Bài phát biểu nhận giải Nobel Hòa bình (năm 2000) của Tổng thống Hàn quốc Kim Dae-Jung

  • Bởi tqvn2004
    29/10/2009
    1 phản hồi

    Đinh Công Bằng

    Oslo, ngày 10 tháng 12 năm 2000

    Thưa Đức Vua và Hoàng gia, các thành viên Ủy ban Giải thưởng Nobel Nauy, các thành viên Triều đình, các quí bà và các quí ông,

    Nhân quyền và hòa bình là một nền tảng thiêng liêng ở Nauy. Giải thưởng Nobel Hòa bình là một thông điệp hào hùng truyền cảm hứng cho toàn nhân loại để hiến dâng bản thân cho hòa bình. Tôi tỏ lòng biết ơn vô hạn được nhận giải thưởng cao quí này. Nhưng tôi cũng nghĩ về vô số đồng bào và đồng nghiệp tại Triều tiên những người đã tự nguyện cống hiến thân mình cho dân chủ, nhân quyền và giấc mơ thống nhất quê hương. Và tôi phải công nhận là giải thưởng vinh dự này nên được dành cho họ.

    Tôi cũng nghĩ về nhiều quốc gia và bè bạn trên khắp năm châu, những người đã đóng góp hào phóng vào nỗ lực của dân tộc chúng tôi nhằm đạt được dân chủ và hòa giải giữa hai miền Triều tiên. Tôi chân thành cảm ơn sâu sắc tới những người đó.

    Tôi biết rằng hội đàm thượng đỉnh Nam-Bắc Triều tiên lần thứ nhất vào tháng Sáu và sự bắt đầu của tiến trình hòa giải hai miền là một trong những lý do mà tôi được nhận giải thưởng Nobel Hòa bình.

    Thưa quí vị,

    Tôi muốn được nói với quí vị về bước đột biến trong mối quan hệ Nam-Bắc Triều tiên mà từ đó Ủy ban Giải thưởng Nobel đã đánh giá những lời đề cử. Vào giữa tháng Sáu, tôi đã đi đến Bình Nhưỡng để tham dự buổi hội đàm lịch sử với Chủ tịch Kim Chính Nhất của Ủy ban Quốc phòng Bắc Triều tiên. Tôi ra đi với một trái tim nặng trĩu vì không biết mình sẽ mong đợi gì, nhưng tôi đã nhận thức cần phải đi vì hòa giải dân tộc và vì hòa bình trên bán đảo Triều tiên. Không có gì đảm bảo rằng kỳ họp thượng đỉnh sẽ diễn ra suôn sẻ. Bị phân chia trong vòng nửa thế kỷ suốt dọc hàng rào kẽm gai vùng phi quân sự sau một cuộc chiến 3 năm, Nam và Bắc Triều tiên đã sống trong mối hiềm nghi lẫn nhau và thù hận.

    Để thay thế sự xa rời nguy hiểm giữa hòa bình và hợp tác, khi trở thành Tổng thống vào tháng Hai năm 1998 tôi tuyên bố chính sách hội đàm công khai, và tôi đã liên tục khuyếch trương thông điệp hòa giải tới miền Bắc: đầu tiên chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận thống nhất qua cộng sản hóa; thứ hai chúng tôi cũng sẽ không cố gắng đạt được thống nhất bằng cách thôn tính miền Bắc; và thứ ba miền Nam và miền Bắc Triều tiên cần tìm kiếm khả năng cùng tồn tại chung trong hòa bình và hợp tác. Tôi tin rằng thống nhất có thể chờ đợi cho đến khi cả hai phía cảm thấy đủ thoải mái để trở thành một nước Triều tiên thống nhất một lần nữa bất kể là thời gian đó kéo dài bao lâu. Đầu tiên phía Bắc Triều tiên đã chống lại vì nghi ngờ rằng chính sách hội đàm công khai chỉ là một kế hoạch lừa dối để hòng lật đổ họ. Nhưng ý định thật lòng và sự nhất quán của chúng tôi cùng với sự ủng hộ rộng rãi cho chính sách hội đàm công khai từ khắp nơi trên thế giới với những người lãnh đạo có đạo đức như ở Nauy, đã thuyết phục được Bắc Triều tiên rằng họ cần phải hồi đáp một cách thiện chí. Vì thế mà kỳ họp thượng đỉnh Nam-Bắc Triều tiên đã được tiến hành.

    Tôi đã trông đợi những cuộc nói chuyện với nhà lãnh đạo Bắc Triều tiên sẽ cực kỳ khó khăn, và đúng là đã xảy ra như vậy. Tuy nhiên bắt nguồn từ mong ước chung phát triển an ninh, hòa giải và hợp tác của dân tộc, ngài Chủ tịch và tôi đã đạt được một số thỏa thuận quan trọng.

    Đầu tiên chúng tôi đồng ý rằng thống nhất phải đạt được một cách độc lập và hòa bình, tức là thống nhất không cần phải vội vã và trong thời điểm hiện tại hai phía cần phải làm việc cùng nhau để mở rộng trao đổi hòa bình và hợp tác để thiết lập tình trạng cùng tồn tại trong hòa bình.

    Thứ hai chúng tôi đã thành công trong việc kết hợp các công thức thống nhất vẫn còn đang có nhiều khác biệt lớn của cả hai phía. Qua việc đề cập một “hình thức liên bang lỏng lẻo” vào thời điểm này. Bắc Triều tiên đã xích lại gần hơn đến lời kêu gọi của chúng tôi về một liên bang của một dân tộc với hai hệ thống và hai chính phủ độc lập trong giai đoạn tiền thống nhất. Lần đầu tiên trong vòng 50 năm chia cắt, hai phía đã tìm thấy một điểm tương đồng mà từ đó tiến trình tiến tới thống nhất có thể được vạch ra.

    Thứ ba, hai bên tán thành sự tiếp tục hiện diện của quân đội Hoa kỳ tại bán đảo Triều tiên vì nó cần thiết cho sự ổn định của bán đảo cũng như vùng Đông-Bắc Á.

    Trong 50 năm của quá khứ, Bắc Triều tiên đã lấy sự triệt thoái quân đội Hoa kỳ khỏi bán đảo Triều tiên là vấn đề chính trong quan điểm. Tôi đã nói với ngài Chủ tịch Kim là “bán đảo Triều tiên được vây quanh bởi 4 siêu cường: Hoa kỳ, Nhật bản, Trung quốc và Nga. Căn cứ trên vị trí địa lý đặc biệt không thể tìm thấy được tại bất cứ nơi nào hay thời điểm nào, sự tiếp tục hiện diện của quân đội Hoa kỳ tại bán đảo Triều tiên là không thể thiếu được cho an ninh và hòa bình của chúng ta, không chỉ cho bây giờ mà thậm chí ngay cả sau khi thống nhất. Hãy thử nhìn vào Châu Âu. NATO đã được thành lập và lực lượng Hoa kỳ đóng quân tại Châu Âu đã kìm hãm Liên Xô và khối Đông Âu. Hiện nay, sau khi khối cộng sản đã xụp đổ, NATO và quân lực Hoa kỳ vẫn hiện diện tại Châu Âu bởi vì họ cần thiết cho hòa bình và ổn định tại Châu Âu”.

    Đáp lại lời giải thích của tôi, ngài Chủ tịch đã làm tôi ngạc nhiên bằng phản hồi rất tích cực. Đó là một sự thay đổi to lớn từ yêu sách đã tồn tại từ lâu của Bắc Triều tiên, và là một động thái rất đáng kể cho hòa bình trên bán đảo Triều tiên và vùng Đông Bắc Á.

    Chúng tôi cũng đồng ý rằng vấn đề nhân đạo của các gia đình bị ly tán cần phải được giải quyết nhanh chóng. Vì thế kể từ đại hội thượng đỉnh cả hai phía đã và đang tiến nhiều bước để thuyên giảm những nỗi đau. Ngài Chủ tịch và tôi còn đồng ý khuyến khích hợp tác kinh tế. Vì thế hai phía đã ký một bản thỏa thuận để xây dựng 4 công cụ pháp luật quan trọng làm cơ sở cho việc mở rộng hợp tác kinh tế liên Triều, ví dụ như bảo vệ đầu tư và các thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần. Trong lúc đó chúng tôi đã tiếp tục viện trợ nhân đạo cho miền Bắc với 300,000 tấn phân và 500,000 tấn thức ăn. Các trao đổi về thể thao, văn hóa, nghệ thuật và du lịch đã được khởi động trong kỳ họp thượng đỉnh tiếp sau đó.

    Thêm vào đó, để giảm căng thẳng và thiết lập nền hòa bình vững chắc, bộ trưởng quốc phòng của hai miền đã gặp nhau, cam kết không bao giờ tiến hành chiến tranh chống lại nhau. Họ cũng đã đồng ý về những hợp tác quân sự cần thiết bằng hành động để kết nối lại tuyến đường tàu hỏa và đường bộ đã bị cắt đứt giữa Nam và Bắc Triều tiên.

    Nhận thức rằng quan hệ liên Triều được cải thiện vẫn không đủ để cho hòa bình ở lại vĩnh viễn trên bán đảo Triều tiên, tôi đã mạnh mẽ khuyến khích ngài Chủ tịch Kim xây dựng các mối liên hệ tốt hơn với Hoa kỳ và Nhật bản cũng như các nước phương tây khác. Sau khi trở về từ Bình nhưỡng, tôi đã hối thúc Tổng thống Hoa kỳ Clinton và Thủ tướng Nhật bản Mori cải thiện các quan hệ với Bắc Triều tiên.

    Tại kỳ họp lần thứ ba các nhà lãnh đạo khối ASEM ở Hán thành hồi tháng Mười tôi đã nhắn nhủ những người bạn của chúng tôi ở Châu Âu cùng làm điều đó. Nhiều tiến triển đã thực sự đạt được trong thời gian gần đây giữa Bắc Triều tiên và Hoa kỳ cũng như giữa Bắc Triều tiên và nhiều quốc gia khác ở Châu Âu. Tôi tin tưởng rằng những tiến bộ này sẽ có những ảnh hưởng quyết định trong việc thúc đẩy hòa bình tại bán đảo Triều tiên.

    Thưa các quí bà và các quí ông,

    Trong hàng thập kỷ tôi đấu tranh cho dân chủ, tôi liên tục đối mặt với sự khước từ rằng nền dân chủ theo kiểu tây phương không phù hợp với Châu Á, rằng Châu Á thiếu những cội rễ dân chủ. Điều này là không đúng sự thật. Ở Châu Á, rất lâu từ trước phương tây, tôn trọng nhân phẩm đã được viết ra trong các hệ thống tư tưởng, và truyền thống tư tưởng đề cao “dân” đã bắt rễ. “Dân là Trời. Ý Dân là ý Trời. Kính Dân như kính Trời”. Đây chính là nguyên tắc trung tâm trong tư tưởng chính trị của Trung hoa và Hàn quốc đã có khoảng 3 ngàn năm trước đây. Năm thế kỷ sau đó ở Ấn độ, đức Phật đã xuất hiện để rao giảng điều tối quan trọng của nhân phẩm và nhân quyền.

    Cũng đã từng có những hệ tư tưởng thống trị và những thể chế lấy con người làm đầu. Mạnh tử, một học trò của Khổng tử, đã nói: “Vua là con Trời, được gửi xuống để trị Dân bằng công lý. Nếu Vua làm không được mà lại đàn áp Dân, thì Dân có quyền, lấy danh Trời, phế Vua đi”. Điều này được nói 2000 năm trước khi John Locke trình bày về lý thuyết giao ước dân sự và chủ quyền công dân.

    Ở Trung hoa và Hàn quốc, chế độ lãnh chúa phong kiến đã bị loại bỏ và thay thế bằng hệ thống quan lại ở các châu quận trước khi chúa Kitô sinh ra, và các kỳ thi tuyển công chức đã có lịch sử một nghìn năm. Việc sử dụng quyền lực của vua và các quan chức cấp cao được kiểm tra bởi các hệ thống kiểm soát tinh vi. Tóm lại, Châu Á nơi có giàu truyền thống về các định chế và tư tưởng là vùng đất trù phú cho việc thực thi dân chủ. Cái mà Á Châu chưa có là các tổ chức dân chủ đại diện. Cái giỏi của phương tây là nó đã lập ra được các tổ chức này, một thành quả đáng ghi nhận đã thúc đẩy mạnh mẽ lịch sử nhân loại.

    Được đưa vào các nước Châu Á, nơi có các cội nguồn sâu sắc về tôn trọng dân, các định chế dân chủ phương tây đã thích ứng và vận hành đáng khâm phục như được thấy tại Hàn quốc, Nhật bản, Philippines, Indonesia, Thái lan, Ấn độ, Bangladesh, Nepal và Sri Lanka. Ở Đông Timo, người dân đã đi đến các địa điểm bỏ phiếu để bầu cho nền độc lập bất chấp đe dọa đến tính mạng bởi các nhóm phiến quân thù nghịch. Tại Myanmar, bà Aung San Suu Kyi vẫn đang tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh cho dân chủ. Bà có được sự ủng hộ rộng rãi trong dân chúng. Tôi có một niềm tin mãnh liệt là ở đó dân chủ cũng sẽ thắng thế và một chế độ dân cử sẽ được phục hồi.

    Thưa quí vị,

    Tôi tin tưởng rằng dân chủ là giá trị tuyệt đối hướng tới phẩm giá con người, đó là con đường duy nhất duy trì phát triển kinh tế và công bằng xã hội.

    Nếu không có dân chủ thì nền kinh tế thị trường sẽ không lớn mạnh được, cạnh tranh kinh tế và tăng trưởng sẽ không thể đạt được.

    Một nền kinh tế quốc dân không dựa trên nền tảng dân chủ chỉ là một lâu đài xây trên cát. Vì thế, với danh nghĩa Tổng thống Hàn quốc, tôi đã tiến hành những phát triển song song dân chủ và kinh tế thị trường được bổ xung bằng một hệ thống phúc lợi hiệu quả, là nhiệm vụ cơ bản của chính phủ của tôi.

    Để hoàn thành nhiệm vụ này, trong hai năm rưỡi vừa rồi, chúng tôi đã tiến hành các bước để chủ động đảm bảo các quyền dân chủ của công dân. Chúng tôi cũng đã vững vàng trong việc thực thi các cải cách sâu rộng trong các lĩnh vực tài chính, hệ thống công ty, dịch vụ công cộng và lao động. Hơn thế nữa, các nỗ lực thúc đẩy hệ thống phúc lợi hiệu quả tập trung vào phát triển các nguồn tài nguyên nhân lực cho tất cả công dân, bao gồm các tầng lớp có thu nhập thấp đã đạt được tiến bộ.

    Các cải cách ở Hàn quốc sẽ được tiếp tục. Chúng tôi cam kết hoàn tất sớm các chính sách cải cách và đặt cải cách như là một tiến trình diễn ra liên tục trong việc chuyển biến Hàn quốc vào hàng những quốc gia có nền kinh tế hàng đầu trong thế kỷ 21. Chúng tôi mong ước đạt được điều này bằng cách kết hợp sức mạnh của các ngành công nghiệp truyền thống với những cơ hội không giới hạn trong các ngành công nghệ thông tin và sinh học.

    Thế kỷ 21 của kiến thức và thông tin hứa hẹn một thời đại cực kỳ thịnh vượng. Nhưng nó cũng thể hiện sự nguy hiểm của chênh lệch phát triển rộng lớn giữa các quốc gia và trong từng nước. Vấn đề này tự nó đã thể hiện là mối đe dọa nghiêm trọng đến nhân quyền và hòa bình. Trong thế kỷ mới, chúng ta phải tiếp tục đấu tranh chống lại các thế lực sử dụng bạo lực và đàn áp dân chủ. Chúng ta cũng phải cố gắng giải quyết những thách thức mới của nhân quyền và hòa bình bằng những bước tiến giảm bớt khoảng trống thông tin để giúp đỡ các quốc gia đang phát triển và những cộng đồng đang bị bỏ ra ngoài lề xã hội để họ bắt kịp thời đại mới.

    Thưa Đức Vua và Hoàng gia, thưa các quí bà và các quí ông,

    Hãy cho phép tôi dành vài lời lấy từ các ghi chép cá nhân. Năm lần tôi đã phải đối mặt với tử thần vì bàn tay của các tên độc tài. Tôi đã bị cầm tù 6 năm, và trong vòng 40 năm tôi đã phải sống trong chế độ quản chế hoặc phải bôn đào và liên tục bị theo dõi. Tôi không thể chịu đựng được thử thách khó khăn đó nếu không có sự ủng hộ của nhân dân tôi và sự khích lệ của các nhà dân chủ trên toàn thế giới. Sức mạnh của tôi cũng phát xuất từ những niềm tin cá nhân sâu sắc.

    Tôi đã sống và tiếp tục sống với đức tin là Chúa luôn bên tôi. Tôi biết được điều này qua trải nghiệm. Vào tháng 8 năm 1973 khi đang tha hương tại Nhật bản tôi đã bị bắt cóc từ một khách sạn tại Tokyo bởi các nhân viên tình báo của chính phủ quân sự Nam Hàn. Tin tức của sự kiện này đã gây sửng sốt thế giới. Lực lượng tình báo đã đưa tôi đến tàu của họ neo đậu ở bờ biển. Họ trói tôi lại, bịt mắt tôi và nhét giẻ vào mồm. Ngay lúc họ sắp sửa quẳng tôi từ trên tàu xuống biển, Chúa Jexu-Kitô đã xuất hiện trước mặt tôi trong ánh sáng. Tôi bám lấy Người và van xin cứu mạng. Đúng lúc đó một chiếc phi cơ bay xuống từ bầu trời và cứu tôi ngay vào giờ phút lâm tử.

    Một niềm tin khác của tôi khác là lòng tin vào công lý của lịch sử. Vào năm 1980, tôi bị kết án tử hình bởi chế độ quân sự. Trong vòng 6 tháng ở tù tôi chờ ngày thi hành án. Tôi thường rùng mình sợ hãi về cái chết. Nhưng tôi đã tìm được sự trấn tĩnh khi thấy rằng trong thực tế lịch sử công lý cuối cùng sẽ thắng thế. Tôi lúc đó và tôi hiện nay vẫn là một độc giả nghiền sách sử. Và tôi biết rằng trong mọi thời đại, tại mọi nơi, những ai sống một cuộc đời công chính hiến dâng cho dân tộc và nhân loại, tuy có thể không thành công, tuy có thể gặp phải điều khủng khiếp cuối cuộc đời, nhưng sẽ vẫn là người chiến thắng và được vinh danh bởi lịch sử; Những kẻ chiến thắng bằng sự bất công tuy có thể thắng thế trong thời điểm hiện nay, nhưng lịch sử sẽ luôn coi kẻ đó như một bại nhân đáng hổ thẹn. Không có một trường hợp ngoại lệ nào cả.

    Thưa Đức Vua và Hoàng gia, các thành viên Triều đình, các quí bà và các quí ông,

    Khi nhận Giải thưởng Nobel Hòa bình, người đoạt giải cam kết một nghĩa vụ vô hạn. Tôi khiêm tốn xin hứa với quí vị rằng, như các bậc anh hùng vĩ đại đã dạy chúng ta, như ngài Alfred Nobel đã trông chờ vào chúng ta, tôi sẽ dành trọn phần còn lại cuộc đời mình cho nhân quyền, hòa bình trên quê hương và cho thế giới, cho sự hòa giải và hợp tác của dân tộc. Tôi nài xin sự khích lệ của quí vị cũng như sự ủng hộ kiên định của tất cả những ai đã dấn thân vào thúc đẩy dân chủ và hòa bình trên toàn thế giới.

    Xin cảm ơn.

    (ĐCB dịch từ bản tiếng Anh)

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Bài phát biểu này là một sự trả lời thuyết phục cho những ai cho rằng: Văn hoá phương Đông không thích hợp với mô hình dân chủ phương Tây.
    Bài phát biểu này cũng gợi cho chúng ta một sự suy nghĩ nghiêm túc về sự đúng đắn của việc thống nhất đất nước Việt Nam bằng mọi giá thông qua việc sử dụng bạo lực,mà hậu quả của nó là làm chết hàng triệu mạng người,tạo ra sự chia rẽ và hận thù kéo dài cho đến ngày hôm nay ...