Lê Anh Hùng - Sự xuống cấp của đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường và thủ phạm của nó (phần 1)

  • Bởi tqvn2004
    16/11/2009
    0 phản hồi

    Lê Anh Hùng<br />
    [email protected]<br />
    Quảng Trị - 16/11/2009

    BBT Dân Luận xin cảm ơn sự đóng góp bài vở của độc giả Lê Anh Hùng. Chúng tôi cũng rất mong nhận được những phản hồi tranh luận cùng tác giả trên những luận điểm được đề cập trong bài.

    Trong một vài thập niên gần đây, cùng với đà khởi sắc của nền kinh tế sau khi nước nhà bước vào công cuộc đổi mới, báo chí và người dân đã nhiều lần lên tiếng về tình trạng vi phạm đạo đức kinh doanh trong xã hội, từ những người sản xuất, buôn bán nhỏ lẻ cho đến cả những doanh nghiệp lớn, có tiếng tăm đàng hoàng: lợn nuôi bằng thức ăn tăng trọng; rau nhiễm thuốc trừ sâu hay sử dụng thuốc kinh thích tăng trưởng gây hại cho sức khoẻ; trứng gà Trung Quốc biến thành trứng gà ta; phân bón giả, kém chất lượng; thuốc chữa bệnh giả; sự lập lờ giữa sữa hoàn nguyên với sữa tươi của các doanh nghiệp chế biến sữa; thực phẩm quá hạn của Vinafood; nguyên liệu nước giải khát quá hạn của Tân Hiệp Phát; các cây xăng gian lận hàng loạt; ô nhiễm môi trường tràn lan… Điều đáng quan ngại hơn nữa là tình trạng suy đồi về đạo đức kinh doanh như thế đang diễn ra ngày càng phổ biến với mức độ ngày một nghiêm trọng và tinh vi hơn. Và cuối cùng, mọi hậu quả đều đổ lên đầu người dân và xã hội.

    Chúng ta đều biết rằng quan hệ giữa doanh nghiệp và cộng đồng là mối quan hệ cá – nước; chính nhờ sự ủng hộ của người tiêu dùng, của cộng đồng và xã hội, doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển. Do vậy, giới doanh nghiệp lẽ ra cần phải ý thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội của mình. Và một khi công luận đã phải lên tiếng báo động về sự suy đồi của đạo đức kinh doanh, điều này cũng có nghĩa là đạo đức xã hội đang bị xuống cấp trầm trọng. Những hiện tượng mà báo chí đã nêu như tham nhũng tràn lan; đồng tiền chi phối nhiều mối quan hệ giữa người với người, kể cả quan hệ thầy trò hay quan hệ ruột thịt; thái độ vô cảm của bác sỹ, y tá trước nỗi đau đớn của người bệnh; nạn “chạy” chức, “chạy” quyền, “chạy” dự án, “chạy” án, “chạy” bằng cấp, “chạy” học hàm…; thói quan liêu, nhũng nhiễu của những người nằm trong bộ máy công quyền; sự thờ ơ của những người có trách nhiệm; tình hình tội phạm gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt là tội phạm bạo lực ở độ tuổi vị thành niên… chính là những bằng chứng thuyết phục cho nhận định đó. Điều đáng báo động là những chuyện nhức nhối như thế vẫn đang diễn ra ngày một nhiều và dường như xã hội không còn cách nào khác là phải “thích ứng” với nó như thể chấp nhận “sống chung với lũ” vậy.

    Nhiều người gọi những hiện tượng trên đây là “mặt trái của kinh tế thị trường”. Nếu quả đúng như vậy, tại sao tình trạng này ở Việt Nam lại đến mức độ phải báo động, trong khi kinh tế thị trường là hình thái kinh tế không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn phổ biến ở hầu hết mọi nền kinh tế trên thế giới, ngoại trừ Triều Tiên và Cuba? Đâu là nguyên nhân đích thực của nó?

    Bài viết này mong muốn đi tìm lời kiến giải cho tình trạng trên một cách có hệ thống từ những hiểu biết khiêm tốn của tác giả.

    1. Trật tự xã hội

    Con người là sự tổng hoà của các mối quan hệ tự nhiên và xã hội. Các mối quan hệ xã hội hay sự tương tác xã hội giữa con người với nhau tuân theo những quy tắc khác nhau. Những quy tắc này (còn gọi là thiết chế) do con người thiết lập nên, ràng buộc cách ứng xử vốn dĩ mang tính tuỳ ý và cơ hội chủ nghĩa của họ. Tập hợp các quy tắc (thiết chế) điều chỉnh hành vi của con người chính là cơ sở hình thành nên trật tự xã hội.

    Người ta phân biệt hai loại thiết chế:

    1. Thiết chế bên trong: là những thuần phong, mỹ tục, quy chuẩn đạo đức, những nguyên tắc luân lý làm cơ sở cho cách ứng xử của con người… Những thiết chế này xuất phát từ trong lòng cộng đồng, tiến hoá từ kinh nghiệm của con người và xuất phát từ bản chất tự nhiên và xã hội của con người. Sự vi phạm các thiết chế bên trong thường bị trừng phạt một cách phi chính thức, chẳng hạn như bị cộng đồng tẩy chay khi làm điều gì đó trái đạo lý;

    2. Thiết chế bên ngoài: là những quy tắc được áp đặt từ trên xuống thông qua một quy trình chính trị do một nhóm người đại diện được uỷ quyền tiến hành. Thiết chế bên ngoài đi kèm với những hình phạt rõ ràng, được áp đặt chính thức (ví dụ, các phiên toà) và có thể chịu sự chế tài thông qua việc sử dụng quyền lực hợp pháp (chẳng hạn, cảnh sát).

    Thiết chế bên trong và thiết chế bên ngoài có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Thiết chế bên ngoài giúp phát huy phẩm chất tích cực, tiến bộ và hạn chế những yếu tố lạc hậu, phản tiến bộ của thiết chế bên trong. Hiệu lực của các thiết chế bên ngoài phụ thuộc mạnh mẽ vào việc liệu chúng có bổ trợ cho các thiết chế bên trong hay không; chẳng hạn, liệu pháp luật có đề cao các giá trị đạo lý, thuần phong mỹ tục của xã hội hay không.

    Pháp luật, loại thiết chế thượng tầng (bên ngoài) cơ bản và phổ biến nhất, ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước.

    2. Nền tảng trật tự xã hội của các nước phương Tây

    Tự do và dân chủ là những giá trị cốt lõi của nền văn minh phương Tây. Văn minh phương Tây là một nền văn minh đặc biệt bởi lẽ không giống như các nền văn minh khác, nó không bị giới hạn về không gian và thời gian. Không chỉ những nước như Mỹ, Canada, Australia… vẫn được xem là các quốc gia phương Tây, mà ngay cả những nước như Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh phương Tây nếu nhìn vào hệ thống thiết chế thượng tầng của nó. Nhật Bản đã sớm phát hiện và hấp thụ những giá trị tự do – dân chủ của phương Tây, những giá trị đã đem đến sự phát triển thần kỳ cho nó, ngay từ giữa thế kỷ 19. Văn minh phương Tây đề cao pháp luật và tự do cá nhân.

    * Người nào đòi hỏi sự thống trị của pháp luật tức là đòi hỏi sự thống trị của Đức Chúa và Trí Khôn mà không phải của ai khác; trong khi người nào đòi hỏi sự thống trị của một con người thì chẳng khác nào đem đến một con mãnh thú hoang dại; vì cảm xúc của con người cũng giống như con mãnh thú hoang dại và những tình cảm mạnh mẽ sẽ dẫn dắt những gì tốt đẹp nhất của con người sa vào chốn lầm đường lạc lối.

    * Pháp luật là lý trí không bao hàm mong muốn.

    (Aristotle, triết gia Hy Lạp; 384-322 TCN)

    * Chúng ta là những nô lệ của pháp luật để có thể được tự do.

    Tự do là tài sản vô giá.

    (Tullius Cicero, 106-43 TCN, luật sư và tác gia người La Mã)

    * Trong nhiều niềm hạnh phúc và quyền tự do khác, mà các thần dân của Bệ hạ… được hưởng… không gì mà họ coi là đáng yêu và đáng quý hơn điều này – được dẫn dắt và chịu sự chi phối của một hình thái pháp trị nào đó… và không phải bởi bất kỳ một chính thể độc đoán và bất trắc nào.

    (Trích Thỉnh Nguyện Thư của Hạ viện [House of Commons] gửi Vua James Đệ Nhất, 7/7/1610)

    * Có một vòng tròn xung quanh mỗi con người cá nhân mà chính quyền không nên được phép bước qua; trong cuộc sống của mọi người, khi đến tuổi trưởng thành, có một phần mà ở đó bản thể cá nhân của người đó phải ngự trị chứ không chịu sự chi phối của bất kỳ cá nhân nào khác cũng như của công chúng nói chung.”

    (John Stuart Mills, 1806-1873, triết gia, lý thuyết gia chính trị, nhà kinh tế chính trị người Anh, Các nguyên lý kinh tế chính trị [Principles of Political Economy])

    John Stuart Mills quan niệm rằng tự do của mỗi người tìm thấy giới hạn của nó trong tự do của người khác. “Tự do chân chính, không hề không nhất quán với pháp luật, mà trên thực tế phụ thuộc vào pháp luật. Pháp luật đích thực là hiện thân của tự do. Pháp luật là nhân tố cốt lõi của tự do. Nếu không có pháp luật thì không thể có tự do. Pháp luật đúng đắn (orthonomos) là tự do.” (Friedrich Hayek – Cuộc đời và sự nghiệp; Alan Ebenstein; NXB Tri Thức, 2007 - http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=10728&rb=0301). Sự tiến hoá của các hình thái nhà nước trong lịch sử phương Tây có thể được xem như quá trình tiến hoá của hệ thống thiết chế thượng tầng (pháp luật) nhằm đem lại mức độ tự do cá nhân khả dĩ lớn nhất. Đỉnh cao của quá trình tiến hoá này chính là cuộc cách mạng tư sản, bắt đầu từ thế kỉ 16 và kéo dài tới thế kỉ 20. Cách mạng tư sản đã thiết lập nên nền dân chủ và tạo ra sự phát triển mạnh mẽ chưa từng có của lực lượng sản xuất, là một bước tiến mang ý nghĩa lịch sử trọng đại của xã hội loài người.

    Như vậy, thành tựu phát triển của các nước phương Tây có thể được nhìn nhận là chủ yếu bắt nguồn từ sự đề cao pháp luật và quyền tự do cá nhân. Các điều kiện về tự nhiên, chủng tộc, địa lý… đóng vai trò khiêm tốn hơn. Điều này còn được chứng minh qua sự phát triển vượt bậc của một số nước châu Á theo đuổi các giá trị tự do – dân chủ của phương Tây như Nhật Bản, Singapore[i], Hàn Quốc, Đài Loan…

    (còn tiếp)

    ________________________

    Ghi chú:

    [i] Dù Singapore vẫn có thiên hướng là một nhà nước chuyên quyền.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi