé còn muốn về nhà nên không (dám) nhắc tới .

    Yep, bỏ hết mấy thứ đó ra, còn lại câu nói của Fukuzawa và một vài chữ lẻ tẻ đây đó . Góp nhặt mấy chữ đó lại mua vui không đủ một trống canh .

    Gián còn chán nữa nói chi là người .

    Nguyễn Lương Hải Khôi viết:
    Chúng ta thường chỉ nghĩ đến một Nhật Bản chỉ trong vòng 30 năm mà đuổi kịp Phương Tây về kinh tế và kỹ thuật, nhưng chúng ta gần như không nghĩ đến một Nhật Bản khác, một Nhật Bản của "khai hóa tinh thần", cũng chỉ trong vòng 30 năm, các lãnh chúa của họ từ chỗ là những tên chúa đất sống ăn bám vào nông dân, đã tự mình học tập kinh doanh để trở thành tư sản; người nông dân của họ từ chỗ chỉ là "tá điền" của một lãnh chúa nào đó, tiến hóa đến chỗ trở thành "quốc dân".

    Bài của NLHK rất hay. Đừng chỉ nhìn thấy Marx trong bài mà bác bỏ tất cả các ý hay khác trong bài này.

    Man, thêm một bài trích Mác ngữ lục .

    Ai cũng mơ tới một thế giới xe hơi chạy trên đại lộ thênh thang . Anh này chế cái bánh xe vuông, anh kia chế bánh xe hình lục giác, ... Thôi thì đủ cả . Chỉ có một anh chế bánh xe tròn . Tất cả mọi người là thiên tài . Sure.

    Bé Nguyễn Lương Hải Khôi đã có công trích bản "Tuyên Ngôn Cộng Sản", sao không trích luôn 10 điều răn để xem bánh xe nó vuông vành vạnh thế nào .

    Hy vọng bé học thành công ở Nhật với trò trích Mác ngữ lục .

    Trích dẫn:
    Tinh thần toàn cầu - không phải là vong bản để trở thành "thế giới" - mà là ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc. Ngài nói một điều rất hay nhưng thực hiện nó như thế nào?

    Cần 2 "giải phóng": Giải phóng con người khỏi tư duy phụ thuộc người cầm quyền, khỏi tư duy thủ cựu kiểu Khổng-Nho. Giải phóng đất nước khỏi tư duy ý thức hệ.

    Không cần nhìn đâu xa, hãy học cách làm của TQ (tôi không cho mô hình TQ là hoàn hảo nhưng TQ đã từ một nước yếu hèn trở thành một nước hunhg mạnh cả về KT, QS và KHKT. Học TQ là cách khả dĩ VN có thể làm được ngay).

    Tinh thần toàn cầu - không phải là vong bản để trở thành "thế giới" - mà là ý thức xây dựng danh dự cho dân tộc. Ngài nói một điều rất hay nhưng thực hiện nó như thế nào?.

    Thoát Xác Luận (1)
    1
    Cám ơn tác giả Nguyễn Vĩnh đã cho thông tin rất hay về „lề phải“ Tuần VN; Lý do như sau: Tôi đọc 1 bài của tác giả Giáp Văn Dương trên Tuần VN, bài "Tư duy định hình đất nước hiên ngang hay khom lưng" và đã gửi một phản hồi:
    Thưa Tiến sỹ Giáp Văn Dương,
    Tôi có thể chia sẻ nội dung (hiểu ý và tán thành mục đích) bài viết của Tiến sỹ; Tuy nhiên để có thể đóng góp cụ thể cho việc “Dựng chân dung Việt Nam mới bằng đức tin và hành động“ thì thực sự bài viết chưa chỉ ra được điều gì ấn tượng. Nói về TƯ DUY cần định rõ 2 bước: Cung cách (phương pháp) tư duy và kết quả của nó: TƯ TƯỞNG. Có „tư tưởng quyết chiến“ và cũng có „tư tưởng quyết phát triển“. Một tư tưởng có thể được phát triển từ một người hay một nhóm người; nhưng để tư tưởng đó trở thành tư tưởng (hoài bão, khát vọng) của một đất nước (cộng đồng các dân tộc) thì cái cung cách tư duy là điều quyết định.
    Xin chân thành chia xẻ cùng Tiến sỹ.
    Trân trong,
    Kết quả sau đó và cho tới nay là:

    Thảo luận: Không có thảo luận trên trang này.
    Điều này chứng tỏ não trạng và „cung cách tư duy“ của tuanvietnam.net rất là … „lề phải“.
    2
    Đề tài này của Dân Luận đưa ra rất hay: Canh tân của Nhật-bản (Japan) và Đổi mới của Việt Nam. Tôi sẽ đọc lại cẩn thân và phản hồi tiếp sau.
    („Thoát xác luận“ có thể là một ý tưởng (mô phỏng) hay?!)

    Trân trọng,

    Nguyễn Vĩnh bàn về bài "Thoát Thân Luận" của Giáp Văn Dương:

    Trí thức trẻ của ta có nhiều người giỏi

    ... Nếu đọc lại bài viết và các điều tôi viết ra đây nhân việc này, các bạn của tôi thống nhất lại rằng, bài viết của anh Giáp Văn Dương (là bài nguyên văn) đúng là một bài viết có nhiều ý tưởng hay thì tôi muốn nói thêm vài câu nữa.

    Các bạn trẻ của chúng ta hiện nay khi được đào tạo cơ bản tốt, một số bạn lại có điều kiện du học ở những quốc gia có nền giáo dục tiên tiến hiện đại, rất nhiều khả năng sẽ trưởng thành lên rất nhanh.

    Nó tạo đà để các bạn ấy có thể trở nên lớp trí thức trẻ mới, mang được trong đầu óc mình một thế giới quan phóng khoáng của những công dân toàn cầu. Một khi lòng yêu nước thương nòi sưởi nóng tâm can, trong các bạn lại có một nhân sinh quan đúng đắn và tiến bộ vì đất nước Việt, chắc chắn các bạn ấy sẽ trở thành một lực lượng mạnh để cùng toàn dân ta dựng xây xã hội Việt Nam tốt đẹp trong tương lai gần.

    Những người trẻ tuổi như thế, họ vừa có học vấn vững chắc vừa mang tâm hồn dân tộc Việt xem ra không hiếm trong xã hội ta. Họ có mặt ở trong nước hay đang ở nước ngoài, nhưng tất cả đều là người Việt Nam, là công dân Việt Nam.

    Xã hội ta thậ̣t sự trông cậy nơi lớp người này. Điều ấy đáng kỳ vọng làm sao...

    Nguyễn Vĩnh

    Phần phân tích ý tưởng của tác giả từ tư cách “thần dân” chuyển thành “công dân” có phần thuyết phục song so sánh ý tưởng tự do với câu nói của Karl Marx và Nguyễn Tất Thành vốn có nói nhưng chưa từng được thực hiện là cách ngụy biện tinh vi . Khi cách hiểu tự do theo kiểu “kiến trong miệng chén” hay tự do kiểu “ kiến leo cành cụt ” như hiện nay sẽ gây ra hiểu lầm nguy hiểm vì con kiến trong miệng chén thật ra có bò đi đâu và kiến leo cành cụt tưởng mình tự do song chỉ leo ra leo vào ! Sẽ hiểu lầm rằng chủ nghĩa Karl Marx vẫn còn giá trị và cần tồn tại, rằng chế độ CSVN hiện nay vẫn có thể dẫn dắt dân VN đến tự do dân chủ thật sự ! Rất đúng như một độc giả nói là không biết VN sẽ phấn đấu tiến về đâu khi VN đang gặp vấn đề với chủ nghĩa Maoist của Nguyễn Tất Thành vốn được suy luận xuyên qua tư tưởng của Karl Marx đấu tranh giai cấp sai lầm và bạo lực cách mạng kinh hoàng !
    Phần này tác giả cần nghiên cứu thêm chủ thuyết “ Hòa bình vĩnh cữu” của Immanuel Kant để thấy dù ra đời trước chủ nghĩa Karl Marx nhưng chính xác hơn rất nhiều ! Cần nghiên cứu thêm “ Giấc mơ Mỹ “ để thấy ra đâu là hướng đi lên.

    Cần biết người Nhật có tiến bộ song sự tiến bộ cho đến giờ cũng vẫn chưa thể nói là song hành với hạnh phúc của người dân Nhật. Người dân Nhật cũng từng bị lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng ý thức tự trọng, gọi sự việc “chủ nghĩa phát xít gây chiến bị đập tan” là “nỗi nhục người Nhật thua Mỹ ” để khơi dậy óc chống Mỹ và dân Nhật bị đòi hỏi phải cực lực làm việc, phải tự nguyện sống hết sức tiết kiệm.

    Đa số người dân Nhật vẫn nghĩ mình mang mối nhục thua trận Mỹ thay vì thấy Hoàng gia Nhật sai lầm nên bị trừng phạt .
    Ngày nay ngày càng nhiều người Nhật ngộ ra sự việc này cho nên mới có việc một nhóm 400 người Nhật của một trường học ra tòa xin không chào cờ và không hát quốc ca ! Trong quốc ca Nhật có câu ca tụng Nhật Hoàng và cầu cho Hoàng gia tồn tại ngàn năm !

    Mỹ chống chánh sách phát xít sau đó giúp Nhật biết làm giàu bằng cách đi theo nền kinh tế tư bản thay vì gây ra chiến tranh đô hộ cướp bóc các nước khác . Chính việc làm đó của Mỹ mới mở đường cho dân Nhật có thành công và Hoàng gia Nhật phải giao quyền cho một chánh quyền dân cử quyết định con đường phát triễn chứ không phải nhờ tinh thần khai sáng của Minh trị Thiên Hoàng ! Người đàn ông đó không bỗng dưng mà sáng ý sáng lòng !

    Nhờ sự hiểu chưa sâu của dân chúng Nhật mà Hoàng gia Nhật tồn tại chỉ để sửa chửa sai lầm thời kỳ theo phát xít. Cho đến nay chánh phủ Nhật rất giàu nhưng dân Nhật không giàu, tất nhiên là so với dân Mỹ và mức thành công kinh tế.

    Xã hội công dân Mỹ tiến bộ đến mức cao đáng ngưỡng mộ dù biết rằng VN có chuyển hướng bỏ Cộng Sản ngay hôm nay cũng còn rất lâu mới theo kịp ! Và chính quan điểm sau đây của Tổng Thống George. W . Bush mới đáng để nghiên cứu :” Quý vị xài tiền của quý vị tốt hơn là chánh phủ xài tiền của quý vị !”
    Tổng thống Bush và nhiều người không ủng hộ chánh sách bảo hiểm y tế toàn dân bằng tiền ngân sách thu thuế. Người dân sẽ đòi sự phụ vụ tối đa trong khả năng tối thiểu !
    Bill Gates không để nhiều tài sản cho con cái mà lập các hội đoàn và tài trợ cho các vấn đề xã hội. Theo ông Bush người giàu dùng tài sản của mình như cách đó tốt hơn. Đánh thuế cao để hạn chế tài sản của Bill Gates chưa hẳn là biện pháp tối ưu ! Dù khoãng cách giàu nghèo xa nhưng nguyên nhân là do khoãng cách năng lực xa thì không thể coi là bất hợp lý hay “bốc lột” cần điều chỉnh ! Ở góc độ công dân ưu tú, ông Bill Gates biết đâu là nhu cầu cấp bách cần tài trợ. Đó là sự chia xẻ quyền lực nhà nước cho công dân có đủ trình độ và đạo đức không thua gì một tổng thống. Đôi khi những công dân này còn có năng lực cao hơn do khả năng tạo ra công ăn việc làm cho dân, mà một tổng tống chưa chắc gì làm được. Đất nước chỉ có một người làm Tổng thống nhưng không phải chỉ có một người tài ba và nhiều người tài ba không thích làm Tổng thống có hạn kỳ, làm người giàu nhất, làm bác sĩ giỏi nhất nhiều khả năng có vinh dự này ...suốt đời !

    Trần Thị Hồng Sương

    Bài viết ý mới, tuy nhiên tác giả có thể chỉ giáo cho tôi một vài thắc mắc liên quan tới Marx như sau:

    - Tại sao những người theo học thuyết Marx (thậm chí còn tưng được ca ngợi là các học trò xuất sắc) như Lenin, Stalin, Mao, Khome đỏ, Tổ chức khủng bố ở châu Âu như Lữ đoàn đỏ, Tổ đội đỏ9 red brigad), Csaucsecu,... đều có vấn đề cả. Ví dụ như: ngay chính nhân dân của các nước có các lãnh đạo này không coi những người đó là gì cả, thậm chí còn bị căm ghét nữa. Còn các tổ chức khủng bố thì rõ rồi. Khomer đỏ khỏi phải bàn. Còn Mao ở TQ có cần bàn không nhỉ ?

    Vậy học thuyết của Marx hoặc những lời Marx nói ko minh chứng được gì về con người Marx cả. Thậm chí liệu chủ nghĩa Marx có thể là nguyên nhân gây hại không?

    Cảm ơn bác về bài viết, bài viết rất có ý nghĩa, đặc biệt là những ai có tâm huyết với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... Từ ngày có nhận thức đến giờ cháu nghe người lớn ở đất nước ta hô hào khẩu hiệu: "Việt Nam ta phải đi tắt đón đầu". Chẳng hiểu họ bảo đi tắt đón đầu cái gì, và phải đón đầu như thế nào khi mà thiết bị tiên tiến nhập về thì các nhà khoa học, kỹ thuật Việt Nam không tự vận hành được, lại thuê chuyên gia nước ngoài, rồi khi hỏng thì bỏ hoặc chờ mua phụ tùng nhiều khi thời gian chờ đến nửa năm. Mà những thiết bị đó đã là lỗi thời ở các nước phát triển rồi (thường đã đưa vào sản xuất hơn 10 năm họ mới xuất khẩu cho mình), nếu muốn tự vận hành và sửa chữa được các nhà khoa học nước ta phải bắt chước 5-10 năm, lúc đó thế giới đã coi những thiết bị đó là lạc hậu. Cháu xin lỗi có thể những câu trên hơi quá, nhưng là một kỹ thuật viên, rất nhiều lần cháu cảm thấy bản thân mình bất tài vô cùng, còn làm kinh tế thì thấy thất vọng, xấu hổ với chính mình. Suốt cả đời, từ thế hệ này sang thế hệ khác, người Việt ta chỉ biết bắt chước thôi, chưa thể đi bằng đôi chân của mình nói gì đến sáng tạo ra đôi cánh để bay lên bằng người.
    Thanh Binh

    Bác Giáp Văn Dương trên Tuần Việt Nam cũng có bài "Thoát thân luận", trong đó có đoạn:

    Nhưng như vậy có thực sự khôn ngoan, khi châu Á đang trỗi dậy mạnh mẽ, và thế kỉ 21 được cho là thế kỉ của châu Á? Và Việt Nam có thực sự cần thiết phải học lại từ đầu bài học của nước Nhật 125 năm về trước?

    Tôi hoàn toàn đồng ý với bác Dương là dân tộc Việt Nam cần một cuộc thoát thân. Nhưng thoát đi đâu? thoát theo hướng nào, nếu không phải thoát Á, thoát Âu, thoát Mỹ? Không lẽ chúng ta lại tiếp tục ca bài "Thi đua ta quyết tiến lên / Tiến lên ta quyết tiến lên hàng đầu / Hàng đầu rồi biết đi đâu? / Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi..." Đi một cách mất phương hướng như thế, thoát thân một hồi khéo lại... về lại thế kỷ 18 :D

    Theo tôi thấy, bên dưới sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nước châu Á đều có hình hài của tư tưởng "thoát Á". Ngay cả Trung Quốc, như bà Hồ Thư Lập đã tổng kết: "Tất cả các thành tích của cải cách kinh tế Trung Quốc từ 1978 có thể kết vào đúng một câu: 'Giảm sự can thiệp trực tiếp của chính quyền và tăng vai trò làm chủ của thị trường'!" Một xã hội dân chủ hơn, một xã hội cởi mở và năng động hơn, các công dân trình độ cao và nhân bản hơn chính là con đường mà Việt Nam nói riêng, và các nước châu Á nói chung, phải hướng đến.