Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu

  • Bởi martianmobile
    27/09/2009
    0 phản hồi

    Martian Mobile

    Lý thuyết về kinh tế "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu" (Rebalance the Global Economy) đang được chú ý nhất hiện nay.

    Một lý thuyết, vẽ kế hoạch cho việc "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu" đang được bàn cãi sôi nổi trước, trong, và sau cuộc hội thảo của 20 quốc gia có nền kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới hiện nay (G-20).

    "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu" là gì?

    Theo chương trình dự tính thì hôm nay cuộc hội thảo thượng đình đã gần xong của G-20. Rất nhiều chủ đề sẽ được bàn cãi, đề cập và mổ sẻ . Được biết các cuộc hòa đàm về kiểm soát ngân hàng, về giới hạn lương bổng của CEO và nóng hổi nhất là hội thảo về "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu". Trước khi nói về việc này thì phải hiểu khung cảnh lịch sử của kinh tế thế giới hơn một thập niên qua trong đó sự thiếu quân bình về tiết kiệm và đầu tư giũa các vùng kinh tế quan trọng trên thế giới. Theo đó thì Hoa Kỳ đã tiết kiêm/để dành rất ít nhưng các quốc gia Đông Á thì lại để dành quá cao. Nhất là tại Trung Quốc với chính sách không chính xác, thiếu bảo hiểm an sinh xã hội của chính phủ trung ương, địa phương và tập tục tiết kiệm rất cao làm cho ngăn chặn sự tăng trưởng chi tiêu cho kinh tế quốc nội. Ngoài ra do sự thiếu quân bằng do Hoa Kỳ chi tiêu quá sức nhưng thắt chăt tại các quốc gia Á Châu, và Đức, tạo ra cán cân trao đổi mậu dịch mất quân bằng nghiêng về Á Châu, đặc biệt là Trung Quốc quá cao.

    Tại sao sự bất quân bình tài chánh này lại có thể làm cho hệ thống ngân hàng tài chánh khủng hoảng được? Theo đó thì khi các nước Á Châu thặng dư mậu dịch với Hoa Kỳ thường thì họ không muốn để tiền trong nước của họ. Và các nước này muốn đầu tư tại các nước có nền kinh tế ổn định nhất: đó là Hoa Kỳ. Công thêm vào đó là tính cách chính trị của vấn đề, trong đó quôc hội và dân chúng Hoa Kỳ rất lấy làm khó chịu nếu biết rằng các nước Á Châu kiếm lợi trên kinh tế Hoa Kỳ nhưng lại rút tiền ra khỏi đây và đầu tư vào những nơi khác. Do đó các nước Á Châu này đã lấy tiền thặng dư trong trao đổi mậu dịch bỏ vào đầu tư kinh tế Hoa Kỳ và các nước Âu Châu. Đây là nguồn tư bản mà chúng ta thường nghe thấy the FED Ben Bernanke nói đến là "a glut of savings." Chỉ vì quá nhiều tiền đầu tư vào thị trường và kinh tế Hoa Kỳ đã đẻ ra tình trạng áp lực lên giá trị phân lời thực sự của kinh tế thế giới, do áp lực này bắt buộc phân lời trên thế giới phải đi xuống, người đầu tư Á Châu thất vọng và đi tìm các nguồn đầu tư khác trả lời cao hơn. Đó cũng là kết quả của các công ty tài chánh tại Hoa Kỳ lợi dụng nó để làm đảo ngược phương cách kiếm lời chân chính qua những sub-prime loan nợ để tiếp tục hấp dẫn các nguồn tư bản tại Á Châu đổ về... Do đó có thể nói là: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã không tránh khỏi năm 2008 và 2009.

    Theo lý thuyết về kinh tế "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu" sẽ bắt buộc các quốc gia thay đổi phương vị kinh tế thế giới không phải dễ dàng. Muốn chuyển mình, Hoa Kỳ và Âu Châu, từ các quốc gia tiêu thụ để trở thành các quốc gia để dành và ngược lại cho các quốc gia Á Châu... đôi khi đây là chuyện không tưởng. Nó đòi hỏi 4 điều kiện:

    . Quyết tânm trong quan điểm của các chính trị gia.
    . Sức mạnh lãnh đạo để hướng dẫn quần chúng.
    . Thay đổi phong tục, tập quán và văn hóa.
    . Thời gian.

    So sánh Trung Quốc làm thí dụ, là một quốc gia sản xuất lớn nhất nhì thế giới nhưng nội địa tiêu thụ thì chỉ bằng 1/3 tổng sản lượng quốc gia (GDP), trong khi đó Hoa Kỳ và Anh Quốc nội địa tiêu thụ gần 3/4 GDP.

    Về tiết kiêm để dành, Trung Quốc và Ấn Độ đã dành 40% và 32% tổng số tiền dư thừa, trong thời gian qua trong khi người dân Hoa Kỳ chỉ tiết kiệm 3.2%.

    Do đó không làm ngạc nhiên khi Hoa Kỳ muón đặt trọng tâm lấy lý thuyết "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu" làm khung và cho là nó sẽ mang lại một thế giới quân bằng hơn về giá trị kinh tế. Theo đó nếu lý thuyết này được áp dụng bởi các quốc gia G-20:

    * Tăng sức mạnh của kỹ nghệ dịch vụ (Service sector)

    Theo đó thì các quốc gia nặng về sản suất như Trung Quốc thì đằng nào cũng mất đi các công ăn việc làm trong kỹ nghệ sản xuất (manufacturing sector) như hiện nay sẽ phải chấp nhận mất thêm nó nhưng ngược lại sẽ gia tăng công việc trong kỹ nghệ dịch vụ (service sector). Theo các chuyên gia dự tính thì kỹ nghệ dịch vụ (Service sector) của Trung Quốc hiện nay chiếm khoảng 1/3 kinh tế; nó có thể gia tăng lên đến 1/2. Kiểu mẫu (model) này sẽ tăng gia lợi tức và sẽ là nguồn lãnh đạo lèo lái Trung Quốc ra khỏi kiểu mẫu đầu tư tăng trưởng hiện nay.

    Theo học viện McKinsey Global Institute nghiên cứu cho biết là nếu Trung Quốc đạt được tiêu chuẩn trong kỹ nghệ dịch vụ thì nó sẽ gia tăng tiền tệ của người tiêu thụ thêm, bảo đảm cho việc an ninh xã hội, và tăng trưởng têu thụ trong nội địa từ 8,000 tỉ yuan đến 15,000 tỉ yuan (khoảng $2,100 tỉ dollars) vào năm 2025.

    * Tăng trưởng lợi tức phải được trải đều trong quần chúng.

    Thực trạng là hai nước vùng mạnh lớn nhất hiện nay về xuất khẩu lại là hai quốc gia có sự phân biệt giầu nghèo nhiều nhất. Trung Quốc và Ấn Độ với lợi túc của người dân sống trong các đô thị thật là cách biệt so với các nơi vùng hẻo lánh, đồng quê. Các hành động khẩn cấp mà chính phủ hai nước này phải đối phó là sự bạo động và biểu tình thường xuyên tại các vùng quê nghèo khó. Biện pháp khẩn thiết là xây dựng ngay các chương trình hạ tầng cơ sở tại các địa phương. Nó sẽ giải quyết trực tiếp vấn đề thất nghiệp và gia tăng lợi tức cho nhân dân trong các địa phương này.

    Theo thống kê GDP per capita cho thấy thì người dân tại Bắc Kinh lợi tức khoảng $9,000 dollars một năm, trong khi người dân sống tại vùng xa xôi phía Tây Trung Quốc, mới đây có các vụ biểu tình và xung đột, chỉ kiếm gần $2,600 một năm.

    Ấn Độ cũng không hơn gì khi trung bình người dân GDP per capita chỉ có khoảng $1,000 thì tại Mumbai là khoảng $2,600 và tại New Delhi là khoảng $1,700.

    * Thật khó khăn khi khuyến khích người dân tiêu thụ thêm

    Khó lòng có thể thuyết phục người dân khi họ đã có một phong tục táp quán ăn sâu vào đời sống thường ngày của họ. Trong cuộc thống kê tại Trung Quốc gần đây của ngân hàng trung ương Trung Quốc là 47% người được phỏng vấn muốn để dành thêm, con số này gia tăng 9.5% từ Quý I và là con số cao nhất từ lúc có cuộc thống kê này (1999), có lẽ họ phản ứng mạnh hơn khi chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Trong khi chỉ có 15.1% nói là họ sẽ tiêu thụ thêm.

    Ấn Độ cũng phản ứng tương tự nhưng từ phía nhà cầm quyền và Quốc Hội. Ấn Độ cũng chưa thực sự hòa đồng vào đời sống kinh tế thế giới khi các đạo luật hiện nay vẫn còn kềm tỏa mậu dịch qua hình thức thuế má. Ấn Độ hy vọng là sẽ giải tỏa về thuế má cho các dịch vụ bán lẻ được nới rộng cho các đầu tư ngoại quốc sẽ áp dụng vào năm 2013.

    * Và cũng thật khó khi khuyến khích người dân Hoa Kỳ để dành thêm

    Các nhà lãnh đạo kinh tế Hoa Kỳ cũng cầu mong là bài học về khủng hoảng kinh tế lẫn sự tuột dốc của thị trường địa ốc trong những năm nay sẽ là bài học cho dân chúng Hoa Kỳ là phải để dành hơn là chi tiêu quá sức. Lần đầu tiên trong nhiều năm nay, chỉ số để dành của dân chúng Hoa Kỳ từ 1.2% (Quý I năm 2008) đi lên gấp 4 lần như hiện nay là 5%, một con số rất khiêm nhường so với các quốc gia Á Châu nhưng là một bước nhẩy vọt tai Hoa Kỳ. Nhiều chuyên gia vẫn lo ngại rằng đây chỉ là con số phản ứng nhất thời của người dân Hoa Kỳ, nếu kinh tế phục hồi, họ e rằng người dân sẽ trở lại bản tính chi tiêu quá trớn. Nhưng họ cho rằng kỳ này sẽ khác đi khi kinh tế phục hồi lại được, một vũ khí chống lại có hiêu nghiệm nhất là sẽ không còn có những dễ dãi từ ngân hàng cho người dân xin tín chỉ nợ nần, mua nhà trả góp, hay mua xe cộ nữa.

    Tóm lại, với một lý thuyết mới trong đó dựa vào sự thay đổi định kiến (mindset) của người dân và lãnh tụ của họ, công thêm những thay đổi như suy nghĩ ích kỷ là xuất cảng hơn là nhập cảng, tiết kiệm hơn là tiêu thụ, hay một kinh tế vĩ mô thiếu uyển chuyển lo về thặng dư hơn là thiếu thốn của những quốc gia, sẽ tiếp tục làm đổ vỡ nền kinh tế thị trường có chu kỳ hiện nay. Một lý thuyết "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu" trong đó các lãnh tụ, chủ tịch ngân hàng trung ương của các quốc gia luôn luôn tinh nghịch vào nền kinh tế tự nhiên để tự tạo ra các quyền hành tưởng tượng, nhằm thao túng quyền lực họ tự ban cho chính họ, hay chứng tỏ sự hiện hữu của họ. Cuộc họp thưởng đỉnh của các quốc gia mạnh nhất trên thế giới G-20 về kinh tế xắp đến hồi kết thúc nhưng dư âm của nó qua lý thuết "Tái quân bình phát triển kinh tế toàn cầu" sẽ được dùng phần lớn có lẽ chỉ để phủi trách nhiệm hơn là một ý kiến thực tiễn. Không thể tưởng tượng được khi một Chủ Tich nhà nước Trung Quốc Hu Jintao hay Thủ Tướng Ấn Độ bảo người dân rằng họ không nên tiết kiệm nữa và nên tiêu xài thật nhiều. Hay một Tổng Thống Obama, và Thủ Tướng Anh Gordon Brown nói rằng người dân họ nên tiết kiệm hơn nữa trong khi chính phủ của họ tiếp tục bơm cả ngàn tỉ dollars vào hệ thống kinh tế để người dân tha hồ tiêu xài và lo lắng về nợ nần về sau... Có lẽ đây là một lý thuyết đầy mâu thuẫn nhất và được thổi phồng nhất qua báo chí mà chúng ta phải biết đến hiện nay.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi