Vũ Tường - Năm 1948 đánh dấu sự tan rã của liên minh những người cộng sản và phi cộng sản (phần 2)

  • Bởi tqvn2004
    12/11/2009
    0 phản hồi

    Vũ Tường<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Những thỏa hiệp bị quên lãng

    Với nghiên cứu mở đường của Vũ Ngự Chiêu, học giả nghiên cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại đã bắt đầu nghi vấn về giả thiết rằng chính quyền Việt Minh là một sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chính phủ Trần Trọng Kim (TTK), vốn đã tồn tại trước nó trong một thời gian ngắn (từ tháng Tư đến tháng Tám 1945) [5]. Giả thiết này một phần là do thiếu những dữ liệu lịch sử liên quan đến chính quyền TTK. Nhưng phần khác lớn hơn, là các nhà quan sát đã (vô tình hoặc cố ý) tin vào những lời tuyên truyền của Việt Minh cũng như các nhà sử gia cộng sản (ví dụ Trần Huy Liệu) rằng chính quyền TTK chỉ là một chính quyền bù nhìn đã bị lật đổ vào tháng Tám 1945 khi những người cộng sản dành quyền lực với sự ủng hộ của đông đảo quần chúng. Đây lại là một trường hợp mà kẻ chiến thắng viết lại lịch sử để che đậy quá khứ của chính mình. Tôi muốn chỉ ra rằng, để dành được sự lên ngôi và tồn tại của mình vào cuối năm 1945, những người Cộng sản đã phải đưa ra những thỏa hiệp với những người ủng hộ và thành viên của chính quyền TTK, với tầng lớp thượng lưu thuộc địa và cơ quan thuộc địa, với các nhóm nhân dân địa phương. Hiểu rõ về những thỏa hiệp này sẽ giúp chúng ta hiểu tầm quan trọng của năm 1948, và khi những thỏa hiệp này bị bỏ rơi, chúng góp phần vào cuộc nội chiến sau đó giữa miền Bắc và Nam Việt Nam.

    Câu chuyện về những thỏa hiệp này bắt đầu khi Nhật bước vào Đông Dương thuộc Pháp năm 1940 qua sự thương lượng. Đối mặt với mối đe dọa Nhật Bản, chính quyền Vichy đã đồng ý mở các cảng và đường xá, cung cấp nhân lực và vật liệu cho nhu cầu chiến tranh của Nhật Bản. Đáp lại, Pháp được phép duy trì bộ máy cai trị của mình đối với Đông Dương [6]. Chỉ tới tháng 3 năm 1945, sau khi chính quyền Vichy sụp đổ ở Pháp và người ta trông đợi lực lượng Đồng Minh tới tiếp quản Đông Dương, Nhật mới quyết định lật đổ chính quyền Pháp ở đây.

    Sau khi tống giam bộ máy quản lý và quân đội thuộc địa của Pháp vào tháng Ba năm 1945, Nhật cho phép Hoàng đế Việt Nam tuyên bố một Đế Quốc Việt Nam (ĐQVN) độc lập, và thiết lập bộ máy quản lý của người Việt vào tháng sau đó. Thay vì lựa chọn những người theo chủ nghĩa dân tộc có nhiều kinh nghiệm (như họ đã làm ở Java), người Nhật chọn một nhóm trí thức và giáo sư thành đạt trong cuộc sống, nhưng thiếu kinh nghiệm chính trị để thành lập chính quyền mới của Việt Nam [7]. Thủ tướng của chính quyền này, ông Trần Trọng Kim, được đào tạo tại Pháp và được biết tới chủ yếu như là một thanh tra trường học và một sử gia [8].

    Mặc dù các lãnh đạo mới này có rất ít kinh nghiệm chính trị và chính quyền đó chỉ tồn tại có 4 tháng, vai trò lịch sử của nó không phải không có những ảnh hưởng nhất định [9]. Đứng bên cạnh nó là nhiều nhóm thành thị có ảnh hưởng như Đảng Đại Việt [10] nhà nhóm Thanh Nghị [11], vốn theo chủ nghĩa dân tộc. Phan Anh và Vũ Văn Hiền, hai luật sư được đào tạo ở Pháp trong Thanh Nghị đã giữ hai vị trí tương ứng là Bộ Trưởng Thanh Niên và Bộ Trưởng Tư Pháp. Nhóm Thanh Nghị đã tạo ra Tân Việt Nam Hội để động viên sự ủng hộ của quần chúng đối với chính phủ mới [12]. Trung ương của Hội này gồm 33 trí thức và giáo sư nổi tiếng, là những người thuộc một mạng lưới rộng lớn hơn các trí thức cùng tâm tư, những người đã thành lập và đóng góp cho Thanh Nghị [13]. Trong nhiệm kỳ ngắn ngủi của mình, chính quyền TTK đã mở rộng đáng kể cơ hội cho hoạt động chính trị của quần chúng bằng cách dỡ bỏ kiểm duyệt báo chí, thả hàng ngàn tù chính trị từ các nhà tù thuộc địa, và tiến hành phong trào thanh niên rộng lớn tại các thành phố. Nếu không có những bước tiến này, sự nổi dậy tự phát của quần chúng dẫn tới việc dành chính quyền khi Nhật Bản đầu hàng tháng Tám năm 1945 có lẽ đã không xảy ra.

    Sự lật đổ Pháp của người Nhật tháng 3 năm 1945 đã đưa chính phủ TTK lên nắm quyền lực, nhưng sự kiện này đồng thời là món quà của người Nhật dành cho phong trào cộng sản đang hoạt động bí mật [14]. Cảnh sát và mật thám thuộc địa Pháp, cho tới thời điểm đó, đã làm rất tốt việc đàn áp phong trào cộng sản. Năm 1940, cảnh sát và quân đội thuộc địa đã đập tan một cuộc phản kháng dẫn dắt bởi Đảng CSĐD ở miền Nam Việt Nam và xử tử gần như tất cả lãnh đạo của nó. Năm 1941, Hồ Chí Minh quay trở về khu vực biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, và tìm cách khôi phục phong trào. Ông ta và các lãnh đạo còn sống sót của Đảng CSĐD chi nhánh miền Bắc đã thiết lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, một tổ chức mặt trận điều khiển bởi những người cộng sản nhưng mở rộng cho mọi thành phần khác tham gia [15]. Bắt chước chính sách của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Đảng CSĐD tìm cách xây dựng lực lượng du kích quân và thành công ở một mức độ nào đó trong việc huy động sự ủng hộ của địa phương để thực hiện sự nghiệp của mình [16]. Dưới sự tài trợ của Zhang Fakui, một tướng Quốc Dân Đảng, Hồ lưỡng lự hợp tác với các nhóm người Việt theo chủ nghĩa dân tộc tại miền Nam Trung Quốc để thiết lập một mặt trận tương tự, nhưng chỉ thu hút được số ít tham gia [17]. Thế nhưng trước tháng Ba năm 1945, Việt Minh có một tổ chức chính quy nhỏ và duy trì một sự phản kháng bấp bênh trước sự đàn áp dữ dội của Pháp. Điều này thay đổi khi Nhật hất cẳng Pháp vào tháng Ba năm 1945. Tới lúc đó, các chỉ huy quân đội Nhật chủ yếu lo lắng chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của quân đội Đồng Minh, chứ không chú ý tới các cuộc nổi dậy trong nước. Nông thôn vì thế trở thành khoảng trống, không ai ngăn cản việc khích động quần chúng, và Việt Minh nhanh chóng tận dụng này [19]. Trong khi Việt Minh công khai lên án chính quyền TTK như một thứ bù nhìn Nhật Bản [20], đằng sau sân khấu thì những người cộng sản lại tìm cách lôi kéo lãnh đạo bên chính quyền TTK làm việc cho sự nghiệp của mình [21]. Điều này tạo ra cơ hội cho những thỏa hiệp về sau.

    (còn tiếp)
    ______________________

    Chú thích trong bài viết

    5. Vũ Ngự Chiêu, 'The other side of the revolution: The Empire of Vietnam (March-August 1945)', Journal of Asian Studies, 45, 2 (1986): 293-328. Vũ Ngự Chiêu chỉ ra rằng chính quyền TTK đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để Việt Minh chiếm quyền thành công vào tháng Tám năm 1945 như thế nào. Xem thêm Stein Tønnesson, The Vietnamese revolution of 1945 (London: Sage Publications, 1991); và David Marr, Vietnam 1945: The quest for power (Berkeley: University of California Press, 1995).

    6. Vai trò của Nhật Bản đối với tương lai của Đông Dương không dễ thấy như trong trường hợp của Indonesia. Tại Dutch Indies, quân đội Nhật Bản đã đổ bộ, nhanh chóng đánh bại lực lượng quân đội thuộc địa Hà Lan, và đưa những người dân tộc chủ nghĩa nổi tiếng lên làm cố vấn cho chính quyền quân sự của Nhật, với lời hứa sẽ trả lại độc lập trong tương lai. Tuy nhiên, ở Việt Nam, Pháp vẫn còn tại vị, và Nhật chẳng làm gì nhiều ngoài để ngỏ các khả năng của mình khi tiếp xúc với các nhóm Việt Nam như Hòa Hảo và Cao Đài, và bảo vệ một số người theo chủ nghĩa dân tộc khỏi sự đàn áp của Pháp.

    7. Để tìm hiểu về các giả thuyết liên quan đến động cơ của Nhật khi làm việc này, xem Tønnesson, The Vietnamese Revolution of 1945, tr. 282-6; Marr, Vietnam 1945, tr. 116-117.

    8. Nguyễn Quốc Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển Nhân vật Lịch sử Việt Nam (thành phố Hồ Chí Minh: Văn Hóa, 1997), tr. 894-895

    9. Vũ Ngự Chiêu, 'The other side of the revolution'.

    10. Xem Francois Guillemot, 'Vietnamese nationalist revolutionaries and the Japanese Occupation: The case of the Đại Việt parties (1936-1946)', trong Imperial Japan and national identities in Asia, 1895-1945, biên tập bởi Li Narangoa và Robert Cribb (New York: Routledge Curzon, 2003), tr. 221-48

    11. Đây là tập hợp của nhiều luật sư, bác sĩ, và các chuyên gia khác, những người cùng nhau xuất bản tờ Thanh Nghị tại Hà Nội từ năm 1940-1945. Thanh Nghị thường được dịch theo nghĩa bóng là "những thảo luận / nghị luận rõ ràng".

    12. Trong cuộc phỏng vấn của tôi với ông Vũ Đình Hòe (Hà Nội, 12/2003), vốn là bí thư của đảng, ông giải thích rằng 'Hội' ở đây cũng có nghĩa là 'Đảng', chứ không phải chỉ là hội đoàn.

    13. Vũ Đình Hòe, hồi ký Thanh Nghị (Hà Nội: Văn học, 1995), trang 182-189. Đảng Đại Việt có lẽ đã bị đàn áp bởi Nhật vào tháng 7 năm 1945, và nhiều lãnh tụ của nó đã ra nhập Việt Minh.

    14. Tønnesson, The Vietnam revolution of 1945, trang 247.

    15. Như trên, tr. 114-125.

    16. Như trên, tr. 125-132 và 144-147.

    17. Như trên, tr. 122. Hồ Chí Minh đi tới miền Nam Trung Quốc vào năm 1943, và bị bắt bởi lực lượng Quốc Dân Đảng, và đã bị giam giữ trong vòng một năm trước khi được thả và được yêu cầu hợp tác với các nhóm theo chủ nghĩa dân tộc khác.

    18. Như trên, tr. 131.

    19. Như trên, tr. 249. Trong bài báo trên tờ Việt Nam Độc Lập, một tờ báo của Việt Minh (30 tháng tư năm 1945), người ta đã thừa nhận phong trào đã hưởng lợi từ sự sụp đổ của Pháp.

    20. Xem Việt Nam Độc Lập, 21 tháng tư năm 1945.

    21. Lê Trọng Nghĩa, 'Các cuộc tiếp xúc giữa Việt Minh và chính phủ Trần Trọng Kim', trong Lịch sử, sự thật và bài học (Hà Nội: Trẻ, 2000).

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi