Vũ Tường - Năm 1948 đánh dấu sự tan rã của liên minh những người cộng sản và phi cộng sản (phần 3)

  • Bởi tqvn2004
    14/11/2009
    0 phản hồi

    Vũ Tường<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Chính phủ TTK chỉ mới tồn tại được 4 tháng khi Nhật đầu hàng. Trước làn sóng quần chúng bạo loạn diễn ra sau sự kiện này, và một sự thách thức của Việt Minh ở miền Bắc, chính quyền này đã từ nhiệm và đồng ý chuyển giao quyền lực cho đối thủ của mình mà không chống cự. Sự thỏa hiệp này là điều đáng phải nói đến, bởi vì chính quyền TTK có thể chọn con đường đàn áp những người cộng sản: Trong khi tại Hà Nội, nơi Việt Minh mạnh nhất, các nhóm thân Việt Minh chỉ có dưới 1000 người ủng hộ với khoảng 100 súng, trong khi đó chính quyền TTK có trong tay 1500 lính dân sự có trang bị vũ khí [22]. Để đổi lại, nhiều lãnh đạo bên Đế Quốc Việt Nam sau đó đã được nhận những chức vụ trong chính quyền Việt Minh như Bộ trưởng và phó Bộ Trưởng. Trong đó bao gồm Phan Anh (Bộ trưởng Bộ Thanh Niên), Phan Kế Toại (Khâm Sai Bắc Bộ), Nguyễn Văn Hưởng (trợ lý chính của Phan Kế Toại), Tạ Quang Bửu (trợ lý của Phan Anh), Vũ Trọng Khánh (Thị trưởng Hải Phòng), Nguyễn Mạnh Hà (trưởng ban kinh tế Hải Phòng), Hoàng Minh Giám (đội trưởng liên kết Việt Nhật ở miền Bắc) và những người khác. Trong bộ máy hành chính thuộc địa, bao gồm cả luật pháp, thủ tục và nhân viên thuộc địa, tất cả đều được sử dụng gần như nguyên vẹn cho chính quyền mới [23]. Hàng ngàn binh lính thuộc địa đã đào ngũ và tham gia lực lượng Việt Minh vào cuối năm 1945 [24]. Sự ra đời của nhà nước Việt Minh diễn ra qua thỏa hiệp quan trọng, nhưng ít được để ý đến, này. Khi Hồ Chí Minh tuyên thệ để trở thành Chủ tịch nước VNDCCH vào tháng 9 năm 1945, gần một nửa các vị trí trong nội các của ông được trao cho những người phi cộng sản [23]. Cộng sản nắm các vị trí như Bộ Ngoại Giao, Bộ Quốc Phòng, Bộ Nội Vụ và Bộ Thông tin trong chính quyền liên minh, trong khi trao các thực quyền cho những người phi cộng sản ở Bộ Kinh Tế, Bộ Nông Nghiệp, Bộ Giáo Dục và Bộ Tư Pháp.

    Chính quyền Việt Minh được nhiều người cho là một mặt trận với Đảng CSĐD ở trung tâm dẫn dắt các thành phần phi cộng sản và các "đồng chí" khác trong mặt trận. Nếu nhìn gần hơn, điều này không hoàn toàn đúng. Chấp nhận những thỏa hiệp chính trị trong khi thiếu vắng những nhân sự có đủ trình độ của riêng mình, lãnh đạo Đảng CSĐD đã trao cho các lãnh đạo phi cộng sản, phần lớn là các thành viên thuộc nhóm Thanh Nghị, đầy đủ quyền lực trong lĩnh vực mình quản lý, từ thị trưởng hay tỉnh trưởng cho đến các bộ trưởng thuộc một số bộ. Thay vì đơn giản là chiếm giữ các vị trí trên một trong những vòng tròn đồng tâm bao quay Đảng CSĐD như mô hình lý thuyết về mặt trận thống nhất thường mô tả [26], các lãnh đạo phi cộng sản tạo thành những trung tâm của nhiều quỹ đạo các hoạt động tự trị. Mặc dù những quỹ đạo này không nằm trong lĩnh vực chính sách đối ngoại hay quốc phòng, chúng liên quan đến những khu vực quan trọng, gồm cách chính sách xã hội, văn hóa và kinh tế tại mức quốc gia lẫn địa phương. Trong khi sự thống trị của những người cộng sản là điều không thể bàn cãi, có những lĩnh vực quan trọng của bộ máy nhà nước mà họ có rất ít quyền kiểm soát. Như lãnh đạo Đảng CSĐD và Thủ tướng Phạm Văn Đồng than vãn vào đầu năm 1950, 'Hiện tại Đảng chúng ta chỉ nắm được những tổ chức chính phủ quan trọng, chứ không phải toàn bộ các lĩnh vực và phòng ban kỹ thuật. Ngay cả cơ quan quan trọng như cảnh sát, chúng ta cũng không có kiểm soát được từ trên xuống dưới. Kiểm soát của chúng ta trong hệ thống tư pháp cũng yếu. Thể chế giáo dục thì nằm ngoài sự chỉ huy trực tiếp của chúng ta' [27]. Chúng ta sẽ xem ở dưới đây tại sao Phạm Văn Đồng lại tỏ ra buồn bã như vậy; tuy nhiên trong cuối năm 1945 thì sự thỏa hiệp như thế là cách duy nhất để một Đảng CSĐD còn yếu vươn lên và nắm giữ quyền lực.

    Trên thực tế, nếu không có những thỏa hiệp ban đầu này, Đảng CSĐD có lẽ đã không thể tồn tại trước những thách thức từ cánh hữu sau khi dành được quyền lực vào tháng 8 năm 1945. VNDCCH chỉ mới thành lập được 5 tuần thì quân Quốc Dân Đảng tiến vào Hà Nội để tước vũ khí của quân đội Nhật Bản theo thỏa thuận Postdam [28]. Theo chân đội quân này từ miền nam Trung Quốc là hai nhóm lưu vong nổi tiếng, Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (VNCMĐMH). VNQDĐ, lưu vong sang miền Nam Trung Quốc sau khi bị đập tan trong vụ nổi dậy thất bại của mình vào năm 1930, dẫn đầu bởi Nguyễn Tường Tam, một trí thức và tiểu thuyết gia nổi tiếng được đào tạo ở trường Pháp [30]. Trong những năm 1930, Tam là lãnh đạo nhóm Tự Lực Văn Đoàn tại Hà Nội, nhưng đã ra hải ngoại trong thế chiến II để gia nhập VNQDĐ. VNCMĐMH được lãnh đạo bởi Nguyễn Hải Thần, người đã có nhiều hoạt động tại các tổ chức chống thực dân ở miền nam Trung Quốc từ những năm 1905, và là người đã từng học và giảng dạy tại Học viện quân sự Whampoa [30]. VNQDĐ và VNCMĐMH nắm quyền ở nhiều tỉnh với lực lượng quân sự riêng của họ và yêu sách rằng chính quyền Việt Nam phải từ nhiệm. Lực lượng Việt Minh vẫn kiểm soát Hà Nội nhưng những vụ chạm trán vẫn nổ ra hàng ngày giữa hai phe đối địch này.

    Các tướng Trung Quốc chủ yếu quan tâm vào việc giữ trật tự và tước vũ khí quân đội Nhật. Không giống như người Mỹ ở Nam Hàn hay người Anh ở Sài Gòn, quân đội Trung Quốc ở Hà Nội thừa nhận chính quyền của Hồ. Như đã nói ở trên, trong những năm 1943-1944, tướng Quốc Dân Đảng đã ủng hộ cho một số nỗ lực hợp tác giữa các nhóm Việt Nam tại hải ngoại, bao gồm cả hồ Chí Minh như một đại diện của Việt Minh. Bây giờ họ đơn giản là tiếp tục nỗ lực đó bằng cách ép Hồ phải chia sẻ quyền lực với VNQDĐ và VNCMĐMH. Quá yếu để chống lại quân Trung Quốc, cộng sản đã hứa cho đối thủ của mình vị trí Phó thủ tướng, vài vị trí bộ trưởng, và 70 ghế trong Quốc Hội mới bầu. Hồ Chí Minh cũng buộc phải đề cử 'những người không đảng phái'[31] vào các vị trí Bộ trưởng Quốc Phòng và Nội Vụ. Bởi vì lãnh đạo Đảng CSĐD muốn tránh những cáo buộc của kẻ thù rằng chính quyền Việt Minh được lãnh đạo bởi những người cộng sản, họ đã thỏa hiệp bằng cách ra lệnh giải tán Đảng CSĐD vào tháng 11 năm 1945. Đảng này thực chất không bao giờ bị giải tán; nó chỉ đi vào hoạt động bí mật kể từ thời điểm đó. Tại một thời điểm, áp lực của Trung Quốc căng thẳng tới mức Hồ Chí Minh thậm chí còn cân nhắc cả việc đưa cực Hoàng Đế trở lại vào lãnh đạo chính quyền, trong khi ông ta từ chối để trở thành một 'cố vấn' [32]. Điều Đảng CSĐD mời chào các nhóm hải ngoại không phải là một thỏa hiệp thực tế, bởi lẽ người cộng sản chưa bao giờ nắm trọn quyền lực, [ở thế trên] so với các đối thủ hoặc các bộ trưởng ngoài Đảng [33]. Ngay khi Trung Quốc rút lui vào giữa năm 1946, chính quyền Hồ Chí Minh thanh lọc phần lớn các lãnh đạo VNQDĐ và VNCMĐMH; số còn lại trốn thoát chạy sang miền nam Trung Quốc hoặc các nơi khác.

    Sự đối địch giữa Đảng CSĐD và các nhóm hải ngoại củng cố những thỏa hiệp giữa những người cộng sản và phi cộng sản bên trong chính quyền Việt Minh. Với việc VNQDĐ và VNCMĐMH tăng cường lôi kéo những thành phần tinh hoa ở thành thị, Đảng CSĐD đi tới việc phải dựa vào các trú thức và doanh nhân nổi tiếng trong chính phủ liên hiệp để vươn ảnh hưởng ra các khu vực bầu cử thành phố. Những cựu viên chức của Đế Quốc Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng, nhưng không được thừa nhận, trong việc tạo ra sự ủng hộ cho Việt Minh. Những viên chức này có ảnh hưởng trong các vòng tròn tinh hoa thuộc địa; gia đình và quan hệ kinh doanh của họ liên quan đến các quan lại cũ, các tinh hoa địa phương và quan chức thuộc địa giúp lôi kéo những thành phần này về phía Việt Minh [36]. Bên cạnh đó, chính quyền Việt Minh tiến hành hàng loạt các vụ bắt bớ các thành viên của VNQDĐ cũng như VNCMĐMH với cáo buộc những người này đã vi phạm pháp luật. Sự tham gia của những người phi cộng sản ở trong chính phủ, đặc biệt là trong Bộ Tư Pháp, đã giúp làm lệch hướng những cáo buộc rằng các vụ bắt bớ chẳng qua là hành động thanh lọc của cộng sản. Quân đội Trung Quốc đã có thể dùng những cáo buộc kiểu như thế để làm cớ lật đổ chính quyền Việt Minh. Bên ngoài vai trò chính trị của họ, những người phi cộng sản cũng đã được ghi nhận trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật có lợi cho Đảng CSĐD trong nhiều nhiệm vụ quản trị khó khăn, bao gồm việc lập ra Hiến Pháp mới và các bộ luật mới, lựa chọn và bổ nhiệm các viên chức mới, chiến đấu với nạn mù chữ và nạn đói, thực hiện cách chính sách nông nghiệp để ngăn chặn nạn đói.

    (còn tiếp)
    ______________________

    Chú thích trong bài viết

    22. Marr, Vietnam 1945, tr. 393.

    23. David Marr, 'Beyond high politics: State formation in northern Vietnam, 1945-1946', trong Naissance d'un état-parti: Le Viet Nam depuis 1945 / The birth of a party-state: Vietnam since 1945, biên tập bởi Christopher Goscha và Benoit de Tréglodé (Paris: Le Indes Savantes, 2004), tr. 25-60.

    24. John McAlister, Vietnam: The origin of revolution (New York: Alfred Knopf, 1969); Greg Lockhart, Nations in arms: Origins of the People's Army of Vietnam (Wellington: Allen & Unwin, 1989), tr. 150, 175-176.

    25. Những người phi cộng sản, bao gồm Vũ Đình Hòe (Giáo dục, và sau đó là Tư pháp), Dương Đức Hiền (Thanh niên), Vũ Trọng Khánh (Tư pháp), Nguyễn Mạnh Hà (kinh tế), Nguyễn Văn Tố (xã hội), và Nguyễn Văn Xuân (không bộ). Nhiều người phi cộng sản được bổ sung sau này, bao gồm Nghiêm Xuân Yêm (Nông nghiệp), Nguyễn Văn Huyên (Giáo dục), Trần Đăng Khoa (Thủy lợi) và Phan Anh (thương mại và công nghiệp).

    26. Để tìm hiểu về lý thuyết và thực hành của Đảng CSĐD về mặt trận thống nhất những năm 1930, xem Huỳnh, Vietnamese Communism, tr. 137-141.

    27. Phạm Văn Đồng, 'Phải kiện toàn chính quyền cộng hòa nhân dân', phát biểu trước Đại Hội Đảng Toàn Quốc lần III, 21/1-3/2/1950. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, vol. 11, tr. 185.

    28. Peter Worthington, 'Occupation and revolution: The Chinese Nationalist Army in north Vietnam, 1945-1946' (Luận văn PhD, Universtity of Hawaii, 1995).

    29. Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1993), tr. 113-114, 176-181.

    30. Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 953-954.

    31. 'không đảng phái' ở đây có nghĩa là họ không thuộc về Đảng CSĐD cũng như VNQDĐ hay VNCMĐMH.

    32. Vũ Đình Hòe, Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, (Hà Nội: Văn hóa thông tin, 2000), tr. 58.

    33. Đọc thêm về nỗ lực của cộng sản để nắm quyền tại Bộ Nội Vụ dưới con mắt của một người được bổ nhiệm, xem Lê Giản, Những ngày sóng gió: Hồi Ký, (Hà Nội: Công An Nhân Dân, 2000).

    34. Chính quyền Tưởng Giới Thạch làm theo áp lực của Hoa Kỳ, cho phép quân Pháp thay thế quân Trung Quốc. Người Pháp, để đáp lại, đã cho Tưởng một số quyền ưu tiên về thương mại tại miền Bắc Việt Nam. Xem Worthington, 'Occupation and revolution'.

    35. Đối với những người còn ở lại thì số phận không mỉm cười với họ. Ví dụ, lãnh tụ VNQDĐ Chu Bá Phượng, Bộ trưởng bộ kinh tế, đã được gửi tới trại tập trung vì đã tìm cách bỏ trốn khỏi vùng Việt Minh kiểm soát; xem Văn Phòng Quốc Hội, Đại Biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa X, (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2002) để biết về số phận của nhiều lãnh tụ VNQDĐ và VNCMĐMH.

    36. Vũ Đình Hòe, Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, tr. 68, 96-100. Một ví dụ nổi tiếng là Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Giáo dục VNDCCH (tới năm 1975), là con rể của quan Vi Văn Định, tỉnh trưởng Thái Bình.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi