Nguyễn Văn Tuấn - Tiếng Anh của Bộ Ngoại giao thời hội nhập: vài hạt sạn không nên có

  • Bởi Hồ Gươm
    14/11/2009
    4 phản hồi

    Nguyễn Văn Tuấn

    Sáng nay, thức dậy sớm để đọc báo và chuẩn bị cho một ngày làm việc, tôi bắt gặp bài này (“Sáu thông điệp từ một tuồng cải lương Hồ Quảng”) trên blog của Đinh Tấn Lực.

    http://dinhtanluc.multiply.com/journal/item/499/499

    Đọc xong mà … ngậm ngùi cho ngôn ngữ.

    Viết ra thì có thể là mang tiếng “vạch lá tìm sâu”, mà không viết ra thì thấy lòng cứ bức rức. Bức rức vì vấn đề có liên quan đến sỉ diện quốc gia. Tôi muốn nói đến văn bản bằng tiếng Anh về “Hội thảo Biển Đông” của Bộ Ngoại giao Việt Nam, mà Đinh Tấn Lực có trích dẫn một đoạn ngắn. Đọc qua đoạn văn ngắn đó, tôi phát hiện rất nhiều sai sót và khiếm khuyết trong cách hành văn.

    Đinh Tấn Lực nhận xét rất chí lí rằng một văn bản xuất phát từ Việt Nam, nước đang có tranh chấp với Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa, mà cứ cấm đầu chúi mũi sử dụng cụm từ “South China Sea” liên tục. Một đoạn văn ngắn chỉ có 9 dòng, mà có đến cụm từ “South China Sea” được lặp lại đến 6 lần! Danh chính ngôn thuận ở đâu?

    Tôi có cảm giác rằng văn bản này được dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, vì trong đó có nhiều đoạn rất … Việt Nam. Đó là những đoạn văn không hàm chứa thông tin, mà giống như là hô khẩu hiệu vậy. Chẳng hạn như câu này (“Development in and related to the South China Sea have by and large been consistent to the overall contemporary trend toward greater cooperation in Asia-Pacific”) có lẽ dịch từ câu quen thuộc mà chúng ta vẫn thường hay nghe: "phù hợp", "xu hướng", "hợp tác" , v.v... Câu văn chẳng những có vấn đề về cú pháp mà còn vô nghĩa theo cái nhìn của người làm khoa học. “Xu hướng hợp tác cao hơn” là xu hướng gì? Câu văn kế tiếp không hề giải thích câu văn trước đó. Cụm từ “Asia Pacific” là tính từ; do đó, viết “In Asia-Pacific” là chưa hết nghĩa, chưa hết câu văn. Đáng lẽ phải viết là “In Asia-Pacific region” hay "Asia Pacific Basin", hay gì đó thì mới đầy đủ ý nghĩa.

    Trong phần đầu, tác giả viết “THE BACKGROUND”. Tại sao lại có “THE” ở đây nhỉ? Đây là một trong những sai sót về tiếng Anh phổ biến nhất ở người Á châu, vì lúc nào cũng dùng mạo từ “the” một cách không thích hợp.

    “Development in and related to the South China Sea have by and large been consistent to the overall contemporary trend toward greater cooperation in Asia-Pacific.”

    * Câu văn này thoạt đầu cho thấy tác giả cũng có “võ” về tiếng Anh như cách dùng từ “in and related to” (trong “Development in and related to the South China Sea”), nhưng thật ra trong cách viết formal (nghiêm chỉnh) trong văn bản ngoại giao thì không thể chấp nhận được. Không chấp nhận được vì nó mang tính “informal”, kiểu như “chit chat” vậy.

    * Cái khiếm khuyết thứ 2, tuy nhỏ, nhưng nó nói lên khả năng tiếng Anh của người viết: đó là cụm từ “by and large” cũng là một kiểu nói chit chat, một loại thành ngữ (idiom) hay ngôn ngữ đường phố, chứ không phải loại ngôn ngữ ngoại giao. Đáng lẽ nếu viết một cách nghiêm túc thì cần phải có hai dấu phẩy trước vào sau cụm-trạng-từ đó (như “… have been, by and large, …” ), hay thay by and large bằng largely (như “… have been largely …”) thì mới đúng hơn và nghiêm chỉnh hơn.

    * Điểm thứ ba là giới từ trong “consistent to” rất ít ai sử dụng (nếu không muốn nói là sai sót); đáng lẽ phải viết rõ ràng hơn là “consistent with”.

    “Efforts have been made by regional countries to stabilize the situation and seek the opportunities for cooperationin the South China Sea area.”

    Về văn phạm, có 3 cái sai hiển nhiên trong câu văn này:

    * Cái sai thứ nhất là mạo từ “the” (the situation, the opportunities) chẳng biết đề cập đến tình hình gì và cơ hội nào (chẳng thấy mô tả trước đó). Như tôi nói trên kia, đây là cái sai rất phổ biến ở người châu Á.

    * Cái sai thứ hai là câu văn có 2 mệnh đề (stabilize -- ổn định, và seek -- tìm), nhưng stabilize thì có “to” còn seek thì thiếu “to”! Đáng lẽ phải viết là “to seek” mới đúng.

    * Cái sai thứ 3 là “South China Sea area”, vì từ “area” rất ít ai sử dụng cho biển. Vả lại, đâu có cần area trong cụm từ “South China Sea”!

    Còn câu sau đây mới vui:

    “These efforts have resulted in, among others, the ASEAN Declaration on the South China Sea in 1992, the adoption in 2004 of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (DOC) according to which all signing parties pledged to seek peaceful solutions to disputes and conduct maritime cooperation in order to maintain regional stability in the South China Sea under the principles of the Charter of the United Nations, the 1982 UN Convention on the Law of the Sea, the …”

    Chúng ta thấy gì qua câu văn này?

    * Trước hết, đó là một câu văn dài lê thê, rối rắm. Một câu văn có hơn 84 chữ (thật ra là hơn 84 chữ vì Đinh Tấn Lực ngừng trích ở đó)!

    * Thứ hai là có sự nhập nhằng về thời gian tính của câu “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea”. Có phải câu này nói năm 2004 ai đó chấp nhận tuyên bố về "Conduct of Parties in the South China Sea", hay là tuyên bố này ra đời vào năm 2004. Khi tôi tìm trên google thì tuyên bố này ra đời năm 2002! Có thể xem tuyên bố đó tại địa chỉ sau đây: www.aseansec.org/13163.htm

    * Cái sai kế tiếp nữa là sai văn phạm. Đáng lẽ câu “… all signing parties pledged to seek peaceful solutions to disputes and conduct maritime cooperation” phải viết là “… which all signing parties pledged to seek peaceful solutions to disputes and TO conduct maritime cooperation.”

    * Còn cụm từ "the principles of the Charter of the United Nations" thì lượm thượm vì có quá nhiều "the". Thật ra, nếu muốn viết "the principles" thì phải nói rõ hơn nguyên tắc (principles) gì. Có lẽ nên viết là các nguyên tắc của hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945, tức là đáng lẽ phải viết đúng hơn và gọn hơn là: "according to the principles of the United Nations Charter in 1945".

    Đáng lẽ tôi còn chỉ ra vài sai sót nữa, nhưng tôi xin tạm dừng ở đây. Nói tóm lại, dù chỉ mới đọc qua một đoạn văn ngắn của văn bản quan trọng này, tôi có cảm giác đây là một văn bản được soạn thảo rất cẩu thả. Thở đời nay một Bộ Ngoại giao của một nước 86 triệu dân mà không nhớ nỗi năm của các tuyên bố hay nghị định của Liên hiệp quốc! Có lẽ vì sự cẩu thả này mà văn bản lộ ra nhiều sơ hở, rất dễ bị “đối phương” và “kẻ thù” lợi dụng để củng cố cho quan điểm của chúng.

    Nếu tôi là quan chức của Bộ Ngoại giao, tôi sẽ không viết như văn bản này, mà sẽ viết cách khác nghiêm trang hơn (vì văn bản ngoại giao), sẽ kiểm tra cẩn thận các dữ liệu, sẽ cân nhắc cách sử dụng từ ngữ sao cho chặt chẽ, và sẽ nhờ nhiều người khác rành tiếng Anh đọc qua để sửa các lỗi văn phạm và cú pháp. Nhưng mọi chuyện trễ rồi, vì văn bản đã được gửi đi và đến tay “đối tác”. Tôi tưởng tượng các đối tác đọc xong và sẽ mỉm cười, cái cười rất … khó ưa.

    Nếu bạn và tôi có phạm sai sót trong tiếng Anh thì chắc chẳng ai quan tâm, vì chúng ta chỉ là những cá nhân chẳng đại diện cho ai, những công dân mà tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh. Nhưng nếu một quan chức cao cấp, nhất là Bộ Ngoại giao, mà sai tiếng Anh thì đó là một điều đáng xấu hổ. Tôi viết ra những nhận xét này tuy thấy đau đau trong lòng, nhưng hoàn toàn với một tinh thần xây dựng, và cũng muốn góp phần làm cho nước ta giảm đến mức tối thiểu (giảm đến số 0 thì hay hơn) những sơ hở trên trường ngoại giao quốc tế.

    NVT

    TB. Còn vài sai sót nhỏ khác nữa. Ngay từ cái tên của hội đoàn đã có vấn đề. Văn bản viết:

    “Co-Organizers: The Diplomatic Academy of Vietnam and Vietnamese Lawyers Association”

    Tôi tưởng phải là “The Vietnamese Lawyers Association” mới đúng chứ.

    Còn phần địa điểm và thời gian thì hứa là “Time and Venue”, tức là thời gian trước, rồi mới đến địa điểm, nhưng lại mô tả địa điểm trước rồi mới tới thời gian:

    “Hanoi, Vietnam, 26-27 November, 2009.”

    Mà, ngay cả đia điểm cũng không cụ thể. Bởi vì Hà Nội là thành phố lớn, cho nên viết “Hanoi, Vietnam” đố ai tìm ra địa điểm chính xác. Ngoài ra, phía trên thì tác giả viết theo kiểu Mĩ ("organizer") nhưng viết ngày tháng thì theo kiểu Anh! Đáng lẽ nếu viết theo kiểu Mĩ thì ngày tháng cũng phải viết là November 26-27, 2009, hay November 26 to November 27, 2009.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Phản hồi: 

    Hôm cuối tuần, tôi có vài nhận xét ngắn về tiếng Anh trong cái “Concept Paper” của Học viện Ngoại giao Việt Nam, dựa trên một đoạn văn ngắn trong blog của Đinh Tấn Lực. Hôm nay, một bạn đọc giới thiệu toàn văn của cái paper đó cũng trên blog của ĐTL. Tôi lại tò mò đọc qua, và “phát hiện” vài điều thú vị. Trong entry này, tôi sẽ tóm tắt vài nhận xét chính như sau:

    Thứ nhất, thiếu ý tưởng. Thật vậy, cái gọi là bài báo về khái niệm (concept paper) này chỉ vỏn vẹn có 2 trang, và thiếu ý tưởng. Viết một bài báo khoa học mang tính khái niệm mà chỉ 2 trang giấy thì đó là dấu hiệu cho thấy hoặc là tác giả rất “cao thủ” trong viết văn (vì phải là người giỏi viết văn mới có khả năng diễn tả những khái niệm cao siêu một cách ngắn gọn), hoặc là tác giả không có ý tưởng gì đáng kể để phát biểu. Tôi nghiêng về cách giải thích thứ hai hơn. Đoạn văn đầu nói về những phát triển trong vùng Biển Đông phù hợp với xu hướng hợp tác trong vùng, nhưng tác giả không cho biết đó là những phát triển gì. Tuy đoạn thứ nhất hàm ý cho rằng những phát triển trong quá khứ là ok, nhưng đoạn thứ hai thì nói là các nước trong vùng đã có những nỗ lực để đem lại ổn định tình hình, nhưng chẳng biết tình hình gì! Thật ra đoạn thứ 2 này không có thông tin. Đoạn văn thứ 3 nói về sự khát khao (tác giả dùng động từ “desire”) về hợp tác và giải pháp cho những tranh chấp, nhưng không thấy nói tranh chấp gì trước đó cả. Đây là đoạn văn mang tính khẩu hiệu, chứ cũng chẳng có ý nghĩa gì đáng ghi nhận. Đoạn văn thứ 4 liệt kê một số hội thảo trong quá khứ, và hội thảo sắp đến tại Hà Nội như là một cơ hội cho các học giả trong vùng ASEAN và quốc tế, nhưng cơ hội để làm gì thì không thấy nói đến. Nói tóm lại, phần mở đầu chẳng có thông tin gì đáng ghi nhận cả.

    Dấu hiệu thiếu ý tưởng còn thể hiện qua cách viết “etc” (vân vân) trong câu: “Such an endeavor has been pursued by various scholarly efforts including the South China Sea workshops series sponsored by Canadian International Development Agency and research projects such as the conference on “South China Sea: Towards A Cooperative Management Regime” held by S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University in Singapore in 2007 etc” (đáng lẽ phải có dấu phẩy trước “etc”). Khi không có ý tưởng gì rõ ràng, hay quên, hay lười biếng kiểm tra, người ta hay sử dụng “etc”. Trong khoa học, đây là điều tối kị, vì người đọc đánh giá rằng tác giả lười biếng và không xem trọng người đọc.

    Thứ hai, mục tiêu rất mù mờ. Cả 3 mục tiêu như phát biểu trong phần “THE OBJECTIVES” có thể nói là rất mù mờ. Chẳng hạn như “to discuss, share and gain new insights from their researches and expertise” (thảo luận, chia sẻ, và thu thập những kiến thức chuyên sâu qua nghiên cứu), hay “to foster camaraderie among academics working on the South China Sea-related topics” (nuôi dưỡng tình đồng chí giữa các nhà khoa bảng làm việc về chủ đề Biển Đông), hay “to contribute – from scholarly point of view – to possible solutions to the dispute over the South China Sea” (đóng góp giải pháp khả dĩ cho sự tranh chấp ở Biển Đông trên quan điểm học thuật). Thú thật, đọc 3 mục tiêu này tôi chẳng hiểu tác giả nói gì cả. Thế nào là giải pháp khả dĩ trên quan điểm học thuật?

    Thứ ba, cách hành văn bằng tiếng Anh có quá nhiều thiếu sót. Trong entry trước [1] tôi đã đề cập đến một số thiếu sót về văn phạm và cách hành văn, nhưng vẫn chưa đủ. Sau đây là vài sai sót khác:

    (a) Sai văn phạm. Trong câu “The themes of discussion include, but not restrict to the followings” có 3 điểm sai. Điểm sai thứ nhất là dùng động từ “not restrict” không đúng (chẳng ai viết “the themes not retrict to”). Điểm sai thứ hai là không ai viết followings cả. Danh từ following có thể dùng để nói đến một nhóm đối tượng hay nhóm người, nhưng không có “s”. Điểm sai thứ 3 là thiếu dấu phẩy sau chữ “restrict to”. Câu này đáng lẽ phải viết là: “The workshop themes include, but are not restricted to, the following:”, hay “The workshop themes include, but are not limited to, the following:”, hay “The workshop will focus on, but will not be limited to, the following principal topics:” Câu sau cùng theo tôi là thích hợp nhất, vì chúng ta nói đến thì tương lai và chữ following được sử dụng rõ ràng hơn như là một tính từ.

    (b) Chọn từ không thích hợp. Để minh họa cho nhận xét đó, chúng ta có thể đọc câu văn này: “Boosting greater cooperation in the South China Sea-related issues and suggesting possible solutions to the dispute – acceptable for all – therefore are desired.” Có nhiều vấn đề trong câu này. Thứ nhất, ở đây tác giả sử dụng 2 từ gerund (boosting suggesting), nhưng từ boosting có vấn đề, vì nó mang tính informal của giới báo chí, và nên nhớ rằng trong tiếng Anh kiểu Mĩ động từ boost còn có nghĩa là “ăn cắp”. Thứ hai, danh từ issues (vấn đề) mà làm qualifier cho cooperation (hợp tác) thì quả là dị kì. Có ai nói “đẩy mạnh hợp tác trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông” không? “Hợp tác trong các vấn đề” nó chẳng có ý nghĩa gì cả! Thứ ba, động từ desire mà để đến cuối câu là một cách đặt từ bất bình thường. Ngay cả sử dụng động từ desire cũng là một cách chọn từ không hay, vì nó có nghĩa đòi hỏi một cái gì đó rất cấp thiết, và nó còn có nghĩa là … đòi hỏi sex nữa. Thứ tư, rất ít ai đặt trạng từ phía trước động từ to be (như kiểu … therefore are desired), mà phải đặt sau động từ đó (như are therefore desired).

    Còn câu “suggesting possible solutions to the dispute – acceptable for all” lại có vài vấn đề khác. Thứ nhất là giải pháp cho tranh chấp nào mà tác giả nói là “the dispute”. Trên kia, đâu có thấy nói tranh chấp (dispute) nào đâu! Tôi chẳng thấy ai (ngoại trừ người không thạo tiếng Anh) viết là “acceptable for all” cả; nhưng tôi thấy người ta viết “acceptable to all”. Đó là chưa kể đến câu “suggesting possible solutions to the dispute – acceptable for all” đã là không chuẩn văn phạm rồi. Viết kịch thì ok, nhưng viết văn bản ngoại giao thì tôi e rằng không xem được. Có thể sửa lại, chẳng hạn như: “suggesting solutions that are practically acceptable to all disputing parties”.

    Thật ra, theo tôi thấy, đoạn văn “Boosting greater cooperation in the South China Sea-related issues and suggesting possible solutions to the dispute – acceptable for all – therefore are desired” cần phải viết lại bằng cách tách biệt hai câu văn rành mạch hơn. Còn tách biệt và dùng từ như thế nào thì là một vấn đề khác.

    Ngoài ra, còn một chỗ dùng từ không chính xác là câu này: “The international workshop – themed ‘South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development’”. Theme là một danh từ chứ không phải động từ. Trong vài trường hợp (rất rất hiếm), người ta dùng theme như là một động từ nhưng chỉ địa điểm, chứ không chỉ một chủ đề bao giờ.

    Thật ra, còn nhiều chỗ mà cách dùng từ ngữ chưa chuẩn, nhưng khó mà đếm xuể ở đây. Chẳng hạn như lúc thì “Organizers”, lại có lúc “Co-Organizers” (mà trong thực tế có thể thay bằng cụm từ “Organizing Committee” là đủ). Hay như đoạn này “The workshop’s participants are expected to (i) discuss, share and gain new insights from their researches and expertise, (ii) to foster camaraderie among academics working on the South China Sea-related topics, and (iii) to contribute – from scholarly point of view – to possible solutions to the dispute over the South China Sea” cũng có nhiều điều đáng bàn vì nhiều từ trong đoạn này chưa chuẩn mấy, thậm chí có phần xúc phạm hay trịch thượng (như động từ “… expected to”).

    (c) Sử dụng mạo từ “THE” không đúng. Tên của mỗi phần trong bài viết đều có THE, như: THE BACKGROUND, THE OBJECTIVES, và THE PROPOSED TOPICS. Tôi phục vụ trong ban biên tập của một số tập san khoa học và có nhiều cơ hội tiếp xúc với những bài báo khoa học, nhưng chưa bao giờ (xin nhấn mạnh: chưa bao giờ) thấy tác giả nào sử dụng THE một cách rộng rãi như thế.

    Nhưng ngược lại, có những chỗ đáng lẽ phải có “the” thì tác giả lại bỏ sót. Chẳng hạn như tác giả quên “the” trong những tên của tổ chức sau đây: Canadian International Development Agency, S. Rajaratnam School of International Studies, Vietnamese Lawyers Association, và Asia-Pacific.

    (d) Sai sót trong cách dùng “to”. Trong phần mục tiêu, tác giả viết “The workshop’s participants are expected to (i) discuss, share and gain new insights from their researches and expertise, (ii) to foster camaraderie among academics working on the South China Sea-related topics, and (iii) to contribute – from scholarly point of view – to possible solutions to the dispute over the South China Sea.” Thấy gì qua đoạn này? Để ý một chút sẽ thấy tác giả dùng to trong câu văn đầu như là “mẫu số” cho 3 động từ theo sau, nhưng rất tiếc là tác giả quên nên trong phần (ii) và (iii) tác giả lại dùng to một lần nữa! Do đó, câu văn đọc là: “The workshop’s participants are expected to to foster ...” và “The workshop’s participants are expected to to contribute …”! Thật là độc đáo!

    (e) Sai chính tả. Đáng lẽ là “MATTER” thì tác giả lại viết là “MATER”. Thật ra, cũng chẳng ai viết "Organizing matters" cả (vì matter có nhiều nghĩa, kể cả nghĩa "vấn đề", "vật chất"), mà có thể viết ngắn gọn là "Logistics" là đủ. Còn "logistic" trong câu "For logistic and other questions" thì cũng sai, vì logistic là tính từ.

    Chữ secretariat tuy không sai về chính tả, nhưng không đúng về nghĩa. Secretariat là văn phòng thư kí, chứ không có nghĩa là "secretarial support" là tác giả muốn nói đến.

    Nói tóm lại, mang tiếng một “concept paper” (tên nghe rất to tát), nhưng nội dung chưa đầy 2 trang giấy, mà có đến hàng chục lỗi lầm và sai sót về từ ngữ, văn phạm, thậm chí chính tả. Nhưng điều quan trọng hơn là thiếu ý tưởng, nó cho thấy tác giả hình như chẳng biết nói gì cho đến nơi đến chốn. Thật khó mà chấp nhận được một văn bản như thế lại được phát tán cho các đồng nghiệp quốc tế dưới danh nghĩa Học viện Ngoại giao Việt Nam.

    Trong chúng ta, ai cũng kinh qua ít nhất là một vài sai sót tiếng Anh, vì nói cho cùng đó đâu phải là tiếng mẹ đẻ, và vài sai sót nhỏ thì có thể thông cảm được. Một văn bản chính thức từ một “học viện” mà có phạm phải vài lỗi lầm tiếng Anh vẫn có thể thông cảm, nhưng nếu có quá nhiều lỗi như trong trường hợp này thì đối tác có thể nghĩ rằng tác giả xem thường họ.

    Trong bài trước, Đinh Tấn Lực có một nhận xét rất đáng chú ý: “Khách mời chính yếu và thượng đẳng danh dự, đứng hàng đầu bảng danh sách này là GS Ji Goxing, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Chiến Lược (của Trung Quốc) tại Thượng Hải. Có tổng cộng khoảng trên dưới 30 khách mời trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, cộng thêm khoảng 40 khách mời quốc tế, và phía chủ nhà gồm 9 hoặc 10 Gs/Ts Việt Nam, phần lớn thuộc Học viện Ngoại giao và Đại học Hà Nội. Không được mời tham dự là những học giả đầy khả năng và tâm huyết về chủ đề Biển Đông [3], như các nhà nghiên cứu Nguyễn Nhã, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Quang A, Đinh Kim Phúc, Hoàng Việt, cùng các cựu thành viên của Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Việt Nam (IDS) cũ.”

    Đó là một điều rất buồn. Tôi thấy trong vấn đề tranh chấp này, Việt Nam ta thật là “lép vế”. Chẳng hạn như trong số 129 working papers về nghiên cứu Biển Đông, chỉ có 1 paper duy nhất từ Việt Nam (“Globalization and its Implications for Southeast Asian Security: A Vietnamese Perspective” của Nguyễn Phương Bình)! Ngay cả cái tựa đề cũng … nhẹ hều (nếu không muốn nói là vô thưởng vô phạt). Do đó, không ngạc nhiên khi giới quan sát quốc tế nhận xét rằng: “The Chinese and Vietnamese claims to sovereignty in the South China Sea are both based on historical claims of discovery and occupation. The Chinese case is better documented”. Có lẽ vì khả năng tiếng Anh của “phe ta” quá yếu chăng?

    Có lẽ có bạn sẽ cho rằng tôi đang làm cái việc "vạch lá tìm sâu", nhưng thật ra, tôi chẳng cần "vạch lá" đâu cả. Tất cả những gì tôi nêu rất hiển nhiên, chỉ cần đọc qua là thấy ngay. Tôi cũng chẳng rành gì tiếng Anh mà còn phát hiện ra những sai sót đó, thì đối với dân ngoại giao nhà nghề chắc còn thấy nhiều lỗi hơn nữa. Những sai sót quá hiển nhiên này là điều đáng tiếc.

    Để kết thúc bài nhận xét ngắn này, tôi xin trích một câu nói của Khổng Tử liên quan đến vấn đề ngôn ngữ: “Nếu ngôn ngữ không đúng, thì những gì nói ra sẽ không phản ảnh chính xác ý của người nói; nếu ý của người nói không được phản ảnh chính xác, thì những gì cần phải làm sẽ không thực hiện được; và những gì không thực hiện được đạo đức và nghệ thuật sẽ suy đồi.” Đã đến lúc các quan ngoại giao ta phải rành tiếng Anh hơn nữa để đất nước và dân tộc được nhờ.

    NVT

    Nguồn: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/11/ve-concept-paper-cua-hoc-vien-...

    Phản hồi: 

    Câu văn lòng thòng mà bác NVTuấn phân tích bên trên gồm 129 chữ, 663 ký tự (783 ký tự nếu tính luôn các khoảng trống giữa chữ).

    Xin chuyển đến bác NVTuấn & các bác độc giả toàn bản copy hồ sơ giới thiệu về cái workshop mà bác ĐTLực đề cập trong bài "6 thông điệp...", để rộng đường dư luận:

    CONCEPT PAPER
    International Workshop on
    “The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development”
    Co-Organizers: The Diplomatic Academy of Vietnam and Vietnamese Lawyers Association.
    Time and Venue: Hanoi, Vietnam, 26-27 November, 2009.

    I . THE BACKGROUND
    Developments in and related to the South China Sea have by and large been consistent to the overall contemporary trend toward greater cooperation in Asia-Pacific.

    Efforts have been made by regional countries to stabilize the situation and seek the opportunities for cooperation in the South China Sea area. These efforts have resulted in, among others, the ASEAN Declaration on the South China Sea in 1992, the adoption in 2004 of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (DOC) according to which all signing parties pledged to seek peaceful solutions to disputes and conduct maritime cooperation in order to maintain regional stability in the South China Sea under the principles of the Charter of the United Nations, the 1982 UN Convention on the Law of the Sea, the
    Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia, the Five Principles of Peaceful Coexistence, and other universally recognized principles of international law.

    Yet, the South China Sea still remains as one of the areas that could cause regional instability. Conflicting territorial claims by parties of the dispute exist. Moreover, they seem to have been compounded by claimants’ development and security needs. Last but not least, the South China Sea’s significance seems to have been wider recognized by many other countries that have stakes in international navigation, maritime safety, natural resource exploitation, environmental protection, and legal effectiveness of the UNCLOS in the area.
    Boosting greater cooperation in the South China Sea-related issues and suggesting possible solutions to the dispute – acceptable for all – therefore are desired.
    Such an endeavor has been pursued by various scholarly efforts including the South China Sea workshops series sponsored by Canadian International Development Agency and research projects such as the conference on “South China Sea: Towards A Cooperative
    Management Regime” held by S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University in Singapore in 2007 etc.
    The international workshop - themed “South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development” - jointly initiated and sponsored by the Diplomatic Academy of Vietnam and Vietnamese Lawyers Association offers an additional important opportunity,
    toward this end, for scholars within the Asia – Pacific region as well as from other parts of the world.

    II. THE OBJECTIVES
    The workshop’s participants are expected to (i) discuss, share and gain new insights from their researches and expertise, (ii) to foster camaraderie among academics working on the South China Sea-related topics, and (iii) to contribute – from scholarly point of view – to possible solutions to the dispute over the South China Sea.

    III. THE PROPOSED TOPICS
    The themes of discussion include, but not restrict to the followings:
    1. Regional and global significance of the South China Sea in the overall context of the
    international environment.
    2. Recent developments in the South China Sea and their implications to peace, stability and cooperation in the region.
    3. Ways and means to maintain peace, stability and promote cooperation in the South China Sea.

    IV. ORGANIZING MATERS
    Workshop participants: Around 40 international scholars from ASEAN countries and China,
    as well as those from Australia, Canada, France, India, Japan, Norway, Republic of Korea,
    Russia, Sweden, United Kingdom, Germany, United States will be invited and interact with
    about local participants.
    Funding: The Co-organizers will provide support for the workshop organization, including
    meeting room, secretariat, documentation, translation, and other facilities.
    The organizers will also cover local expenses for invited international participants. The support will include hotel accommodation, local transport and meals during the workshop.
    International participants are expected to cover their international travel expenses.
    Registration: Participants are invited to register before October 20th, 2009.
    - For information regarding to content of this workshop, please contact:
    Dr. Tran Truong Thuy
    Director, South China Sea Studies Program, Diplomatic Academy of Vietnam
    69 Chua Lang, Dong Da, Hanoi
    email: [email protected], Tel: 84 – 4 – 38344540, ext 105; fax: 84-4-38343543.
    - For logistic and other questions, please contact:
    Mrs. Ngo Thi Thu Huong
    Institute for Foreign Policy and Strategic Studies, Diplomatic Academy of Vietnam
    69 Chua Lang, Dong Da, Hanoi
    email: [email protected], Tel: 84 – 4 – 38344540, ext 129; fax: 84-4-38343543.

    ------------------
    Tentative Programme

    Day 1 – 25 November 2009
    All day : Arrival of participants and check-in
    18.00 - 20.00 : Welcome dinner hosted by Prof., Dr. Duong Van Quang,
    President of Diplomatic Academy of Vietnam.
    Day 2 – 26 November 2009
    8.00 - 8.30 : Registration of Participants.
    8.30 - 8.45 : Welcome and Opening Ceremony.
    Opening Speeches by Prof. Duong Van Quang, President of
    Diplomatic Academy of Vietnam.
    8.45 - 12.00 : SESSION I: Regional and Global Significance of the
    South China Sea in the Overall Context of the Changing
    International Environment
    Proposed Paper Presenters and Speakers:
    Prof. Stein Tonesson, Director, International Peace Research
    Institute (PRIO), Norway.
    Dr. B. A. Hamzah, Senior Research Fellow with Institute of
    Ocean and Earth Sciences & Faculty of Social Sciences,
    University of Malay, Kuala Lumpur, Malaysia.
    Prof. Ji Guoxing, Director of the Institute of International
    Strategy Studies, Shanghai, China.
    Dr. Mark J. Valencia, Visiting Senior Fellow, Maritime
    Institute of Malaysia and East-West Centre of Hawaii, USA
    Prof. Victor Prescott, Department of Geography, University
    of Melbourne, Australia.
    International Workshop on
    “South China Sea: Cooperation
    for Regional Security and Development”
    Hanoi, Vietnam, 26-27 November 2009
    Diplomatic Academy of Vietnam V ie tnam Lawyers Association
    Prof. Monique Chemillier Gendreau, Universite Paris 4,
    France.
    Dr. Nguyen Hong Thao, Lecturer of Hanoi National
    University, Hanoi.
    Dr. Clive Schofield, QE II Research Fellow, Centre for
    Maritime Policy, University of Wollongong, Australia.
    Proposed Moderator:
    Phản hồi: 

    "tôi có cảm giác đây là một văn bản được soạn thảo rất cẩu thả"
    Không cẩu thả đâu ông Nguyễn Văn Tuấn ạ! Khả năng của cấp bộ như thế đã là cố gắng lắm rồi...Còn người có năng lực thì tìm ở đâu đó trong dân!
    Có lẽ ông Tuấn không ở VN nên không biết được điều này.