Đôi điều về "vốn xã hội"

  • Bởi tqvn2004
    01/10/2009
    0 phản hồi

    Tqvn2004 tóm lược

    Độc giả Dân Luận đã có dịp tìm hiểu Song Đề Xã Hội, hay nôm na là tình trạng "cha chung không ai khóc", qua bài viết "<a href="http://danluan.org/node/1171"><em>Xã hội của những người ăn sẵn</em></a>". Trong phần kế tiếp này, Dân Luận xin được giới thiệu khái niệm Vốn Xã Hội (social capital) bằng cách tóm lược tóm lược các cách nhìn của các học giả trong và ngoài nước.
    <br /><br />
    Vốn xã hội được coi là động cơ để thúc đẩy người dân tham gia vào những công việc chung mang tính tập thể, và qua nghiên cứu khái niệm này, hi vọng chúng ta có thể trả lời được câu hỏi: "Tại sao người dân Việt Nam thờ ơ như vậy?"

    Vốn xã hội là gì?

    Theo kinh tế học cổ điển thì chỉ có ba yếu tố là hữu ích cho phát triển, đó là [2]: đất đai, lao động và vốn vật thể (máy móc, công cụ). Nhưng gần đây người ta đã nhận thấy rằng, trí tuệ của người lao động và sự tương tác của anh ta trong xã hội, cũng là những yếu tố quan trọng quyết định tốc độ phát triển.

    Một công ty với nhân viên có trình độ cao sẽ dễ dàng vượt lên các công ty khác có nhân viên trình độ yếu kém hơn, dù xuất phát điểm về đất đai, lao động và vốn vật thể có thể là bằng nhau. Tương tự như thế, một công ty mà nhân viên hợp lực để đạt mục đích là phát triển công ty cũng sẽ mạnh hơn một công ty mà nhân viên chỉ tìm ngáng đường nhau để kiếm lợi riêng, cho dù - nếu xét về trình độ của nhân viên - hai bên không thua kém gì nhau. Yếu tố thứ nhất được đặt tên là "vốn con người", còn yếu tố thứ hai được gọi là "vốn xã hội".

    Có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn xã hội, nhưng về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, sự hợp tác giữa các cá nhân có tác động làm tăng hiệu quả công việc. "Một người Việt hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt nam hợp lại thua ba người Nhật", một câu chuyện mà nhiều người chúng ta đã từng nghe, nếu đúng thì sẽ là một ví dụ tốt về tác dụng của "vốn xã hội".

    Ở trong bài viết này, chúng ta sẽ sử dụng định nghĩa của Fukuyama [5]: Vốn xã hội là những quy tắc bất thành văn và có thực cổ vũ cho sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều cá thể. Những quy tắc này có thể rất đơn giản, như luật "có đi có lại" giữa hai người bạn thân; nhưng cũng có thể là những học thuyết phức tạp và có hệ thống như Thiên Chúa Giáo hay Khổng Giáo.

    Cần nhớ là không phải quy tắc xã hội nào cũng tạo ra vốn xã hội: Quy tắc đó phải khuyến khích sự hợp tác trong xã hội. Do đó, các quy tắc này thường chứa đựng những giá trị đạo đức truyền thống như trung thực, biết giữ lời hứa, biết thực thi bổn phận một cách đến nơi đến chốn, có đi có lại v.v... Có thể nói, vốn xã hội là thước đo cho biết các cá nhân trong xã hội có sẵn lòng hợp tác để đạt những mục đích chung hay không, và như thế nó phản ánh mức độ "tập thể chủ nghĩa" trong bản sắc văn hóa hiện tại ở một quốc gia.

    Vốn xã hội đem lại lợi ích gì?

    Vốn xã hội là con dao hai lưỡi, nó có cả mặt xấu lẫn mặt tốt. Về lợi ích, vốn xã hội khuyến khích các cá nhân chung sức giải quyết các "bài toán tập thể". Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy. Ví dụ đầy dẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc tầm thường như ngừng ở đèn đỏ, hoặc không xả rác nơi công cộng [2].

    Vốn xã hội cũng giúp cải thiện dân chủ: Người dân dễ dàng kết hợp tạo thành xã hội dân sự hơn, và nhờ đó tự tin hơn trong việc lên tiếng phản đối những điều chưa được của chính quyền. Ngoài vai trò đảm bảo môi trường phản biện trung thực, vốn xã hội cũng tạo ra môi trường chính trị thuận lợi, nơi các nhà lãnh đạo chính trị tiềm năng sẽ vươn lên nắm chính trường.

    Về kinh tế, vốn xã hội tiết kiệm chi phí giao dịch: khi mọi người tin tưởng lẫn nhau thì họ sẽ đỡ mất thời gian và tiền bạc để đảm bảo rằng đối tác sẽ thực thi trách nhiệm của mình. Ví dụ ở Đan Mạch, khi đi mua xe ôtô, người mua chỉ cần người bán khẳng định rằng xe không có lỗi gì, mà không cần đem xe tới garage nào đó để kiểm tra chất lượng (và đương nhiên sẽ đỡ được khoản tiền kiểm tra kia).

    Tuy nhiên, vốn xã hội cũng có những mặt tiêu cực [6]: Thứ nhất, vốn xã hội hỗ trợ các thành viên trong nhóm thường làm cho nhóm đó loại trừ những người "ngoại đạo". Thứ hai, vì đề cao sự hợp tác và đạt mục đích chung, vốn xã hội có thể hạn chế sự tự do của cá nhân và những sáng kiến kinh doanh. Vì vốn xã hội có cả mặt tốt và mặt xấu, xã hội cần phải khéo léo cân bằng và tận dụng những mặt tốt của nó để phát triển.

    Vai trò của nhà nước

    Trái với các yếu tố kinh tế, vốn xã hội không dễ được khơi dậy bởi các chính sách của nhà nước. Vốn xã hội thường là những sản phẩm phụ được tạo ra từ tôn giáo, truyền thống, lịch sử và các yếu tố khác nằm ngoài tầm kiểm soát của mọi chính quyền. Tuy nhiên, nhà nước có thể tác động tới vốn xã hội một cách từ từ thông qua:

    1) Giáo dục: Đây là con đường trực tiếp nhất để tác động tới vốn xã hội. Nhà trường không chỉ truyền tải tri thức - làm tăng vốn con người, mà còn phải truyền tải đạo đức để làm tăng vốn xã hội. Lấy ví dụ ở Đan Mạch, từ cấp I trẻ em đã được dạy cách làm việc nhóm, học cách hợp tác để đạt mục đích chung một cách có hiệu quả nhất. Ở cấp giáo dục đại học hay cao hơn, sinh viên được dạy những khóa học về đạo đức trong lĩnh vực của mình: Ngành y học về lời thề Hippocrat, ngành điện tử học cách thiết kế các thiết bị sao cho không gây ảnh hưởng tới môi trường v.v...

    Giáo dục "suông" trong nhà trường không đủ, mà cần phải chứng tỏ cho trẻ thấy bằng những hành động thực tế ngoài xã hội. Nếu chúng ta giáo dục cho các công dân trẻ rằng đóng thuế là vì lợi ích của họ, mà thực tế lại cho thấy tiền thuế đó không được sử dụng đúng mục đích, thì sẽ chỉ dẫn đến sự mất lòng tin trầm trọng hơn vào cơ chế hợp tác.

    2) Nhà nước có thể gián tiếp làm tăng vốn xã hội thông qua việc cung cấp dịch vụ công có chất lượng, đặc biệt là quyền tư hữu tài sản và an ninh xã hội. Khi người dân được đảm bảo tài sản, và có cuộc sống an toàn hơn, thì họ có xu hướng tin tưởng nhau hơn, và sẵn lòng chìa tay ra giúp đỡ người khác hơn.

    3) Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi để xã hội dân sự tự nguyện nảy nở. Theo Fukuyama, nhà nước có thể tác động rất xấu tới vốn xã hội khi họ "làm thay" khu vực tư những hoạt động mà đáng lẽ phải để cho khu vực tư hay xã hội dân sự đảm nhiệm. Khả năng hợp tác dựa trên "thói quen" và "thực hành"; khi mà nhà nước can thiệp làm thay, hoặc ngăn cản, thì con người sẽ mất dần thói quen tổ chức và hợp tác, dẫn tới sự sụp đổ của vốn xã hội.

    Kết luận

    Tuy Việt Nam mang danh hiệu Xã Hội Chủ Nghĩa, theo đuổi chủ nghĩa tập thể, nhưng thực tế đa số đang "tự thân vận động" theo lời kêu gọi của chủ nghĩa cá nhân, để mặc xã hội mục nát. Để khắc phục hiện tượng "cha chung không ai khóc" này, khôi phục vốn xã hội là một yếu tố phải được chú trọng trong quá trình phát triển hiện nay ở Việt Nam. Việc khôi phục này phải thông qua con đường giáo dục kiến thức và ý thức của người dân, đồng thời từng bước xây dựng lại xã hội dân sự ở Việt Nam.

    _________________

    Tài liệu tham khảo:

    [1] Vốn xã hội và phát triển: http://vietnamese-law-consultancy.com/vietnamese/content/browse.php?action=shownews&category=&id=56&topicid=1120

    [2] Trần Hữu Dũng - Vốn xã hội và phát triển kinh tế: http://www.viet-studies.info/THDung_VonXaHoi_PhatTrienKinhTe.htm

    [3] Trần Hữu Dũng - “Phát triển bền vững” nhìn từ góc độ xã hội và văn hoá: http://www.viet-studies.info/THDung/THD_PhatTrienBenVung.htm

    [4] Trần Hữu Dũng - Vốn xã hội và kinh tế: http://www.tapchithoidai.org/TD8_THDung.pdf

    [5] Francis Fukuyama - Social Capital and Civil Society: http://www.imf.org/external/pubs/ft/seminar/1999/reforms/fukuyama.htm

    [6] Phát huy vốn xã hội trong bảo vệ môi trường: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=9653761

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi