Trương Thái Du - Con đường dân chủ Việt Nam

  • Bởi tqvn2004
    11/12/2009
    6 phản hồi

    Trương Thái Du<br />
    Người viết báo độc lập, TP. HCM

    Phải khẳng định mô hình dân chủ thể hiện tối thiểu ở hình thức phổ thông đầu phiếu là tất yếu sẽ diễn ra tại Việt Nam nói riêng và phần lớn lãnh thổ Á Đông nói chung. Bài viết này thử xoay quanh mấy câu hỏi “Khi nào?”, “Thế nào?” và “Tại sao?”. Tôi lấy cảm hứng từ Đặng Tiểu Bình: “Thế kỷ sau, Trung Quốc qua nửa thế kỷ nữa mới có thể thực hiện phổ thông đầu phiếu [1]”.


    Tác giả chia sẻ quan điểm dân chủ của Đặng Tiểu Bình

    Các nhà “dân chủ” Việt Nam thường dẫn dắt khái niệm dân chủ về khởi nguồn La Mã cổ đại để ngầm xem nó như là cốt túy thường hằng của văn minh phương Tây. Theo Huntington [2], vào năm 1942 thế giới chỉ có 12 thể chế dân chủ. Con đường dân chủ ở nhiều quốc gia cũng không hề là con đường một chiều, mà có tiến có lùi và không ngừng hoàn thiện. Chẳng hạn đến năm 1944 nữ giới ở Pháp mới có quyền bầu cử và mãi đến thập niên 1960, dưới ngọn cờ của Martin Luther King người da màu mới giành được quyền bình đẳng tương đối chấp nhận được trong xã hội Mỹ. Cho rằng các thể chế Âu – Mỹ là khuôn mẫu nên hướng đến, Huntington gọi chung các nước không có phổ thông đầu phiếu hoặc phổ thông đầu phiếu thiếu công bằng là Nondemocratic regimes (phi dân chủ) hoặc Authoritarian Regimes (chuyên chế).

    Ghi nhận sự dân chủ hóa tại 35 quốc gia trong giai đoạn 1974 – 1990, Huntington gọi đấy là làn sóng dân chủ hóa thứ ba của nhân loại. Ông chia thành ba nhóm: Độc tài một đảng (11 nước, có Đài Loan, Liên Xô), Độc tài cá nhân (7 nước, có Ấn Độ, Philippine), Độc tài quân sự (16 nước, có Hàn Quốc, Pakistan) và Độc tài dân tộc (1 nước là Nam Phi). Ông cũng chú thích Đài Loan không dân chủ cho tới năm 1990, Nigeria và Sudan thì đảo ngược từ dân chủ về độc tài.

    * * *

    Trên cơ sở các khái niệm Huntington đưa ra, ta thấy rằng từ giữa thế kỷ 20 đến nay, tại Trung Quốc và Việt Nam luôn tồn tại chế độ một đảng. Tuy vậy, đi sâu vào thực chất, lại thấy có sự chuyển động nội tại không thể phủ nhận: Chế độ một đảng với nhiệm kỳ lãnh tụ suốt đời đã được cải tiến thành chế độ một đảng, lãnh tụ tối đa hai nhiệm kỳ, diễn ra tại Trung Quốc năm 1978 và Việt Nam 1986. Câu hỏi ở đây là Trung Quốc và Việt Nam có hoàn toàn nằm ngoài trào lưu dân chủ hóa thứ ba kia hay không? Biến cố Thiên An Môn 1989 là phong trào dân chủ dân túy hay chỉ là bi kịch chính trị đẫm máu, nơi Triệu Tử Dương đấu đá và giành quyền lực với Lý Bằng, gián tiếp thách thức vai trò nguyên lão của Đặng Tiểu Bình?


    Afghanistan đã có bỏ phiếu tự do nhưng nhiều khiếm khuyết

    Trong “cẩm nang” dân chủ nặng ký của mình, Huntington đưa ra các hướng dẫn dân chủ hóa rất chi tiết, từ hàng loạt phân tích và minh chứng khá kỹ càng. Tuy vậy, cũng như Marx, Lenin và Stalin, ông chưa chú trọng nghiên cứu ảnh hưởng của hình thái xã hội Á Đông đặc thù trong luận thuyết của mình. Đành rằng tài liệu này Huntington hoàn thành năm 1991, tôi vẫn thấy việc ông đặt trường hợp Thái Lan ra ngoài sự quan tâm của mình, là một điều đáng tiếc. Thật vậy, mâu thuẫn giữa thị dân và nông dân ở nước Thái đã, đang và sẽ trì hoãn hành trình dân chủ nơi ấy. Nó đặt công thức dân chủ Âu – Mỹ vào tình trạng hài hước: Kẻ nắm đa số phiếu trong một cuộc bầu cử phổ thông đã bị thải loại. Đó là chưa kể những gì diễn ra sau khi Huntington qua đời, mới đây thôi, tại Afghanistan: Các địa điểm bỏ phiếu luôn là điểm nóng, máu đổ đầu rơi. Phía sau cánh gà sân khấu, các đảng phái ký kết những thỏa hiệp đầy ám muội.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến vận động dân chủ dễ thấy nhất là kinh tế kiệt quệ, xã hội băng hoại, lãnh tụ qua đời. Chúng ta nhìn rõ điều này ở Singapore. Sự ổn định của nhà nước một đảng, dù đã được thu nhỏ chỉ trong một đô thị, cũng nên lấy làm tham chiếu. Theo tôi, hiện tượng mê tín thần quyền và lãnh tụ của xã hội châu Á nói chung cũng cần được tham khảo. Chẳng hạn gia tộc Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, đã củng cố nền độc tài của mình bằng họ của thánh Gandhi. Sự mị dân giúp họ giữ vững quyền lực liên tục mấy đời. Công thức nghị sĩ ông truyền, cha tiếp, con nối (dù có thông qua bầu cử) tại Nhật nhiều khi đã được các cử tri tỉnh táo mô tả là “ngán đến tận cổ”. Hiện tượng bình dân Trung Quốc ngưỡng mộ họ Mao phải được nhìn nhận trong bức tranh chung của cả một lục địa.

    Giai đoạn thể chế một đảng, lãnh tụ suốt đời ở Trung Quốc và Việt Nam lần lượt là 29 năm (1949 – 1978) và 41 năm (1945 – 1986). Các con số này nói chung chỉ mang tính tượng trưng, chọn mốc khác chúng ta sẽ con số khác. Song, chúng đều khiến tôi hình dung về một chặng đường dài mang tính chu trình, không ngừng tự tiến hóa và va đập với các xu hướng khu vực lẫn toàn cầu.

    Đa nguyên chính trị có cần nền tảng đa nguyên của xã hội không? Xã hội Việt Nam chưa bao giờ thân thiện với phản biện, các quan điểm khác nhau ít khi có cơ hội đứng bình đẳng cạnh nhau, bổ khuyết cho nhau.

    Nền dân chủ Âu – Mỹ có bền vững không? Nhân dân Âu – Mỹ có khát khao thay đổi hay không? Chỉ nhìn vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ trong thoái trào kinh tế 2008 là rõ. Họ đã mất bao nhiêu năm để đạt được thành quả như hôm nay?

    Mới đây trả lời phỏng vấn RFA luật sư Trần Lâm nêu ra ý tưởng lobby để tách đảng cầm quyền tại Việt Nam làm hai. Ông nói: “Làm hai thì nó có cái lợi là có hai Đảng, ba Đảng thì nó có đấu tranh với nhau, nó có phản biện nó có công khai”.

    Thực ra ý tưởng này không mới và về bản chất, do yếu tố căn cước vùng miền rất nặng nề trong cơ cấu chính trị, đảng cầm quyền tại Việt Nam có thể nói là đã bao gồm ít nhất ba phân nhánh (bắc – trung – nam). Chúng ta lại phải chờ? Chờ cho sự phát triển và đồng hóa tự nhiên xóa nhòa căn cước vùng miền? Sử gia Keith Taylor đã có lý khi cho rằng ở khía cạnh nào đó, từ ngày khai sinh, lịch sử Việt Nam là những cuộc tranh chấp vùng miền liên miên.

    Tôi cảm thấy thú vị với khái niệm vận động dân chủ hành lang (lobby dân chủ). Nó loại bỏ được nhóm người có âm mưu đầu cơ chính trị, những cá nhân thích mơ tưởng quyền lực (chức vụ bộ trưởng, thủ tướng chẳng hạn) hơn là trăn trở hoàn toàn với vận mệnh quốc gia, ấp ủ tình yêu nước thuần khiết. Họ chống độc tài và cũng chống cả dân chủ, như chính Huntington đã chỉ ra nhan nhản tại các phong trào dân chủ trên thế giới: “They used the rhetoric of democracy in their efforts to replace the existing authoritarian regime with one of their own[3]”.

    Đa nguyên chính trị có cần nền tảng đa nguyên của xã hội không? Xã hội Việt Nam chưa bao giờ thân thiện với phản biện, các quan điểm khác nhau ít khi có cơ hội đứng bình đẳng cạnh nhau, bổ khuyết cho nhau. Lấy ví dụ cộng đồng Việt kiều tại Mỹ, dường như hiện nay chỉ có một quan điểm thống trị, bất cứ cái nhìn cá nhân và khác biệt nào cũng bị đưa ra công luận đấu tố dữ dội. Brian Đoàn, Nguyễn Hữu Liêm là những ví dụ nóng hổi. Khi những kẻ có cái đầu rực lửa dễ dàng bước lên làm chủ diễn đàn, tấn công vào cảm tính của xã hội, đó là lúc con người đang bị dẫn vào chiếc rọ độc tài một cách tự nguyện và hả hê hạnh phúc!

    Trong một tranh luận gần đây, tôi cho rằng xã hội Thái Lan đang khá ổn định dấn bước trên con đường dân chủ của mình. Có năm yếu tố củng cố sự ổn định ấy: Chủng tộc (cơ bản khối dân tộc đang nắm vận mệnh nước Thái là đồng chủng), Tôn giáo (đạo phật nhân ái là quốc giáo của Thái Lan), Vương quyền (người Thái rất tôn trọng hoàng gia), Chia rẽ lịch sử và căn cước vùng miền (Thái Lan không tồn tại căn cước vùng miền sâu đậm như Việt Nam, họ có một lịch sử chung vì thời cận đại họ không bị chia cắt, bị ngoại bang đô hộ). Chiếu xét các yếu tố ấy vào hiện tình Việt Nam, khả năng một cuộc nội chiến nồi da xáo thịt tiếp bước “cách mạng dân chủ đẻ non” là không nhỏ.

    * * *

    Tiếp cận nội hàm “ở Việt Nam không có dân chủ” hay cho rằng nó đang trên hành trình đi đến dân chủ, sẽ dẫn chúng ta đến hai cái nhìn trái ngược, song hết sức cần thiết. Con đường dân chủ văn hóa, đa nguyên tư tưởng chỉ có ngòi bút là vũ khí. Nó tụng ca thanh tẩy và cho rằng thanh tẩy bao giờ cũng nhân văn hơn phủ định, đạp đổ. Người hoạt động dân chủ kiểu này vô nhiễm trước quyền lực và quyền lợi, họ thân thiện hóa những đối lập và tránh được đối đầu không cần thiết. Chính thái độ ấy sẽ điều chỉnh công thức dân chủ Âu – Mỹ, khi áp dụng vào Á Đông. Nó dễ dàng nhận ra những yếu tố phản dân chủ và cạm bẫy, trong một qui trình dân chủ kiểu mẫu.

    ______________________________________

    [1] Bìa 4, Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ 21, tác giả Phùng Lâm, Nguyễn Văn Mậu dịch, NXB VH-TT 1999.

    [2] Samuel P. Huntington, “How Countries Democratize”, Political Science Quarterly, Vol. 124, Number 1, 2009.

    [3] Tạm dịch: Họ dùng cái hoa mỹ của dân chủ trong nỗ lực thay thế chế độ độc tài hiện hữu bằng chế độ (độc tài) của riêng họ.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Khách viết:
    Không rõ nhà cổ sử Trương Thái Du dựa vào đâu để đưa ra thông tin này?
    Jawaharlal Nehru - Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, chỉ có một người con duy nhất là Indira Nehru. Bà Indira Nehru lập gia đình với ông Feroze Gandhi, lấy họ của ông này, cho nên được gọi là Indira Gandhi. ... Cho nên nói gia tộc Nerhu “củng cố nền độc tài của mình bằng họ của Thánh Gandhi” là xuyên tạc sự thật.

    Trương Thái Du hay tỏ vẻ nhiều chữ để lòe bịp những kẻ thiếu hiểu biết, do vậy anh ta có fans riêng của mình. Nhưng ở những diễn đàn đứng đắn, anh ta đang mất uy tín nặng và càng ngày càng lộ cái đuôi phản dân chủ, phi nhân bản.

    Tuy nhiên việc đăng các bài của TTD cũng là cần thiết để chúng ta hiểu thêm những suy nghĩ sai lạc trong tầng lớp trí thức Việt.

    Oldmovie13

    Dân chủ, cộng hòa vốn đã có từ xa xưa ở phương Tây. Cho nên, cứ để con cháu tây du học hoặc để tây sang mở trường ở ta là một trong những điều kiện quan trọng để tiến đến dân chủ nhanh nhất (hai điều kiện còn lại là phát triển kinh tế và tự do thông tin).
    Người Việt ta vốn đã có truyền thống "sống lâu lên lão làng", lại thêm cái Nho học dạy con người ta phải phục tùng, cấm cãi người trên là những thứ tạo ra sự mất dân chủ ngay từ trong gia đình. Đi học cấm cãi thầy, đọc sao chép vậy. Đi làm cấm cãi sếp, thủ trưởng luôn luôn đúng. Có lẽ cái sự thiếu dân chủ nó có nguyên nhân sâu xa như vậy.
    Người Tây ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Hy lạp, La mã. Trong kho tàng tri thức văn hóa Hy-La có truyện thần Dớt diệt cha mình là Cronos để chiếm ngôi. Phải chăng cái ám ảnh "già cũ không tự rút về hưu là trẻ nó diệt" là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến người Tây sớm đổi mới, nhanh phát triển hơn người Việt ta.

    “Theo tôi, hiện tượng mê tín thần quyền và lãnh tụ của xã hội châu Á nói chung cũng cần được tham khảo. Chẳng hạn gia tộc Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, đã củng cố nền độc tài của mình bằng họ của thánh Gandhi. Sự mị dân giúp họ giữ vững quyền lực liên tục mấy đời.” (Trích TTD)
    Không rõ nhà cổ sử Trương Thái Du dựa vào đâu để đưa ra thông tin này?
    Jawaharlal Nehru - Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, chỉ có một người con duy nhất là Indira Nehru. Bà Indira Nehru lập gia đình với ông Feroze Gandhi, lấy họ của ông này, cho nên được gọi là Indira Gandhi. Gia đình Nerhu có đến ba người làm Thủ tướng Ấn Độ: Jawaharlal Nehru, Indira Gandhi (bị ám sát năm 1984) và Rajiv Gandhi (bị ám sát năm 1989).
    Nhưng ông Feroze Gandhi (1912-1960) là một nhà báo, một chính trị gia, không hề có liên hệ thân tộc gì với Mahatma Gandhi (Thánh Gandhi). Cho nên nói gia tộc Nerhu “củng cố nền độc tài của mình bằng họ của Thánh Gandhi” là xuyên tạc sự thật. Hơn nữa, Ấn Độ là một nước dân chủ, việc gia đình Nerhu có nhiều đời làm Thủ tướng là do người dân Ấn Độ (nhất là nông dân) ủng hộ bằng lá phiếu, sao lại gọi đó là “nền độc tài”?

    Phải khẳng định rằng con đường đi tới một nền dân chủ đích thực không dể dàng,dù là ở nước nào,bất cứ tại nước nào cũng có những cản ngại đặc thù riêng.Không phải cứ đổ cho "căn cước vùng miền","Dân trí thấp","Văn hóa đặc thù"...nên không thể phát triển dân chủ ....Nếu nói về căn cước vùng miền,chủng tộc hỗn tạp ,không đâu như nước Mỹ vậy mà họ vẫn xây dựng được một xã hội tự do dân chủ khá tốt(Trong xã hội Mỹ có nhiều người Việt đấy).Nói về dân trí,chẳng lẽ dân Việt ngu hơn dân Hàn quốc ,ngu hơn dân Thái,ngu hơn dân Mã Lai à?
    Có nhiều người chỉ ra những khiếm khuyết,những bất ổn giai đoạn trong các xã hội dân chủ để biện minh cho chế độ độc tài toàn trị .Nhưng phải hiểu rằng loài người phải tốn hàng nghìn năm tranh đấu để tìm ra các hình thái nhà nước dân chủ như hiện nay,và phải luôn tranh đấu để sửa chửa chúng khi chúng gặp bất ổn .Sự ưu việt của một chế độ tự do dân chủ là người dân được tham gia vào quá trình sửa chửa các khiếm khuyết,các sai lầm thông qua lá phiếu bầu tự do của mình,thông qua quyền được phê phán những kẻ cầm quyền....Cái mà ở Việt nam chúng ta không có.!Nếu mà có một xã hội dân chủ hoàn hảo không có những những lộn xộn phức tạp nảy sinh thì không cần khái niệm Thiên Đường làm gì.
    Việt nam ta sau bao nhiêu năm chiến tranh,chia cắt, ngộ nhận giờ đã đến lúc mỗi ngườichúng ta phải học những kiến thức vỡ lòng về dân chủ.Dù muộn còn hơn là không bao giờ.Phải học để mỗi người dân chúng ta biết cách tự bảo vệ trước sự lạm quyền,học dân chủ để mỗi người dân tham dự vào việc quản lý tài nguyên ,nguồn lực của đất nước,để nguồn lực của đất nước được sử dụng hữu hiệu không chui vào túi của ai đó như PCI như PMU18....Đã bao nhiêu năm dân Việt chong chờ vào các ông lãnh đạo tốt,ông đại biểu quốc hội dũng cảm....Chờ trong tuyệt vọng mỏi mòn,van vái trời Phật cho ông lãnh đạo tốt như là một định mệnh...!!!
    Ai dạy chúng tôi,ai khai sáng chúng tôi,khi dân Việt dân trí thấp(ngu) đây.
    Những ai thấy mình tài giỏi học hành nhiều,đi đây đó tiếp xúc với văn minh nhân loại nhiều hãy xắn tay áo lên mà hành động đi,đừng ra vẻ tài giỏi rủa xả đồng bào mình ngu nữa,đừng lợi dụng sự sợ hãi,sự ngu mội của dân mình nữa.....Thấy nhớ học giả Nguyễn Hiến Lê quá!Bây giờ cũng có bác Nguyễn Công Huân(tqvn) lập ra Dân Luận dịch nhiều tài quý hiếm cho chúng ta tham khảo ,học hỏi,bàn luận.(Sau này phải tìm bác Huân đãi cho bác một món đặc sản mà bác thích nhất...)
    PS:Có một số người viện dẫn trường hợp Singapo để bào chữa cho sự độc đảng ở Việt nam.Ở Việt nam mù mờ về trường hợp này,bác Huân có thể dịch các tài liệu về đảo quốc này cho chúng tôi tham khảo được không bác?(thương bác quá! Không biết nhờ ai).Việc học theo Singapo coi chừng như vụ SCIC học theo Tamasek.
    Ông Trương Thái Du có nhắc câu nói của Đặng Tiểu Bình :"Qua nửa thế kỷ sau Trung quốc mới có thể có phổ thông bầu phiếu",tôi nghĩ câu này chỉ phù hợp với Trung Quốc,bởi vì Trung Quốc là một quốc gia được hợp thành từ nhiều quốc gia thông qua sự xâm lược ,chiếm đóng cưỡng bức,nhiều nền văn hoá,nhiều ngôn ngữ tồn tại trong lãnh thỏ của họ ... các lãnh đạo Trung quốc sợ dân chủ sẽ làm nước họ tan ra nhiều mảnh.Việt nam về cơ bản cùng một tiếng nói cùng một chữ viết,sự khác biệt văn hóa gĩưa các vùng miềng là không lớn và đó là một sự thuân lợi của nước ta.Ông Trương Thái Du không nhìn ra điều này sao?Ông còn lấy cảm hứng từ câu nói của Đặng Tiểu Bình,mỉa mai thay!Nếu chúng ta chờ 50 năm nữa mới có dân chủ thì không biết sẽ ra sao?Có lẽ Trung Quốc đã hoàn tất công cuộc lấn chiếm nước Việt nam ta!
    Nguyễn.

    Đọc thông tin trên mạng đã nhiều nhưng cho đến tận bây giờ vẫn chưa thấy có ai viết được một bài rõ ràng định nghĩa ngắn gọn mà đầy đủ, xúc tích về "dân chủ là gì? dân chủ ở Việt Nam ngày nay và ngày sau nó có chiều hướng ra làm sao?".
    Cứ hô hào đấu tranh dân chủ nhưng lại chẳng rõ dân chủ ra sao thì có khác gì làm bài tập mà không thuộc định luật, định lý. Cấy lúa mà chẳng hiểu lúa mình cấy là cái giống gì? năng suất dự kiến ra sao? chất lượng gạo thế nào?
    Xem đa phần các bài viết về dân chủ toàn là kiểu "giống lúa này ông A cấy tốt lắm, bài tóan kiểu này bà B giải theo kiểu yyy". Rất cần có ai đó chỉ ra được nghiệm số phù hợp với bài toán của đồng đất Việt Nam chứ không phải là ngõi trông học mót láng giếng, làng xóm. Một đcsVN lãnh đạo toàn dân tiến lên XHCN nhưng không hiểu rõ về XHCN đã khiến dân tộc này đau thương lắm rồi.
    Những người tạm được xem là tinh hoa trí tuệ của dân tộc mà còn lơ ngơ gà mờ thế, trách chi đất nước này chỉ có độc tài, mãi chưa thấy có dân chủ!