Nguyễn Hữu Vinh - Địch vận giặc nội xâm

  • Bởi Khách
    30/09/2009
    0 phản hồi

    Nguyễn Hữu Vinh

    Địch vận là hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm lôi kéo người trong quân đội địch, làm tan rã hàng ngũ của chúng. Biện pháp này có tác dụng rất lớn làm giảm tổn thất xương máu đồng bào chiến sĩ, thậm chí tăng thêm lực lượng, trang thiết bị … cho ta. Đặc biệt hơn nữa, khi địch lại chính là những đồng bào cùng giống nòi với mình.

    Hiếm có nước nào trên thế giới phải trải qua liên tiếp những cuộc chiến tranh ác liệt, lâu dài như nước ta. Nhiều biện pháp đấu tranh, nhiều lực lượng xã hội khác nhau, và cả những bước tiến thoái khôn ngoan về chính trị – ngoại giao đã được huy động để nhắm tới mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc.

    Rồi chiến tranh chấm dứt chưa được bao lâu, dân ta lại phải đương đầu với một hiểm hoạ mới, họa tham nhũng, mà mức độ nguy hại, nan giải đến độ được ví như một thứ giặc giã (giặc nội xâm). Có điều, với bao nhiêu công trình nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm chiến tranh, nhưng chưa nghe nói đến việc từ đó có thể áp dụng được một chút gì cho giải pháp chống nội xâm này. Hai cuộc chiến hoàn toàn khác nhau trên mọi phương diện, nhưng không phải là không có những nét tương đồng. Sẽ có rất nhiều điều để bàn về những nét tương đồng đó, nhưng trong phạm vi bài này chỉ xin có chút gợi ý. Đó là bàn về “địch vận”.

    Địch vận là hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm lôi kéo người trong quân đội địch, làm tan rã hàng ngũ của chúng. Biện pháp này có tác dụng rất lớn làm giảm tổn thất xương máu đồng bào chiến sĩ, thậm chí tăng thêm lực lượng, trang thiết bị … cho ta. Đặc biệt hơn nữa, khi địch lại chính là những đồng bào cùng giống nòi với mình.

    Thế nhưng, tại sao trong cuộc chiến chống nội xâm lại cần đến biện pháp đấu tranh này ?

    Trước hết, xuất phát từ một đặc thù là ở đây kẻ thù như vô hình vô ảnh, ngay trong hàng ngũ chúng ta, thậm chí tiềm ẩn trong mỗi con người chúng ta, khó nhận thấy. Thứ hai, nhưng lại quan trọng nhất, đó là kẻ thù đã quá mạnh, xâm chiếm khắp “hang cùng ngõ hẻm” trong bộ máy nhà nước, có thể nắm những vị trí rất quan trọng, khuynh đảo được sách lược, cả chiến lược đấu tranh.

    Đây là hệ quả của một thời gian dài chúng ta không có những biện pháp quyết liệt và khôn ngoan, lại mắc nhiều sai lầm trong chính sách nên đã đẩy nhiều người trong hàng ngũ chạy sang với địch. Ví như chính sách cán bộ nặng về hình thức giáo dục chính trị, “chủ nghĩa lý lịch”, nể nang thân quen, sợ người giỏi mà thẳng thắn, ưa dùng kẻ đạo đức giả, xu nịnh … Rồi giai đoạn bao cấp kéo dài, chính sách lương bổng phi lý triền miên, bắt buộc người người “đói ăn vụng, túng làm liều”, thành thói quen, cho tới mức tha hóa tràn lan v.v.. Thứ ba, không khí công khai dân chủ không được khuyến khích thường xuyên, khi thì trói chặt, đôi lúc nới lỏng, tạo nhiều khoảng tối cho chính kẻ địch ẩn nấp tấn công lại ta.

    Thực trạng hiện nay, trong hàng ngũ cán bộ khó có thể tính được bao nhiêu phần trăm dính tới tham nhũng, tiêu cực, ít thì cũng tặc lưỡi bỏ qua cho kẻ phạm pháp để hy vọng mình được yên thân hay được hưởng cái lợi nào đó, còn nhiều thì có thể kiếm chác tới hàng triệu đô-la. Thêm nữa, trong nhân dân cũng vì nhiều lẽ không thiếu người tham gia tiếp tay cho tình trạng tham nhũng này. Sức hút của bức tranh giàu sang nơi đô thị, lối sống xa hoa, tha hóa đạo đức của các quan tham tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, quan niệm sống thấp hèn lôi cuốn người dân một tâm lý sống gấp, kiếm tiền bằng nhiều cách, coi thường pháp luật, có khi bất chấp đạo lý, sức khỏe, sinh mạng con người, thế hệ tương lai, môi trường sống …

    Chúng ta như đang vướng vào một loại “chiến tranh nhân dân” của giặc nội xâm. Một ví dụ điển hình là nạn buôn lậu biên giới, “lâm tặc”, “khoáng tặc”, không cách gì ngăn cản nổi. “Tặc” ở đây lại chính là vô số người nông dân nghèo khổ, chỉ hy vọng kiếm chút tiền sống qua ngày, và từ đây nhiều cán bộ lại được “sống nhờ”. Từ đó mọi chủ trương đấu tranh chống tham nhũng đều dễ trở thành “giơ cao đánh khẽ”, nặng về hô hào, vận động mà không có hiệu quả bởi tình trạng “cùng hội cùng thuyền” với vô vàn thủ thuật trì níu, nhắm mắt, giả bộ làm ngơ từ nhiều cấp mà khó có thể phân định rõ ràng ra được; nó còn lan rộng ra trong dân chúng với một tâm lý phó mặc, buông xuôi.

    Nhìn nhận thực trạng đó có thể cho ta một thái độ thực tế hơn trong đấu tranh chống tham nhũng. Đó là ngoài những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, cũng cần phải tính đến những chiến thuật khéo léo như đã từng áp dụng trong cuộc chiến chống ngoại xâm.

    Địch vận ở đây là biện pháp gắn liền với chính sách khoan hồng của Nhà nước. Tuy nhiên, trong đấu tranh chống nội xâm, lâu nay chúng ta mới chỉ thực hiện khoan hồng với những kẻ địch đã bị bắt, truy tố (thật thà khai báo sẽ được giảm án), mà chưa tính đến những kẻ còn đang ẩn náu chắc chắn trong dinh luỹ của chúng. Cụ thể, có những người đang được “tín nhiệm” ở cương vị lãnh đạo, nắm quyền lực nào đó, nhưng vẫn ngấm ngầm có những hoạt động thu lợi bất chính rất tinh vi, gây hại lớn thì ta chưa có giải pháp “địch vận” để họ từ bỏ hàng ngũ địch mà vẫn yên tâm không bị trừng trị nặng theo pháp luật. Vì nếu đang thuộc diện “chưa bị lộ” thì chắc chắn họ có tâm lý tiếp tục “chiến đấu”, chẳng tội gì bị “vác súng trở về với hàng ngũ cách mạng”, chỉ tổ bị đi tù theo đúng với luật pháp hiện hành, có giảm án thì cũng vẫn phải đi tù, mất hết tương lai, hổ thẹn với gia đình, bạn bè. Lực lượng này chiếm vị trí rất quan trọng, gây khó khăn ghê gớm cho cuộc chiến đấu của chúng ta, từ việc ra chính sách, pháp luật, bố trí sắp xếp tổ chức … cho tới phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Chúng ta chẳng khác nào như bị đâm dao sau lưng. Vậy cần phải phân hóa, làm suy yếu đội ngũ của chúng bằng chính sách khoan hồng táo bạo, rõ ràng hơn nữa.

    Để giải pháp này được thực hiện hiệu quả đòi hỏi có những phương pháp đặc biệt, xin đơn cử hai biện pháp:

    1. Sử dụng bộ máy đặc biệt của đảng. Đây là biện pháp tạm thời trước mắt, khi mà hệ thống pháp luật hiện hành chưa cho phép có những “đặc ân” với những kẻ tự nguyện ra khỏi hang ổ vững chãi của mình để trở về với nhân dân. Như vậy, đòi hỏi trong tổ chức đảng phải hình thành được những lực lượng “đặc nhiệm” (có phần tựa như Ban chỉ đạo Trung ương 6(2) trước đây chẳng hạn), phải có nghị quyết đặc biệt đảm bảo cho những trường hợp “quay súng” trở về được an toàn, không bị … đi tù hay bêu riếu trên công luận. Nếu cần có thể có một sắc lệnh riêng do chủ tịch nước ban hành cho phép bộ máy đặc biệt này hoạt động và có những quyền hạn vượt trên bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

    2. Sửa đổi hệ thống luật pháp cho phù hợp. Việc này cần sớm được thực hiện để tránh lạm dụng bộ máy của đảng can thiệp vào hoạt động tư pháp, thậm chí để tiếp tay cho kẻ địch.

    Trong sắc lệnh, nhất là trong Bộ luật Hình sự và Tố tụng hình sự sửa đổi để phục vụ biện pháp địch vận này, cần có những điều khoản rất cụ thể về mức độ khoan hồng với những trường hợp “quay súng” trở về (không nói khoan hồng chung chung như các trường hợp “tự thú” trong Bộ luật Hình sự hiện hành), về những thủ tục có thể áp dụng đi trước hoặc bỏ qua các thủ tục tố tụng thông thường … Ví dụ: nộp lại bao nhiêu tài sản so với mức độ tham nhũng, khai báo đầy đủ về đồng bọn, các phương thức thủ đoạn tham nhũng, thì không những được miễn truy tố, mà còn được khen thưởng (cho tiếp tục công tác, hay bố trí nghề nghiệp kiếm sống, thậm chí có thể còn được tạo điều kiện thay đổi nơi cư trú, “mai danh ẩn tích” để đảm bảo an toàn …) Trong đó cũng cần có thời gian cụ thể cho chính sách địch vận-khoan hồng này, có điều khoản hồi tố, phạm vi áp dụng v.v..

    Có thể sẽ còn có nhiều giải pháp khác nữa. Tuy nhiên, trong bất cứ giải pháp tích cực nào cũng đều có mặt trái của nó, như bị lạm dụng hoặc lợi dụng. Đó chính là công việc của những người có trách nhiệm xây dựng chính sách và thực hiện chính sách.

    Nguyễn Hữu Vinh

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi