Dạ Hương - Lắng xuống mà hiểu sâu (tiếp tục bàn về báo cáo Valley và phản biện của GS Neal)

  • Bởi Admin
    11/11/2009
    0 phản hồi

    Dạ Hương

    ... Vắn tắt, báo cáo Vallely nói lên chính những điều nhiều cái tai ở Việt Nam muốn nghe, và kết luận đúng cái điều nhiều cái tai — nhất là những cái tai lãnh đạo và giới đầu cơ cái gọi là đổi mới đại học — đang muốn rót vào: phải lập ra một trường đại học mới hoàn toàn, theo kiểu Mỹ...

    Chưa đầy một tháng kể từ khi công bố bài viết “Tranh luận sau báo cáo của Harvard về giáo dục đại học Việt Nam” của Neal Koblitz,[1] nhiều độc giả đã bình luận và bày tỏ ý kiến trên các diễn đàn internet. Là một người đang học để hiểu về giáo dục, nhất là giáo dục Việt Nam, tôi đã học hỏi được rất nhiều từ những nội dung của các ý kiến trái chiều. Ở đây tôi chỉ xin bàn một chút bên lề về chính trị cá nhân, chính trị văn bản, và chính trị liên văn bản, thông qua cuộc “đối thoại” gần đây về chủ đề này trên một số bài viết và phỏng vấn liên quan.

    Tôi đặt “đối thoại” trong ngoặc kép bởi lẽ không phải tất cả các bài viết liên quan nhưng đăng tải trên các diễn đàn khác nhau đều chú tâm làm rõ tác giả hoặc chủ thể được đề cập đến đáp lại trực tiếp bài viết của ai hoặc tranh luận với những luận điểm cụ thể nào. Nhưng cuộc tranh luận này có thể xác định rõ hơn nếu đặt trong một khung thời gian tương đối có giới hạn được ghi dấu bởi các sự kiện liên quan đến giáo dục và đời sống tri thức Việt Nam như việc giải thể IDS và mất tên miền online của Tạp chí Tia sáng.

    Phản bác đầu tiên đối với tranh luận của Koblitz là bài viết của nhà giáo Phạm Toàn.[2] Đành rằng trước nay tôi vẫn hết mực khâm phục và kính trọng phẩm cách của cụ trong việc cùng lập ra BauxiteVietnam website và nhiều bài viết sâu sắc trên các diễn đàn tri thức uy tín khác, nhưng tôi chia sẻ với một số rất ít độc giả cảm giác hơi thất vọng trước thái độ có phần tự ái cá nhân mà có bạn đọc cho là “kẻ cả” của tác giả trong bài viết này.[3] Ngay từ đầu đọc lên đã thấy hình như cụ hơi cáu, hơi vùng vằng, đại ý chẳng phải việc của tôi, đáng lẽ ra tôi đã bỏ ngoài tai rồi. Những gì tác giả Phạm Toàn phản bác lại GS. Koblitz đều nhằm vào những nội dung ở bên trên, tương đối hời hợt, như thể chưa kịp đọc kỹ, chưa suy ngẫm vào những luận điểm mang tính nội dung. GS. Koblitz bắt đầu từ lịch sử, theo tôi, có lẽ không phải là để khoe kiến thức hoặc thể hiện sự gắn bó đặc biệt của mình với Việt Nam từ thời XHCN, mà có hàm ý nhấn mạnh cần hiểu tận gốc trí thức Việt Nam và thực lực trí tuệ Việt Nam. Việc đặt ra nghi vấn về tư cách của hai tác giả bản báo cáo mà ông chủ tâm gọi là báo cáo Vallely để từ đó thách thức thẩm quyền (authority) của văn bản đó, tôi nghĩ là xác đáng, mà bị chụp mũ là lý lịch chủ nghĩa phải chăng có phần hơi quá. Sự cẩu thả có lẽ khá khó chấp nhận khi tác giả Phạm Toàn cho rằng, với giọng hơi gắt, chuyện sinh viên Mỹ học dốt toán “chẳng ăn nhập gì đến chuyện nền đại học Việt Nam rệu rã hết!” Hơn nữa ông còn như dỗi, “ở trong chăn mới biết chăn có rận”, dường như ý nói, người ngoài liệu biết gì và biết đến đâu mà bàn góp. Thái độ này hoàn toàn nhất quán ngay từ lúc ông cất lời, “Người Mỹ có “sứ mạng” gì mà phải “báo cáo” cho người Việt Nam biết chuyện xảy ra ở nước Việt Nam?” Tôi nghĩ nếu ta cứ gạt đi như vậy thì chẳng mấy chốc chẳng còn ai trong cũng như ngoài còn muốn can gián, nói cho ta cái hay cái dở của ta nữa. Đúng như chính tác giả đã khuyên, cần có cái tai của người lắng nghe phê phán; nhưng trong trường hợp này, cái tai của cụ là một phản ví dụ rất đáng nêu để tránh không học tập.

    Điều hữu ích nhất tôi thu nhận được từ bài viết của tác giả Phạm Toàn là bối cảnh, mục tiêu, cũng như đối tượng chính bản báo cáo được gọi là Harvard nhằm vào. Thông tin này là hết sức quan trọng vì trước đó Tuần Việt Nam chỉ cho biết một cách chung chung là bản báo cáo thuộc về chương trình Asia Programs của Trường Kennedy, làm cho người đọc có cảm giác rằng bản báo cáo có thể mang tính học thuật nếu không tương đối trung lập. Các tiêu đề đều gọi đó là “báo cáo Harvard” khiến cho nó có một thứ thẩm quyền nhất định.[4] Nhờ có tác giả Phạm Toàn người đọc mới biết báo cáo được đặt hàng để cung cấp thông tin cho một ủy ban để dẫn đến những quyết định cụ thể tiếp theo.

    Những thông tin hậu trường này đặt báo cáo của Vallely và cộng sự dưới một ánh sáng mới. Nó, và các tác giả của nó, hẳn là có những mục tiêu và chủ đích của mình. Khá rõ ràng, bản báo cáo trình bày mọi khía cạnh và mức độ của của khủng hoảng giáo dục ở Việt Nam, và kết lại bằng khuyến nghị cổ vũ cho việc xây dựng một cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn mới.

    Thực ra, hầu hết mọi điểm về khủng hoảng giáo dục đại học trong báo cáo này đều đã được đề cập đến nhiều trong nước.[5] Nhưng phải chờ đến khi được người nước ngoài, lại khoác thêm nhãn Harvard, nói lên, thì người ta mới để ý đến. Nhưng tại sao “bụt chùa nhà không thiêng” lại là chuyện khác, sẽ phải bàn ở dịp khác.

    Vắn tắt, báo cáo Vallely nói lên chính những điều nhiều cái tai ở Việt Nam muốn nghe, và kết luận đúng cái điều nhiều cái tai — nhất là những cái tai lãnh đạo và giới đầu cơ cái gọi là đổi mới đại học — đang muốn rót vào: phải lập ra một trường đại học mới hoàn toàn, theo kiểu Mỹ.

    Bài viết của GS. Koblitz phản biện lại báo cáo Vallely và đặt ra nghi vấn về thẩm quyền và giá trị của báo cáo đó. Ở đây tôi xin không đi vào những điểm mang tính nội dung. Về mặt phương pháp, ngoài việc xem xét lại tư cách của hai tác giả, GS. Koblitz đã chỉ ra, thông qua ví dụ Intel, về cách ông cho là báo cáo Vallely đã “xuyên tạc và bóp méo những kinh nghiệm của Intel để phục vụ cho mục tiêu chính trị của mình.” GS. Koblitz cũng thẳng thắn chỉ trích thái độ trịnh thượng và tinh thần “thực dân mới” hàm ẩn trong bản báo cáo. Lời khuyên của ông thật tường minh: “Việt Nam không nên tôn sùng nước Mỹ hay bất cứ một quốc gia nào khác”; 8 điểm khuyến nghị của ông đều tập trung vào cải thiện nội lực của Việt Nam và theo hướng dân túy, tức là tăng cơ hội giáo dục có chất lượng đối với người có năng lực và mở rộng cơ hội cho số đông và các nhóm ngoại vi như phụ nữ, dân tộc thiểu số.

    Có độc giả bất bình trước những khuyến nghị này vì đọc lên chỉ thấy tiền, rồi từ đó suy ra sự nguy hiểm của vay vốn và nợ nước ngoài.[6] Theo tôi cách đọc như vậy là tách ra văn bản ra khỏi bối cảnh của chính nó. Nên chăng cần đọc nó như lời đối thoại giữa hai bài viết: văn bản của Vallely và cộng sự đề xuất phía Việt Nam chi tiền lập đại học kiểu Mỹ, còn Koblitz muốn can ngăn và khuyên hãy dùng tiền cho các việc có ích hơn cho số đông và các nhóm thiệt thòi. Như vậy bất cứ một văn bản nào cũng cần được đọc trong hoàn cảnh cấu thành nên nó và cái phông nền chính trị nó ảnh chiếu lên. Tôi chia sẻ với một số bạn đọc đồng thuận với lời cảnh báo của GS. Koblitz, được một blogger diễn đạt lại, “không nên nhập khẩu “nguyên chiếc” mô hình Mỹ”, và “đừng nên nhìn chữ Harvard mà vội vã kính cẩn nghiêng mình.”[7]

    Cùng ngày công bố bài viết của Phạm Toàn, Tuần Việt Nam đăng một bài về Thomas Vallely.[8] Nhà báo Khánh Linh, sau khi công khai tiểu sử cựu chiến binh và hoạt động chính trị của Vallely, dường như có ý thanh minh cho ông bằng cách ngợi ca tâm huyết của ông với Việt Nam, dẫn lời các cộng sự cho rằng ông chính là Fullbright Việt Nam, hiểu theo nghĩa là người vận động để thành lập và đưa vào vận hành chương trình này. Quan điểm của Vallely được phát biểu rất rõ ràng, vì “Đưa các sinh viên VN sang Mỹ không phải cách “hiệu quả”, vì sẽ tốn rất nhiều tiền. Đầu tư cho các cơ sở đào tạo “chuẩn” ở VN mới là cách tốt, vì cùng một số tiền sẽ có nhiều sinh viên được đào tạo hơn.” Và đó chính là cái đại học ông muốn mở, và ông muốn làm một thành viên của nhóm nghiên cứu giúp Việt Nam xây dựng trường đại học ông gọi là hàng đầu đó. Đến đây, tôi thấy nghị trình cá nhân của Vallely được phát biểu thật công khai và rõ ràng. Độc giả càng được biết về “tâm huyết” của Vallely bao nhiêu thì lại càng muốn tĩnh tâm để tự cân nhắc lượng giá đề xuất do ông và cộng sự đưa ra bấy nhiêu.

    Khoảng chục ngày sau khi công bố phản biện của Koblitz, bức “tâm thư” của GS. Hoàng Tụy được đăng trên Tuấn’s blog.[9] Ngoài việc nhắc đến bài viết của mình có thể là một trong những lý do khiến Tia sáng online bị mất tên miền, GS. Hoàng Tụy có nói thêm đôi lời liên quan đến người “bạn tốt lâu năm” của ông là GS. Koblitz. Thì ra, như ông viết, “Vì tình bạn lâu năm với tôi, có lẽ Koblitz nghĩ rằng muốn phản đối một ý kiến sai lầm nào đó của lãnh đạo Bộ giáo dục, cách hiệu quả nhất là gán ý kiến đó cho tôi .” Nếu quả đúng như vậy, thì việc Koblitz phê phán hai quan điểm ông gán cho người mình kính trọng và ngưỡng mộ là GS. Hoàng Tụy — ủng hộ tư nhân hóa giáo dục và tán thành xây dựng một trường đại học kiểu Mỹ — cũng không khác về mặt phương pháp với cách báo cáo Vallely sử dụng ví dụ Intel đã nhắc đến ở trên. Nếu không cố gắng thoát khỏi cách đọc duy tình, tôi cũng sẽ để dư vị chua chát khi thấy tình bạn vong niên giữa hai vị giáo sư đáng kính phải bị hy sinh và nỗi xót xa trước lời thoái lui trong day dứt của GS. Hoàng Tụy trước khi rút vào “im lặng đáng sợ” lấn át mất nhãn quan về những trọng tâm mà Koblitz muốn cảnh tỉnh.

    Hôm sau, BBC đăng cuộc phỏng vấn Koblitz, cho ông một cơ hội làm rõ hơn những luận điểm chính trong bài ông đã viết.[10] Khi trả lời phỏng vấn, ông cũng dùng đến thứ lôgích thông thường như tác giả Phạm Toàn, “có những mặt trái của hệ thống Hoa Kỳ mà những người sinh sống ở đây như chúng tôi hiểu hơn những người bên ngoài” và cảnh báo “thường những cái xấu nhất của Hoa Kỳ lại được xuất khẩu nhanh chóng nhất.” Ở đây Koblitz bộc lộ thẳng thắn hơn và ông đã chỉ đích danh chủ nghĩa tân-tự do mà ông cho là đang có nguy cơ được áp đặt vào Việt Nam thông qua ảnh hưởng của Mỹ.[11] Vẫn nhất quán với tinh thần trong bài viết của mình, Koblitz khuyên nên thận trọng với Hoa Kỳ, không nhất thiết phải đi theo mô hình Mỹ trong mọi khía cạnh hoặc cấp đào tạo, và đưa ra một số gợi ý cho các mô hình theo ông là phù hợp với từng cấp học hoặc nhu cầu cụ thể (Nhật, Ấn Độ, Canada).

    Hôm nay Ngô Minh Trí đăng bài “Giáo dục Việt Nam – cần cái nhìn khách quan” trên blog của mình, vén lộ lên thêm vài điều cụ thể hơn về chương trình Fullbright Việt Nam. Chính cái chương trình mà Vallely tự hào quảng bá với nhà báo Khánh Linh là “hạt nhân, là cốt lõi của cách giáo dục hợp lý mà Việt Nam nên áp dụng cho các chương trình khác” ấy, như Ngô Minh Trí chỉ ra, phần lớn bao gồm những học phần sử dụng các công cụ phân tích dựa trên nền tảng phân tích chính sách Mỹ. Học tập một nền lý luận vốn gắn chặt với thể chế chính trị và chiến lược phát triển quốc gia, theo tác giả, sẽ dẫn tới nguy cơ bị áp đặt về thể chế chính trị, và cơ sở đào tạo theo kiểu như vậy có nguy cơ trở thành tiền đồn cho việc truyền bá chính trị.[12] Nếu đọc lại bài báo của Khánh Linh trong liên hệ cặp đôi với bài của một nhà báo khác ngợi ca các nghị sĩ Mỹ có công “nối nhịp Việt-Mỹ” thì lại càng hiểu rõ những lề đường mỗi người đang đi.[13]

    Năm, sáu bài viết đăng tải trên các diễn đàn khác nhau và thông qua các con đường khác nhau, có bài đối thoại trực tiếp, có bài chỉ gián tiếp, lại cũng có bài, có diễn đàn tương đối độc lập với nhau, nhưng nếu được đặt trong một chuỗi, sẽ vén lộ nhiều điều về chính trị cá nhân, chính trị văn bản, và chính trị liên văn bản. Khía cạnh duy tình trong người đọc là tôi được rèn luyện qua nhiều cảm xúc phủ định lẫn nhau. Nỗi thất vọng ban đầu với thái độ của tác giả Phạm Toàn nhường chỗ cho sự cảm thông khi được biết thêm về tính cách cá nhân của cụ bộc lộ trong một số bài viết cũng bức xúc tương tự về những cá nhân khác, những vấn đề khác, trên các diễn đàn khác. Phần nào niềm ngưỡng mộ sự khảng khái của GS. Koblitz lại bị lung lay nghi hoặc khi biết được tâm sự của GS. Hoàng Tụy. Thấm thía buồn tuy vẫn hiểu nên không dám trách khi GS. Hoàng Tụy rút vào im lặng, tôi thầm nghĩ thà cứ cáu lên một chút, hơi gắt dỗi một chút như cụ Phạm Toàn còn hơn, chí ít là còn nỗ lực tỏ một chút thái độ gì đó! Nhưng rồi khi cảm xúc đã lắng xuống tôi thấy mình sáng rõ ra nhiều điều. Tôi chia sẻ với Ngô Minh Trí rằng cần phải có cái đầu tỉnh táo để luôn thấy được sự hiện diện của chính trị — tôi xin bổ sung thêm là cả chính trị cá nhân lẫn chính trị thể chế — trong mỗi văn bản để định giá chúng được xác đáng hơn. Nhưng khác với anh Trí, tôi không kỳ vọng đạt tới một cái nhìn khách quan. Tôi không tin vào một chân lý duy nhất, mà chỉ cố gắng tìm để hiểu các con đường dẫn tới từng phiên bản của sự thật, và chủ đích của tác nhân làm nên các phiên bản đó. Thay vì hướng tới một bức tả chân tuyệt đối khách quan về giáo dục Việt Nam để từ đó tìm ra giải pháp, tôi tin vào cuộc thương thỏa không ngừng giữa các chủ thể giáo dục và đặt kỳ vọng vào những giải pháp mang tính liên chủ thể. Vị thế của từng chủ thể trên bàn thương thảo như thế nào, từng tiếng nói có thể cất lên được hay không, ở mức nào, có thể được tăng quyền hay không và bằng cách nào lại là một chuyện khác. Theo tôi, chỉ có những giải pháp liên chủ thể may ra mới thực sự khả thi, mà nhờ thế mới có thể vững bền.

    ————

    Chú thích

    Phần đầu của bài này đã được đăng dưới dạng bình luận ở quechoablog. Dạ Hương xin cảm ơn chú Nguyễn Quang Lập, anh NQHwng, và bạn Myna đã góp bàn và khích lệ.

    [1] http://www.tuanvietnam.net/2009-10-21-tranh-luan-sau-bao-cao-cua-harvard-ve-gd-vn

    [2] Phạm Toàn, “Nhà vua chết rồi, hoàng đế vạn tuế”, http://www.tuanvietnam.net/2009-10-25-nha-vua-chet-roi-hoang-de-van-tue-

    [3] NQHwng, bình luận trên quechoablog 26/10/2009.

    [4] Ngô Minh Trí cũng đã phê phán khía cạnh “giật gân” mà theo anh là “thỏa mãn cho nhiều “cái đầu nóng” hiện tại trong và ngoài nước” trong bài viết mới đây của mình http://trinm.wordpress.com/2009/11/09/giao-d%E1%BB%A5c-c%E1%BA%A7n-cai-nhin-khach-quan/

    [5] trinm blog đã dẫn.

    [6] Blog NVP, trích theo quechoablog, 26/10/2009.

    [7] NVTV, bình luận trên quechoablog 26/10/2009.

    [8] Khánh Linh, “Thomas Vallely, ông là ai?” http://www.tuanvietnam.net/2009-10-25-thomas-vallely-ong-la-ai-

    [9] đăng lại trên quechoablog 03/11/2009

    [10] “Sai lầm nếu rơi vào ảnh hưởng Mỹ” http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/11/091104_neal_koblitz_interview.shtml

    [11] Ở đây tôi xin không đi vào bàn về những biểu hiện tân-tự do trong giáo dục Mỹ và Việt Nam, chỉ xin được bày tỏ rằng ý kiến “không thấy có quan hệ nào quan trọng giữa chủ nghĩa tân tự do và mô hình đại học Hoa Kỳ, một mô hình đã được thử thách hơn 200 năm nay” của một độc giả dường như có phần vội vàng, nhất là khi chính độc giả này ngay sau đó lại đề cao triết lý tự do của các đại học phương Tây trong đó có Hoa Kỳ, cho phép tự phủ định để phát triển (krishna, San Francisco, http://newsforums.bbc.co.uk/ws/vi/thread.jspa?forumID=10280). Tất nhiên có sự khác biệt giữa quan điểm tân-tự do và tự do theo cách hiểu thông thường, tôi thiết nghĩ cần có sự cẩn trọng hơn nữa trong phát biểu, nhất là với một người tham gia vào giảng dạy đại học ở Việt Nam như krishna.

    [12] trinm blog đã dẫn.

    [13] Phương Loan, “Chuyện chưa kể về những nghị sĩ nối nhịp Việt-Mỹ”, http://www1.vietnamnet.vn/chinhtri/2008/02/769015/

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi