Vũ Tường - Năm 1948 đánh dấu sự tan rã của liên minh những người cộng sản và phi cộng sản (phần 7)

  • Bởi tqvn2004
    28/11/2009
    2 phản hồi

    Vũ Tường<br />
    Nguyễn Việt chuyển ngữ

    Bước ngoặt dẫn đến đấu tranh giai cấp và nội chiến vào năm 1948

    Chính sách của ĐCSĐD được điều chỉnh dần vào năm 1948 khi Đảng ứng phó với những hoàn cảnh mới. Những thay đổi chính sách được tiến hành thông qua hai hội nghị Trung ương vào tháng Giêng và tháng Tám năm 1948. Các thay đổi này bao gồm một chính sách ruộng đất mạnh tay hơn và một Đảng mang tính vô sản nhiều hơn. Sau hội nghị tháng Giêng, xuất hiện cuộc tranh luận công khai gay gắt giữa các lãnh tụ không cộng sản và cộng sản của chính phủ về tư pháp độc lập và vai trò của những người không cộng sản trong cách mạng. Cuộc tranh luận này còn kéo dài cho mãi tới năm 1950, nhưng vào cuối năm 1948 chúng ta đã có thể thấy sự rạn nứt sâu sắc và không thể hàn gắn giữa hai nhóm lãnh đạo trong chính phủ liên hiệp. Những người không cộng sản sẽ không bị hoàn toàn vô hiệu hoá cho tới khoảng năm 1950, nhưng nhiều người trong số họ đã bắt đầu “dinh tê” vào năm 1949, chủ yếu do bất mãn với những người cộng sản. Dù cho các sự kiện tại Việt Nam không dẫn ngay đến nội chiến như ở Mã Lai, Miến Điện và Indonesia, thì năm 1948 ở Việt Nam vẫn là bước ngoặt quan trọng trên một đường hướng không thể đảo ngược.

    Đầu tiên chúng ta hãy xem xét chính sách ruộng đất. Vào các ngày 15-17 tháng Giêng năm 1948, ĐCSĐD tổ chức hội nghị Trung ương để định ra chính sách cho tình hình mới. Nghị quyết của hội nghị này cho thấy sự phấn khích của những người cộng sản Việt Nam trước các tiến triển mới trên thế giới và thông báo những thay đổi quan yếu trong chính sách ruộng đất cùng với nhiều chính sách khác. Phần nhận định tình hình quốc tế trong nghị quyết ghi nhận sự thành lập của Cục Thông tin của các Đảng Cộng sản và Lao động, đồng thời nhấn mạnh các điểm quan trọng trong bài diễn văn của Zhdanov. Nghị quyết bắt đầu với câu, “Các lực lượng phản dân chủ và dân chủ, đế quốc và chống đế quốc trên thế giới đã dần dần sắp thành hai phe rõ rệt ‘Phe đế quốc phản dân chủ’ và ‘Phe dân chủ chống đế quốc’”; đây cũng là một câu quan trọng trong bài nói chuyện của Zhdanov.78 Nghị quyết nhận định rằng “cuộc đại phản công của Quân Giải phóng Trung Hoa đang đẩy mạnh phong trào nông dân khởi nghĩa [tại các vùng dưới sự kiểm soát của QDĐTQ] và cách mạng ruộng đất [tại các vùng của ĐCSTQ] ở Trung Hoa. Quân Giải phóng Trung Hoa đã lập được căn cứ sát biên giới Bắc Bộ”. [79] Ngoài việc nhấn mạnh rằng cuộc vận động giảm tô phải được tiến hành mạnh mẽ hơn, lần đầu tiên Đảng ra lệnh tịch thu đất và tài sản của “Việt gian”, hoặc để chia lại cho nông dân nghèo, hoặc để bộ đội canh tác nhằm tự cung tự cấp. [80] Đảng cũng ra lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ nông vận ở cấp khu và tỉnh nhằm đẩy nhanh việc vận động nông dân. [81] Các điều tra nông thôn trước đây đã có chỉ thị nhưng không được tiến hành; giờ đây, việc này được ưu tiên, một phần bởi vì Đảng cần biết “Việt gian” có bao nhiêu đất đai và tài sản để tịch thu. Hội nghị cũng quyết định một số chính sách nhằm kiện toàn tổ chức của ĐCSĐD. Đảng đã phát triển nhanh chóng kể từ năm 1945: trong quý bốn của năm 1947, chỉ riêng số lượng đảng viên tại các tỉnh phía Bắc đã lên đến hơn 10.000. [82] Các lãnh tụ của đảng không thực sự hài lòng với những con số này, vì công nhân vẫn mới chỉ chiếm 7% và phụ nữ 6,5% trong tổng số đảng viên, trong khi đa số đảng viên xuất thân từ trung nông và tiểu tư sản. Đảng quyết định triệu tập Đại hội vào tháng Tám năm 1948 bởi:

    Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi hơn hai năm rồi. Cuộc kháng chiến toàn quốc cũng đã hơn một năm. Tình hình thế giới lại bước vào một thời mới, với sự khủng hoảng kinh tế và chính trị đương lan rộng trong các nước tư bản. Những biến cố mới ấy đẻ ra những nhiệm vụ nặng nề. Hội [Đảng] phải duyệt lại chương trình, đường lối về cuộc vận động cách mạng trong nước. Hơn nữa, việc chung đúc kinh nghiệm và thống nhất tư tưởng, hành động toàn Hội là vấn đề cấp bách. [83]

    Ngoài một Đại hội (rồi sẽ bị hoãn nhiều lần cho mãi tới tháng Ba năm 1951), Trung ương ĐCSĐD khởi động một chiến dịch tăng số lượng đảng viên với tham vọng phát triển số Đảng viên ở mỗi khu lên 30% trong năm tháng tiếp theo.84 Xuất phát từ mối quan ngại của Đảng về việc đảng viên gồm quá nhiều người thuộc các giai cấp trên, nghị quyết này ra chỉ thị rằng việc kết nạp phải chọn lọc hơn: đối tượng chính là bộ đội và du kích, công nhân, và dân chúng ở các vùng nằm dưới sự kiểm soát của Pháp và các vùng dân tộc thiểu số. Ngoài mục tiêu trên, phát triển Đảng phải đi kèm với việc kiện toàn thông qua tăng cường đào tạo và các hoạt động có kế hoạch. Mục đích là có được 20% chi bộ trong toàn Đảng “được kiện toàn” trong vòng năm tháng. [85]

    Một phần nhờ chiến dịch kết nạp đảng viên này mà Đông Dương gần đạt tiêu chuẩn thế giới vào đầu năm 1949 về tỉ lệ đảng viên cộng sản trên tổng số dân chúng. Như Hồ Chí Minh đã tự hào tuyên bố trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ 6 vào tháng Giêng năm 1949, trong khi có 20 triệu người cộng sản trên tổng số hai tỉ người (1 trên 100) trên toàn thế giới, thì tại Đông Dương, tỉ lệ này là 1 trên 112.[86] Số lượng đảng viên đã tăng 300% trong chín tháng đầu năm 1948 và 450% trong toàn năm 1948.[87] Từ chỗ chỉ có 20.000 đảng viên vào cuối năm 1946, một năm sau đó Đảng đã có 50.000 thành viên, và khoảng 180.000 vào cuối năm 1948.[88]

    Cả chính sách ruộng đất và việc kiện toàn tổ chức đảng đều chỉ ra những bước đi cực đoan hơn trên con đường đấu tranh giai cấp theo hướng bạo lực sẽ bắt đầu thực sự vào năm 1953. Tuy nhiên, những thay đổi chính sách này có ít ý nghĩa tượng trưng [symbolic significance] hơn cuộc tranh luận giữa những người cộng sản và những người không cộng sản trong chính phủ Việt Minh về độc lập tư pháp và thực thi pháp luật tại địa phương. Bắt đầu vào năm 1948 và kéo dài cho tới đầu năm 1950, cuộc tranh luận công khai này bề ngoài có vẻ ôn hoà nhưng không có nghĩa là không quan trọng.[89] Những bộ trưởng không cộng sản nắm quyền kiểm soát các lãnh vực chính sách xã hội, kinh tế, văn hoá và tư pháp. Các trí thức thành thị cũng đóng những vai trò nổi bật trong các cấp và các cơ quan của chính phủ; họ có nhiều hậu thuẫn trong giới viên chức thuộc địa và thậm chí trong hàng ngũ Đảng viên ĐCSĐD. Hiếm có khi nào mà cuộc xung đột gay gắt giữa những người cộng sản và những người không cộng sản ở cấp cao nhất trong nhà nước Việt Minh được thể hiện công khai như trong dịp này. Cuộc tranh luận chỉ liên quan tới một số ít người, nhưng trên thực tế nó được cả giới lãnh tụ cao nhất, giới quan chức địa phương lẫn những người trong lĩnh vực thi hành pháp luật theo dõi sát sao.

    Bên phía cộng sản, người đứng ra tranh luận là Quang Đạm, một người được Trường Chinh đỡ đầu, biên tập viên của Sự thật và dịch giả nhiều tác phẩm của Mao sang tiếng Việt.[90] Cách viết của Quang Đạm đầy thẩm quyền như thể ông ta là một người phát ngôn không chính thức cho Đảng. Về phần mình, những người không cộng sản giao cho Vũ Trọng Khánh, một luật gia do Pháp đào tạo và là chưởng lý Khu 10, làm đại diện chính. Vũ Trọng Khánh từng là Thị trưởng Hải Phòng dưới chính phủ Trần Trọng Kim và là Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên trong chính phủ Việt Minh vào cuối 1945. Đứng về cùng phía với Vũ Trọng Khánh là Vũ Đình Hòe, thư ký của Tân Việt Nam Hội, được lập ra để hỗ trợ chính phủ Trần Trọng Kim từ tháng Tư đến tháng Tám năm 1945. Vũ Đình Hòe là một luật gia do Pháp đào tạo và trở thành Bộ trưởng Giáo dục vào cuối năm 1945 và Bộ trưởng Tư pháp từ 1946. Cuộc tranh luận cho thấy, và đào sâu hơn, mức độ khác biệt về ý thức hệ giữa những người cộng sản và không cộng sản. Sau cuộc tranh luận, ĐCSĐD sẽ dần tước quyền của các bộ trưởng và viên chức không cộng sản.

    Cuộc tranh luận khởi đầu với những lời phê phán của phe cộng sản đối với nguyên tắc độc lập tư pháp. Các thẩm phán địa phương dùng nguyên tắc này biện minh cho các hành động nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực của chính quyền địa phương hoặc của các cán bộ đảng. Nhiều thẩm phán từ chối làm theo chỉ thị của các uỷ ban đảng hoặc hành chính địa phương, đồng thời thả những người bị bắt vì các lý do chính trị nhưng trái với luật pháp. Trong hai bài báo đầu tiên mở màn cuộc tranh luận, Quang Đạm tung ra hai hướng tấn công, một chống lại hệ thống tư pháp của chủ nghĩa tư bản và một chỉ trích các trí thức do Pháp đào tạo.[91] Trước hết, ông lập luận rằng luật và công lý, với tư cách là một bộ phận của nhà nước, vận hành để phục vụ lợi ích giai cấp. Trong những xã hội có giai cấp, không có gì nằm trên đấu tranh giai cấp. Độc lập tư pháp và phân quyền [giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp] có thể đã từng giúp cho tư sản châu Âu hạn chế quyền lực võ đoán quân chủ, nhưng kể từ đó đã trở thành một thứ huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của hệ thống chủ nghĩa tư bản. Tại các xã hội thuộc địa, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng các toà án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho người dân xứ thuộc địa, mà ngược lại đã ban bố hàng nghìn bản án độc ác chống lại các nhà cách mạng dân tộc. Độc lập tư pháp và phân quyền không phải là các nguyên tắc linh thiêng và trung tính như một số người tin tưởng. Quang Đạm tập trung tấn công vào luật của tư bản nhưng không hề tìm cách áp đặt một cái khung khái niệm theo chủ nghĩa Lê Nin cho luật của xã hội chủ nghĩa. Ông ta dùng đấu tranh giai cấp làm cơ sở lý thuyết và tấn công vào hệ thống luật của thuộc địa, nhưng ở đây ông tuyên bố mình bảo vệ quyền lợi “nhân dân” và “quần chúng”, chứ chưa phải lợi ích giai cấp.

    Hướng tấn công thứ hai của Quang Đạm nhằm vào các lãnh tụ không cộng sản, những người từng được đào tạo tại các trường thuộc địa. Ông ta tố cáo “nhiều phần tử trí thức” xa rời “quần chúng” và “nhân dân”. Các “phần tử” này do Pháp đào tạo, bị nhiễm những thứ lý thuyết cũ kỹ của tư sản được tạo ra để phục vụ cho lợi ích của chính quyền thực dân và các giai cấp bóc lột. Những người này có lòng tự ái cao và tin quá mức vào tự do cá nhân. Động cơ của họ là sự đố kỵ, tham vọng và mong muốn địa vị xã hội và quyền lực chính trị. Hiểu biết chuyên môn về luật của họ chỉ đơn giản là kinh nghiệm áp dụng những thủ tục luật phức tạp chứ không đảm bảo việc thực thi công lý, nhưng họ lại cho rằng hiểu biết chuyên môn ấy là đủ để họ có được một tự do không hạn chế, nằm ngoài mọi kiểm soát chính trị. Vô tình hay cố ý, họ đang giúp đỡ bọn phản cách mạng thông qua việc cứ khăng khăng đòi độc lập tư pháp và hằn học chỉ trích các uỷ ban hành chính địa phương. Rõ ràng là Quang Đạm muốn nói thay cho những cán bộ đảng thất học không ưa các trí thức do Pháp đào tạo và thái độ có vẻ ngạo mạn của họ với các cán bộ chính trị.

    Để đáp lời Quang Đạm, các đối thủ của ông phủ nhận tính thích đáng và hợp thức của đấu tranh giai cấp ngay cả ở bình diện lý thuyết. Đặc biệt, Vũ Trọng Khánh lập luận rằng luật không chỉ là một công cụ của giai cấp thống trị mà còn là một công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ nhiều quyền lực. [92] Luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Chẳng hạn như luật dân sự dùng để điều chỉnh các xung đột giữa những người bình thường và không có gì liên quan tới chính trị. Luật được xây dựng và phản ảnh không chỉ dựa trên ý chí của tầng lớp thống trị mà cả các tập quán xã hội ở các khối “nhân dân”. Tương tự, độc lập tư pháp nhằm để bảo vệ “nhân dân,” nghĩa là ở trên mọi giai cấp, và để phòng ngừa việc những người có chức quyền lạm dụng quyền lực ở mọi chế độ, dù là chế độ dân chủ hay không. Vũ Đình Hòe chỉ ra rằng Việt Nam chưa bao giờ có một nền tư pháp độc lập kể từ thời cổ đại cho tới thuộc địa. [93] Chính là “nhờ Cách mạng Tháng Tám” mà giờ đây “nhân dân” mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Nói cách khác, Vũ Đình Hòe hàm ý những trí thức như ông đại diện cho “cách mạng”, chứ không phải chống lại. Độc lập tư pháp không phải một huyền thoại của chế độ phong kiến lẫn thuộc địa, nó mang tính cách mạng.

    Vũ Đình Hòe cho rằng hệ thống tư pháp dưới sự lãnh đạo của ông kể từ đầu cuộc cách mạng là hoàn toàn đứng về phía “nhân dân”. Về nguyên tắc, mọi thẩm phán đều do các cơ quan đại diện cho nhân dân chỉ định, như Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân địa phương. Tại các cấp địa phương, ông cho biết Bộ Tư pháp đã thiết lập một hệ thống bồi thẩm theo đó “nhân dân” có thể tham gia trực tiếp xử án các trường hợp đặc biệt. Vũ Đình Hòe gián tiếp nhắc nhở những người cộng sản rằng, theo bản Hiến pháp năm 1946 vẫn còn hiệu lực, các cơ quan do dân bầu ra, chứ không phải Đảng Cộng sản hay chính phủ, mới nắm quyền lực nhà nước tối cao. Các thẩm phán chỉ tuân theo những cơ quan ấy. Nói cách khác, thông điệp gửi tới những người cộng sản là, các anh không đồng nhất với “nhân dân” và các anh cũng phải có trách nhiệm giải trình [accountability] trước “nhân dân”. Theo lập luận của Vũ Đình Hòe, “nhân dân” với tư cách một tập thể rõ ràng là nền tảng duy nhất của sự hợp thức, chứ không phải các giai cấp xã hội. Ông buộc các lãnh tụ cộng sản phải đối mặt với tuyên bố trước đây của họ [về chính phủ do dân và vì dân] và các thể chế nhà nước vẫn còn hợp thức [ví dụ Hiến pháp 1946] được lập ra dựa trên những thỏa hiệp trước đây với những người không cộng sản.

    Vũ Trọng Khánh và Vũ Đình Hòe đẩy Quang Đạm vào thế phòng thủ: Quang Đạm phải biện minh rằng phe cộng sản đại diện cho “nhân dân”. [94] Quang Đạm lập luận rằng chính phủ và “nhân dân” là một, vì chính phủ được cấu thành từ những đại diện ưu tú nhất của nhân dân. Tôn trọng “nhân dân” có nghĩa là theo lệnh chính phủ, đặc biệt là các chính quyền địa phương. Các uỷ ban địa phương gần với “nhân dân” hơn cả”, họ biết “mong muốn của người dân” rõ hơn là chính phủ trung ương. Chính “nhân dân” chứ không phải các uỷ ban này đã bắt Việt gian bởi vì nhân dân căm ghét chúng. Những vụ bắt bớ trái luật là do các hoàn cảnh đặc biệt, nhưng làm thế nào mà các thủ tục luật pháp lại có thể quan trọng hơn “mong muốn của người dân” được? Các uỷ ban địa phương không lạm dụng quyền lực của mình mà chỉ hành động vì lợi ích của nhân dân thông qua việc bắt “Việt gian”. Các quan chức ngành tư pháp nên ủng hộ thay vì chỉ trích những uỷ ban ấy.

    Mặc dù khởi đầu cuộc tranh luận với lý thuyết đấu tranh giai cấp, giờ đây Quang Đạm bị buộc phải bám vào một khái niệm “nhân dân” rất mù mờ, khiến cho ông ta càng xa rời đấu tranh giai cấp hơn. “Nhân dân” theo Quang Đạm nghĩ là một tập đoàn không thể phân chia và kiên quyết gắn liền với cuộc đấu tranh. Nhân dân có một “ý chí tập đoàn” đại diện cho hình thức công lý tối cao; và “lợi ích của nhân dân” phải được coi như là nguyên tắc luật tối cao. Nhân dân có một “mong muốn chung”, mà các cán bộ tư pháp phải tuân theo. [95] Vì không có khả năng đáp trả các lập luận lý thuyết của đối thủ, Quang Đạm quay sang dọa nạt:

    “Trước Toà án tối cao là Toà án của nhân dân, dưới đạo luật tối cao là ý chí của nhân dân, kẻ nào cố ý hay vô tình bám vào hình thức pháp luật mà phản lại tinh thần pháp luật, quyết không thể tránh khỏi bản cáo trạng và sự trừng phạt rất đơn giản nhưng rất đích đáng của nhân dân”.

    Cuộc tranh luận kéo dài đến năm 1950, nhưng sau loạt bài báo đầu tiên của Quang Đạm và đáp trả của Vũ Trọng Khánh và Vũ Đình Hòe vào năm 1948, ta đã có thể thấy rõ mâu thuẫn nằm ở đâu và chúng là không thể hàn gắn. Mặc dù việc những quan chức không cộng sản sẽ bị tước bỏ quyền lực vẫn chưa xảy ra, có vẻ như điều này sẽ chỉ là vấn đề thời gian. Quả thực, các viên chức tư pháp do Pháp đào tạo như Vũ Văn Huyền và Trần Chánh Thành bị khiển trách do tranh cãi với chính quyền địa phương đã bắt đầu dinh tê vào năm 1949. [96]

    Ngay cả khi ĐCSĐD không thể triệu tập một hội nghị Đảng toàn quốc vào tháng Tám năm 1948 do nhiều nguyên nhân, khi ấy một đường lối mới đã ra đời để chỉ đạo cách mạng cho đến năm 1953. Ở Hội nghị Cán bộ lần thứ 5 vào tháng Tám 1948, Trường Chinh đọc một báo cáo dài theo đó, lần đầu tiên kể từ 1941, nhiệm vụ cải cách ruộng đất đã chính thức được đặt ngang hàng với nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng giờ đây được chính thức tuyên bố là chủ nghĩa xã hội. Bản báo cáo mang tên “Chúng ta chiến đấu cho độc lập và dân chủ”, với “dân chủ” được hiểu là một “chế độ dân chủ mới” tương tự với nền dân chủ được thiết lập tại Đông Âu, Bắc Triều Tiên và “những vùng được giải phóng” ở Trung Quốc. Trích dẫn Zhdanov, E. Varga (Đảng Cộng sản Pháp), Gottwald (Chủ tịch Tiệp
    Khắc) và Dimitrov (lãnh tụ Bulgaria và trước đây là một trong những người lãnh đạo Quốc Tế Cộng Sản), Trường Chinh lập luận rằng “chế độ dân chủ mới” này là một sáng tạo mới của vô sản thế giới bằng cách áp dụng lý thuyết Mác xít-Lê nin nít.97 “Cách mạng dân chủ mới” tương tự như cách mạng dân chủ tư sản (cũ) ở chỗ cả hai đều hướng tới việc tiêu diệt chế độ phong kiến do giai cấp địa chủ làm đại diện. Dĩ nhiên “cách mạng dân chủ mới” do vô sản lãnh đạo, chứ không phải giai cấp tư sản. “Chế độ dân chủ mới” nghe không có vẻ tiên tiến bằng chuyên chính vô sản được sử dụng ở Liên Xô, nhưng nó vẫn hướng tới xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản. Nhờ các điều kiện thế giới thuận lợi (sự giúp đỡ có được từ Liên Xô và phe tư bản chủ nghĩa đang rơi vào khủng hoảng), các nền dân chủ mới có thể phát triển Chủ nghĩa Xã hội mà không cần đổ máu nhiều trong đấu tranh giai cấp.98 Trường Chinh kết luận rằng, “Ngày nay, cách mạng Đông Dương phải ‘hiện nguyên hình’... là cách mạng tư sản dân chủ, cách mạng dân chủ mới” dù cho cuộc chiến chống Pháp [của VNDCCH] vẫn có thể được coi là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. [99] Nói cách khác, loài sói giờ đây có thể hiện nguyên hình là sói mà không cần giả làm cừu nữa. Trong khi Trường Chinh và ĐCSĐD vẫn muốn duy trì mặt trận dân tộc thống nhất, [100] thì trong bài diễn văn này cũng như tên của nó, chúng ta có thể thấy họ đang nhắm xa hơn độc lập dân tộc. Họ hướng tới một ngày của tương lai gần khi hoàn thành được mục tiêu thứ hai, “chế độ dân chủ mới”, và họ đang tích cực chuẩn bị cho ngày đó tới thông qua chính sách ruộng đất và nhiều chính sách khác.

    Kết luận

    Cho đến nay, các sử gia đã không xem năm 1948 là một bước ngoặt quan yếu của cuộc cách mạng ở Đông Dương. Rõ ràng các thay đổi ở Việt Nam trong năm này không dẫn tới một cuộc nội chiến như tại các nước Đông Nam Á khác, nhưng chúng vẫn rất quan trọng trong bối cảnh chính trị Việt Nam. Tiểu luận này trình bày các sự kiện trong các năm 1947-1948, đồng thời quay trở lại với những thỏa hiệp mà ĐCSĐD thực hiện khi nắm chính quyền vào cuối năm 1945. Những thỏa hiệp chính trị ở giai đoạn chính phủ Việt Minh mới lên nắm chính quyền giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của năm 1948, nghĩa là lúc khối đoàn kết dân tộc bắt đầu sụp đổ - chưa phải là một cuộc nội chiến nhưng cũng đã là sự chia rẽ không thể đảo ngược.

    Trong khi tình hình quốc tế thúc đẩy các lãnh tụ ĐCSĐD đưa ra một đường lối cực đoan hơn, thì họ lo lắng trước những vật cản đối với cuộc cách mạng của họ: thất bại trong việc tiến hành các chính sách giảm tô, xung đột với các lãnh tụ không cộng sản trong chính phủ, và mâu thuẫn giữa lý tưởng đấu tranh giai cấp của Đảng với quan điểm bảo thủ của các viên chức hành chính thuộc địa được lưu dụng. Những vấn đề này có nguồn gốc ở những thỏa hiệp và thu nạp thực hiện vào cuối năm 1945 để đổi lại sự ủng hộ của dân chúng và tầng lớp tinh hoa thuộc địa. Đa số lãnh tụ của Đảng mong muốn tiến hành một cuộc cách mạng xã hội càng sớm càng tốt nên họ bức xúc trước các vấn đề này. Họ phân tích tình hình thế giới dựa trên thế giới quan của họ về một cuộc đối đầu không thể tránh khỏi giữa hai phe. [101]

    Còn lại một câu hỏi lớn: Tại sao ĐCSĐD không đoạn tuyệt ngay lập tức với những người không cộng sản vào năm 1948 và bắt đầu nội chiến như ở các nước Đông Nam Á khác? Câu hỏi này cần nghiên cứu thêm, nhưng chúng tôi có thể đề xuất một vài lý do. Có thể những lãnh tụ nhiệt tình với đấu tranh giai cấp như Trường Chinh cần thời gian để thuyết phục những đồng chí cẩn trọng hơn trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng đi theo mình. Những người cẩn trọng có thể đã lập luận thuyết phục về việc tiến hành thay đổi chậm hơn. Trước hết, ĐCSĐD đã thống trị khối liên hiệp, và những nhân vật không cộng sản như Vũ Đình Hòe không thể đe dọa quyền lực của nó. [102] Nó có thể kiên nhẫn chờ đợi trong khi dần dần loại “những bạn đồng hành” không còn có lợi ra khỏi chính phủ. Thứ hai, xét về mặt quân sự, cán cân vẫn nghiêng về phía người Pháp và ĐCSĐD không dại gì loại bỏ những người không cộng sản vẫn được dân chúng kính trọng. Ngoài ra, còn có mối nguy những người này sẽ bị chính phủ Bảo Đại thu hút về. Giữ họ lại trong vòng kiểm soát đồng thời vô hiệu hoá họ là một chiến lược khôn ngoan hơn so với để cho họ chạy đi để giúp Bảo Đại. Hoặc, ngay cả nếu ĐCSĐD thủ tiêu ngay lập tức các lãnh tụ không cộng sản, thì động thái này có thể kích động rất nhiều người vẫn đang phân vân giữa Bảo Đại và Hồ Chí Minh chuyển hẳn sang ủng hộ Bảo Đại. Thứ ba, ĐCSĐD có thể trông cậy vào hỗ trợ quốc tế nếu Đảng biết kiên nhẫn. Các lực lượng cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1948 đã ở vào thế thắng và việc họ áp sát biên giới Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Đây cũng là một khác biệt cốt yếu về tình hình của ĐCSĐD so với các đảng cộng sản khác tại Đông Nam Á. Nếu ĐCSĐD chờ đợi, nó có thể được ĐCSTQ hỗ trợ trong một thời gian gần. Nếu nó hành động vội vàng, Mỹ có thể can thiệp trong khi Hồng Quân Trung Quốc vẫn còn ở xa. Với các đảng cộng sản khác ở Đông Nam Á, thời gian không đứng về phía họ. Nếu hành động trong khi các đối thủ phe quốc gia vẫn còn yếu, thì họ có cơ may chiếm được thế thượng phong. Họ không thể trông chờ một sự giúp đỡ từ bên ngoài nào và nếu như chờ đợi, cơ may của họ trong việc đánh bại đối thủ sẽ ngày càng ít hơn.

    Mặc dù đã tự kiềm chế, bước ngoặt năm 1948 đã dẫn tới việc nhiều trí thức và chuyên gia chán nản rời khỏi hàng ngũ Việt Minh trong những năm sau đó. Không phải ai cũng bỏ đi, và trong số những người ở lại nhiều người đã phải chịu đựng các vụ thanh trừng đầy bạo lực trong cải cách ruộng đất, “chiến dịch chỉnh huấn tổ chức đảng”, rồi vụ Nhân văn-Giai phẩm hồi giữa thập niên 1950. [103] Và câu chuyện cũng chưa dừng tại đó. Lịch sử sẽ lặp lại vào năm 1975 khi các trí thức thành thị miền Nam Việt Nam trước đó từng gia nhập Mặt trận Giải phóng Dân tộc nhanh chóng bị gạt ra lề sau khi thống nhất đất nước. Dù cho Đảng Cộng sản Việt Nam mới đây đã tỏ ra xoa dịu trí thức, thì cái quá khứ xung khắc ấy vẫn còn để lại di chứng. Theo nghĩa này, bóng ma năm 1948 vẫn ám ảnh nền chính trị Việt Nam cho đến ngày hôm nay.

    © 2009 tạp chí talawas

    _______________________________

    Chú thích trong bài viết:

    78. “Nghị quyết Hội nghị Trung ương mở rộng”, 15-17/1/1948. ĐCSVN, t. 9, tr. 16.

    79. nt, tr. 17.

    80. nt, tr. 31. Cũng xem mệnh lệnh sau đó nhằm tiến hành chính sách: “Chỉ thị gửi các khu uỷ về việc tịch thu ruộng đất, tài sản của bọn Việt gian phản quốc”, 18 tháng Hai năm 1948. ĐCSVN, t. 9, tr. 60-1. Đảng chưa đả động đến địa chủ lúc này.

    81. “Chỉ thị về vấn đề vận động nông dân”, 19 tháng Năm 1948. ĐCSVN, t. 9, tr. 140-1.

    82. nt, tr. 45.

    83. nt, tr. 44. Cũng xem một quyết định chi tiết hơn “Quyết nghị của Ban Thường vụ Trung ương”, 1 tháng Tư năm 1948. ĐCSVN, t. 9, tr. 85-8.

    84. “Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương”, ký tên Lê Đức Thọ, 1 tháng Sáu năm 1948. ĐCSVN t. 9, tr. 149. Có nhiều lý do Đại hội bị hoãn, nhưng có vẻ hai lý do quan trọng hơn cả là khó khăn của các đại biểu của cơ sở Đảng tại miền Trung và miền Nam Việt Nam để tới được căn cứ Việt Bắc vào những năm 1948-1950, và việc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào tháng Sáu năm 1950.

    85. Văn kiện này không nói tới việc thanh trừng đảng viên vì thành phần giai cấp. Việc này chỉ bắt đầu được tiến hành
    từ khoảng 1953.

    86. “Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị”, Hội nghị Cán bộ Trung ương, 14-18/1/1949. ĐCSVN, t. 10, tr. 166-7.

    87. “Báo cáo về tình hình Đảng năm 1948”, Hội nghị Cán bộ Trung ương, 14-18/1/1949. ĐCSVN, t. 10, tr. 120-50. Con số 450% cho năm 1948 được lấy từ “Hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị, tích cực chuyển sang tổng phản công”, báo cáo của Trường Chinh tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba, 21/1-3/2/1950. ĐCSVN, t. 11, tr. 92.

    88. Tuy nhiên sự tăng trưởng không đồng đều: chỉ riêng Khu 3 (các tỉnh ở thượng nguồn sông Hồng) đã có 70.000 đảng viên. Miền Nam Việt Nam có tổng cộng khoảng 30.000 đảng viên vào cuối năm 1948.

    89. Cuộc tranh luận diễn ra trên Sự thật, tờ báo của ĐCSĐD, và Độc lập một tờ báo tuần của ĐDC.

    90. Xem Quang Đạm: Nhà báo, học giả (Hà Nội: Lao động, 2002). Quang Đạm là bút danh của Tạ Quang Đệ, từng làm thẩm phán trong chính quyền thuộc địa và không có liên hệ với Thanh Nghị. Anh trai ông, Tạ Quang Bửu, nổi tiếng hơn nhiều, đã từng phục vụ chính phủ Trần Trọng Kim và là một thứ trưởng của Việt Minh.

    91. “Tư pháp với nhà nước”, Sự thật, 15 tháng Tư 1948; “Tính chất chuyên môn trong tư pháp”, Sự thật, 19 tháng Năm 1948.

    92. “Ý kiến bạn đọc về vấn đề tư pháp”, Sự thật, 19/8-2/9/1948; và “Vấn đề tư pháp”, Sự thật, 20 tháng Sáu, 10 tháng Bảy và 1 tháng Tám năm 1949.

    93. “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới”, Độc lập, tháng Bảy năm 1948.

    94. “Vài điểm căn bản về vấn đề tư pháp”, Sự thật, 15 tháng Mười một, 30 tháng Mười một, và 19 tháng Chạp năm 1948; và “Về cuộc thảo luận vấn đề tư pháp”, Sự thật, 6 tháng Giêng năm 1950.

    95. Cho mãi đến năm 1950, sau khi VNDCCH đã chính thức gia nhập khối Xô viết, Quang Đạm mới dùng từ “nhân dân” như một khái niệm dựa trên giai cấp, nghĩa là “nhân dân” với tư cách một tập thể được tạo nên từ hai giai cấp (công nhân và nông dân) dẫn dắt cách mạng dân tộc và đấu tranh giai cấp. Xem Quang Đạm, “Người trí thức trong xã hội và trong cách mạng, Sự thật, 15 tháng Ba năm 1950. Từ “nhân dân” trước 1945 không hay được sử dụng. Đến 1950, nó chủ yếu được một số ít tác giả dùng, một trong số đó là Trường Chinh. Từ này được sử dụng rộng rãi và bắt đầu có một số hàm ý Mác xít có lẽ là nhờ các nỗ lực của Trường Chinh trong việc quảng bá nó và du nhập
    diễn ngôn cách mạng Trung Quốc vào Việt Nam từ sau 1950. “Renmin” (dịch từng từ là “nhân dân”) là một từ trọng tâm trong diễn ngôn của Mao.

    96. Sau này Trần Chánh Thành sẽ trở thành Bộ trưởng Thông tin của Việt Nam Cộng hoà dưới thời Ngô Đình Diệm.

    97. Trường Chinh, “Chúng ta chiến đấu cho độc lập và dân chủ”, bài diễn văn tại Hội nghị Cán bộ lần thứ năm, 8-16/8/1948. ĐCSVN, t. 9, tr. 191.

    98. nt, tr. 187-92.

    99. nt, tr. 198.

    100. nt, tr. 209-18.

    101. Vu, “From Cheering to Volunteering.”

    102. Vào năm 1957, sau khi những sai lầm của cải cách ruộng đất được phát hiện, ông Vũ, lúc đó vẫn là Bộ trưởng Tư pháp trên danh nghĩa (dù quyền lực thực tế thì từ năm 1949 đã mất về tay Thứ trưởng Tư pháp Trần Công Tường là một đảng viên), và một vài nhân sĩ trí thức không cộng sản đề nghị nhà nước cho phép Đảng Dân chủ được hoạt động như một đảng đối lập để ngăn ngừa những sai lầm tương tự. ĐCSVN lập tức cho ông Vũ về hưu non. Bộ Tư pháp bị giải thể và VNDCCH/Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không có Bộ Tư pháp cho đến những năm 90 của thế kỷ 20.

    103. Để có các bình luận mới về những sự kiến ấy, xem Vu, Paths to Development in Asia; Ninh, A World Transformed; và Shawn McHale, “Vietnamese Marxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial memory: Tran Duc Thao, 1946-1993,” Journal of Asian Studies, 61, 1 (tháng Hai năm 2002), tr. 7-31.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Xin cảm ơn tác giả!
    Như nhà sử học Dương Trung quốc đã phát biểu: Người Vn dùng lịch sử như cái sọt rác phi tang quá khứ. Các bài viết như thế này giúp thế hệ trẻ VN có cái nhìn tổng thể,khách quan về đất nước và dân tộc qua các thời kỳ lịch sử.