Lê Văn Tám, anh là ai?

  • Bởi tqvn2004
    08/09/2009
    12 phản hồi

    Nguyễn Văn Thịnh

    Dư luận từ râm ran đến ngày càng rộ lên về chuyện tấm gương hy sinh anh hùng của một thiếu niên ở Sài gòn trong những ngày đầu Nam bộ kháng chiến mà trong tâm trí của nhiều thế hệ người Việt Nam, hơn nửa thế kỷ qua vẫn coi như ngọn đuốc sống sáng ngời tinh thần yêu nước.

    Người ta càng lưu tâm nhiều hơn vì tin ấy chính thức tung ra từ mấy người trong giới sử đã có thương hiệu qúa quen thuộc với nhiều người. Trước hết là ông Phan Huy Lê nói tại cuộc gặp mặt các nhà làm phim ở Hà Nội đầu năm 2005, lại có tạp chí Xưa và nay của ông Dương Trung Quốc đăng hồi ký của nhà hoạt động cách mạng lão thành ở miền Nam là ông Dương Quang Đông xác nhận điều đó. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa báo nói, báo viết về một sự kiện thiếu tính chân xác của lịch sử đang thành một chấn động dây truyền trong lòng người lẽ ra không đáng có!

    Theo ông Lê, đấy là điều ông cần phải nói ra, trước hết là trách nhiệm của người làm sử có lương tâm, sau là trả món nợ với anh Trần Huy Liệu – bậc thầy của ông đồng thời là nhà cách mạng lão thành kiêm sử gia đáng kính.

    Dựa vào tin thu trên mạng, tóm lược như sau: Lúc đang làm Bộ trưởng Thông tin tuyên truyền (thời điểm 1946-1948?), ông Trần Huy Liệu đã viết về một nhân vật thiếu nhi Lê Văn Tám tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng của giặc Pháp ở Thị Nghè. Ông Lê nói: Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng: Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Lúc đó ông Trần Huy Liệu đã là một nhà hoạt động xã hội lớn thì sao có thể thổ lộ gan vàng với cậu bé Lê mươi mười lăm tuổi?!

    Nhà văn Phan Vũ thì kể rằng ông không biết chuyện đốt kho xăng có thật không nhưng theo yêu cầu của công tác tuyên truyền, ông dựng phim truyền hình (?) vào dịp Cách mạng tháng Tám nên lấy tên Tám đặt cho nhân vật là hợp với tập quán của người Nam bộ. Tình tiết này không hợp lý vì mãi tới năm 1973, Hà Nội mới có truyền hình, tuy nhiên cho tới nay chưa từng dựng một phim nào về Lê Văn Tám.

    Được biết thời điểm ông Phan Vũ viết vở kịch Lửa cháy lên rồi với nhân vật trung tâm là thiếu nhi Lê Văn Tám vào khoảng 1953-1954 ở chiến khu Nam bộ và đã diễn cho bà con vùng kháng chiến xem trước khi tập kết ra Bắc. Suốt mấy năm sau, vở kịch được công diễn trên nhiều sân khấu các thành phố lớn và học đường ở miền Bắc mới giải phóng, góp phần nhen lên trong lòng lớp thiếu niên lúc ấy ngọn lửa của lòng yêu nước. Sau đó không thấy vở kịch công diễn nữa, vì sao thì không rõ nhưng hình ảnh ngọn đuốc sống đã in đậm trong lòng nhiều người, nhất là khi cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược càng vào những thời điểm gay go quyết liệt, tấm gương của những dũng sỹ diệt Mỹ ở miền Nam sáng lên cùng với hình ảnh của ngọn đuốc sống Lê Văn Tám như một dòng chảy tự nhiên từ cậu bé Gióng sọ dừa đến Trần Quốc Toản Phá cường địch báo hoàng ân

    Nhiều người lớn tuổi kể rằng trong kháng chiến chống Pháp, ở vùng tự do phía Bắc, có viết chuyện nhiều thiếu niên nêu những tấm gương hy sinh dũng cảm, trong đó có chú bé đốt kho xăng ở Sài Gòn. Chuyện do ai viết ra thì không nhớ và cái tên Lê Văn Tám xuất hiện từ lúc nào, do ai khởi xướng cũng không không mấy ai để ý. Vậy có tư liệu lưu trữ lại không?

    Trên báo Cựu chiến binh TP.HCM số 269 ngày 20/10/2008, có nêu ý kiến trao đổi của Đại tá, hội viên Hội Cựu chiến binh quận X Võ Thanh Khiết như sau:

    Kho xăng dầu Thị Nghè thực ra là một trạm trung chuyển của hãng dầu Shell để xuất hàng cho các khách hàng mua sỉ không lớn lắm, thường đến nhận hàng bằng xe tải hay ghe thuyền. Nó nằm trên bờ tây rạch Văn Thánh, ngay sát đầu cầu trên đường Ngô Tất Tố ngày nay, cách chợ thị Nghè vài trăm thước, nên thường được gọi là Kho xăng dầu Thị Nghè. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, ngày 17/10/1945, Lê Văn Tám được giao nhiệm vụ đột nhập vào kho này, dùng chai xăng đốt phá, bị xăng bắt cháy vào người thành ngọn đuốc sống và anh dũng hy sinh. Gương anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ của Tám đã động viên chúng tôi rất nhiều trong chiến đấu lúc bấy giờ. Đó là chuyện có thật 100%, không phải hư cấu như người ta nói.

    Còn Kho đạn Sở thú, thường gọi như vậy do nó nằm trên đường Docteur Angier (nay là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngang với Bảo tàng lịch sử thành phố trong khuôn viên Thảo cầm viên) là một kho đạn quy mô không lớn, nghe nói nó thuộc Trung đoàn thuộc địa số 11 (11è Ric) trước kia, nó cách Kho xăng dầu Thị Nghè hơn 500 mét, bị một đơn vị vũ trang của ta đánh nổ đêm 8/4/1946 nhằm triệt phá tiềm lực chiến tranh của giặc.

    Cả hai sự kiện lịch sử trên diễn ra cách nhau về thời gian, không gian và khác biệt nhau cả về tính chất hồi đầu Nam bộ kháng chiến, được báo chí kháng chiến và báo chí nội thành Sài Gòn lúc ấy phản ánh khá đầy đủ, có thể sưu tra để phản ảnh lịch sử đúng sự thật vốn có của nó.

    Vậy là sự kiện mà ông Dương Quang Đông nêu ra mới chỉ đúng nửa phần sự thật vì đó là trận đánh Kho đạn Thị Nghè với sự hy sinh của các chiến sỹ Kakim, Kỷ và Ny, coi như là có thật. Còn đánh cháy Kho xăng Thị Nghè lại là một sự thật khác nhưng người chiến sỹ cảm tử ấy là ai?

    Vậy ngọn đuốc sống là hoàn toàn không có thật hay chỉ cái tên là không thật? Đặt cho cùng một nhân vật cái tên Tám – Lê Văn Tám có là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa nhà sử học, nhà văn và dư luận ở những thời gian và không gian khác nhau không? Ai có thể làm rõ ra chuyện này?

    Chúng tôi trực tiếp gặp Đại tá Võ Thanh Khiết vào dịp Quốc khánh năm nay (2009) và lược nhanh vài nét trong buổi chuyện trò thân tình vui vẻ.

    - Người viết: Xin ông cho biết sơ luợc trích ngang về qúa trình tham gia kháng chiến.

    - Đại tá VTK: Tôi sinh năm 1929, quê ở xã Tân Bửu, Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc địa bàn huyện Bình Chánh và Bến Lức). Năm 1940 tôi lên học ở Sài Gòn. Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp 9/3/1046, tôi về quê, tham gia Thanh niên tiền phong. Ngày 24/8/1945, tham gia cướp chính quyền ở tòa Bố tỉnh Chợ Lớn. Sau đó làm liên lạc cho báo Kèn gọi lính của ta. Sau ngày 23/9, Ủy ban kháng chiến Sài gòn rút ra đóng tại xã tôi thì tôi làm liên lạc cho Ủy ban, thường xuyên ra vào thành phố lấy tin tức. Lúc đó vùng Thị Nghè còn là ngoại đô, là nơi tranh giành quyết liệt giữa ta và địch, có cả lính Vệ quốc đoàn Nam tiến cùng chiến đấu với các lực lượng võ trang của địa phương. Khoảng cuối tháng 10 năm đó, khi quân của Le Clerk tăng viện cho mặt trận Sài gòn thì quân ta rút khỏi Thị Nghè. Năm 1947, tôi vào du kích Hạ Trung Huyện, rồi lên tiểu đoàn 308 Nguyễn An Ninh do anh Huỳnh Văn Một chỉ huy, liên tục chiến đấu ở vùng Chợ Lớn cho đến năm 1950…

    - Người viết: Lúc đó ông có biết chuyện cháy Kho xăng Thị Nghè không?

    - Đại tá VTK: Thời gian đó cơ quan Ủy ban còn đóng sát nách Sài Gòn, tôi ra vào nội đô thường xuyên sao không biết. Tôi nói rõ để anh biết. Khi tôi là học sinh trường Pétrus Ký, điểm chính hiện nay thì quân Nhật biến thành trại lính của nó rồi. Trường tôi chuyển về học tại trường Trưng Vương ngày nay, sát ngay Sở thú, kế bên là Thị Nghè. Đám học sinh nội trú chúng tôi thường ra đó chơi, đá banh rồi nhảy xuống tắm ở cái hồ kế đó, nước trong và mát lắm. Bởi thế vùng này tôi rành lắm.

    - Người viết: Vậy Kho xăng Thị Nghè và Kho đạn Sở Thú là hai căn cứ khác nhau?

    - Đại tá VTK: Đúng! Khác nhau về địa điểm và cả về tầm cỡ. Thực ra gọi là Trạm xăng Thị Nghè thì đúng hơn vì nó chỉ là một Đại lý bán sỷ xăng dầu của tư nhân thì làm chi có lính bố phòng. Nó nằm kề bên bờ con rạch gần chợ, thuyền ghe hoặc xe ô tô đều ra vô được. Tôi còn nhớ rõ đó là một căn nhà thấp, nền đất, không rộng lắm, mái tôn xập xệ, vách là những tấm gỗ mảnh đóng thưa, trong nhà chứa nhiều thùng phuy, tới nơi sặc hơi dầu. Chung quanh có một lớp rào kẽm gai sơ sài, có ai đột nhập vào cũng không khó khăn gì. Còn Kho đạn Sở Thú là một doanh trại, toàn lính lê dương canh gác, lại gần Tổng hành dinh của tướng Le Clerk nên được bố phòng cẩn mật.

    - Người viết: Cả hai trận đánh ông đều biết?

    - Đại tá VTK: Đạn nổ điếc tai, lửa khói ngất trời thì cả thành phố ai mà không biết. Hôm sau đồn rầm lên những tin truyền khẩu rồi mới là trên báo chí. Do đơn vị nào đánh thì không biết nhưng thiệt hại của nó và tâm lý địch, ta thì biết. Dù không chính xác nhưng báo chí của nó đã nêu lên một phần sự thật.

    - Người viết: Lúc đó ông đã biết người đánh trạm xăng là ai? tên gì và do đơn vị nào tổ chức chưa?

    - Đại tá VTK: Theo tôi thì trận đánh Kho đạn ngày 18/4/1946 phải có tổ chức chu đáo và có nhiều người phối hợp mới tiến hành được. Các anh chịu khó tìm xem. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do nhà văn Hữu Mai chấp bút có nói đến trận đánh này. Còn cháy Trạm xăng Thị Nghè tháng 10 năm trước thì dù tổ chức hay cá nhân nào có ý đồ đều dễ thực hiện, nhất là lúc đó phong trào tiêu thổ kháng chiến đang cao. Dù chỉ là một trạm chứa nhưng vài chục tới trăm phuy xăng dầu 200 lít cùng cháy rần rần thì cả thành phố đều biết, gây sự phấn chấn trong lòng người lúc đó đang căm thù quân xâm lược. Trận nào báo chí nó cũng chỉ nói là bị Việt Minh đánh. Nhưng vụ cháy trạm xăng, qua tin tức nội bộ nói là do một em bé tên Tám đốt. Em Tám chứ không nêu đủ họ danh LêVăn Tám như sau này đâu.

    - Người viết: Ông có nghe những thông tin trái chiều về ngọn đuốc sống hay không?

    - Đại tá VTK: Tôi có nghe và cảm thấy buồn. Ông Trần Huy Liệu là một sỹ phu tâm huyết, người mà trước sau tôi vẫn rất kính trọng. Tôi chỉ nói được rằng vụ cháy trạm xăng Thị Nghè là có thật, tôi là một chứng nhân! Còn tiến hành thế nào thì làm sao biết được. Vùng này lúc đó phức tạp, cả ta và tây đều không làm chủ được, tập trung rất nhiều trẻ em lang thang cơ nhỡ và có tinh thần đánh tây hăng lắm. Mà vũ khí chỉ cần một que diêm hay cái hộp quẹt thôi. Khi lửa phật lên, xăng phụt ra bắt cháy, ai cũng phải có phản xạ vọt chạy thoát ra. Gọi là ngọn đuốc sống cũng không có gì là qúa. Có thể nào ông Trần Huy Liệu hư cấu ra một chuyện trùng với sự thật đã xảy ra trước đó cả năm trời, ở cách xa ông hàng ngàn kilômét?! Còn cái tên Tám xuất hiện từ đâu, muốn làm rõ ra cũng không là điều dễ. Hãy coi như một cái tên lịch sử.

    Trong cuộc sống, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhiều sự kiện bi hùng khó được minh xác cả về hành tung và nhân vật. Khắp thế giới này ở đâu cũng thế, nó thường bị phủ lên màu huyễn hoặc tùy thuộc sự kiện ấy lớn hay là nhỏ cùng với bối cảnh xảy ra. Nhất là khi nó được diễn tả bằng những hình tượng văn học thì tùy theo tư duy trừu tượng của người nghệ sỹ sáng tạo nên những nhân vật hoặc phi lý thì chết yểu, hoặc hợp với yêu cầu chính đáng của lịch sử nhân vật sẽ thành thần tượng bất tử trong sinh hoạt tinh thần của một cộng đồng. Tại sao người Việt tin Phù đổng thiên vương là có thật dù ai cũng hiểu nó pha nhiều huyền thoại? Tại sao người Trung Hoa tin ông Quan Vân Trường đức độ, tài ba, uy vũ cả lúc sống đến khi đã chết? Tại sao ở thế kỳ XV, khi nước Pháp không còn được là cái bóng của chính mình, người ta lại tin cô thôn nữ thất học Jeanne d’Arc, lúc 12 tuổi đã nhận được thiên khải của Chúa truyền cho sứ mệnh thống lãnh quân đội Pháp đánh bại quân xâm chiếm Anh? Tại sao người nữ chiến binh dũng cảm ấy lúc 18 tuổi cầm quân đã qua mặt bao nhiêu thống lĩnh, được coi như người làm nên chiến thắng cho nước Pháp trong cuộc chiến tranh 100 năm với người Anh? Năm 19 tuổi, cô bị bắt. Từ bị coi như kẻ dị giáo, bị thiêu trên giàn hỏa, rồi lại được giải oan, coi như một tín đồ tử vì đạo, được ban phúc lành, rồi được Giáo hoàng phong thánh, là niềm tự hào của nước Pháp và được các văn nhân nghệ sỹ tài danh như Shakespeare, Voltaire, Schiller, Verdi, Tchaikovsky, Twain, Shaw… lấy làm hình tượng sáng tác tôn vinh.

    Thực tế suốt mấy mươi năm chiến đấu kiên cường giải phóng non sông, đồng bào và chiến sỹ ta đã nêu những tấm gương hy sinh chịu đựng để giữ lòng sắt son trung kiên với nước không bút mực nào tả hết, những tấm gương anh hùng dũng cảm không tiếc thân mình cho thắng lợi cuối cùng cũng không sao kể hết ra. Hạnh phúc thay cho nhà văn có nhân vật của mình được hóa thân thành con người thật giữa đời và sống mãi trong lòng nhân dân. Chú bé nào được mang danh Lê Văn Tám tượng trưng cho tuổi trẻ Việt Nam anh hùng chẳng khác gì chú bé Gavơrốt của kinh thành Paris mà hôm nay tới đó, người ta vẫn tưởng như có bóng chú thấp thoáng trên những ngã phố, quảng trường. Những con người như thế đã làm đẹp cho lịch sử dù không làm nên lịch sử nhưng họ xứng đáng bước vào trang sách những em thơ.

    Ngọn đuốc sống là hìmh tương nghệ thuật mà sự rung cảm xuất thần của nhà văn đã dựng nên và cũng không ngờ nó còn sáng mãi. Sự việc chỉ có một người hành động mà đã không còn. Ai biết được chú bé ấy có một mái nhà ở đâu đó hay chú là đứa trẻ lang thang lấy góc chợ, lề đường làm nhà, lúc đánh giày, lúc bán lạc rang? Người mẹ kia có thể là má Tư, dì Tám thương tình đứa trẻ bơ vơ và chú ngả vào lòng? Đời người lính chiến có khi sống chết ngoài quy luật. Đã không là bản báo công thành tích để tuyên dương công trạng thì sao lại đòi phải có thân nhân hay đơn vị đứng ra xác nhận và cần biết chú đúng 10, 12, 15 hay 17 tuổi làm chi? Có ai vô cảm vô tâm tới mức đi đo đếm quãng đường bé em chạy khi trên mình đầy lửa chính xác là bao nhiêu mét? Ai đã từng được nhìn tấm hình nổi tiếng bé gái Phúc trần truồng vì phỏng lửa bom của giặc Mỹ vào năm 1972, chỉ có thể nhạt nhòa nước mắt thương tâm chớ ai còn lòng nào hỏi con đường em đã chạy được bao xa? Mà vị sử gia hàng đầu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn đủ lòng bình thản đi tìm bác sỹ tham vấn xem khi lửa xăng đang bốc cháy trên người một chú bé 10 tuổi, liệu khả năng sẽ chạy được bao xa?! Để làm gì?! Tôi rất cảm phục ý kiến của một cư dân mạng luhanhhoangviet: Thật ra thì trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của nhân dân ta, những hành động anh hùng nhiều lắm, có điều là họ hy sinh vì đất nước nhưng tên tuổi thì không được ai biết đến. Có thể trong số họ không có ai tên là Lê Văn Tám nhưng những việc họ đã làm cũng không kém đâu. Dù Lê Văn Tám là một nhân vật tưởng tượng thì tôn vinh anh cũng là thể hiện lòng nhớ ơn tới những người đã hy sinh vì đất nước, chẳng có gì là sai cả!

    Trong cuộc trả lời phỏng vấn qua điện thoại sau đó của nhật báo Người Việt, phóng viên hỏi: Ông Trần Huy Liệu nói ra với ông (PHL) điều đó vào lúc nào? Ông Lê trả lời: Khác như ông nói ở phần trên! Lúc này ông Lê mới tốt nghiệp Đại học – Khoa Sử, được giữ lại làm cán bộ giảng tại Trường Đại học, ông Trần Huy Liệu làm Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam. Thầy trò lúc phiếm có thể nói với nhau những chuyện trái của nghề viết lách mà trò coi như di ngôn, cần phải thanh minh cho người thầy tiết tháo. Trái lại, những tư tưởng chính kiến sáng rỡ của thầy lưu rành rành trong sách, được nhiều người trân trọng coi như di huấn thì trò lại xé toạc đi! Ông làm đầu trò kích xúi người ta dựng dậy thây ma của những kẻ bán nước hại dân trong khi ông thâm trầm khôn khéo xô đổ những tượng đài yêu nước! Hẳn ông biết giữa triều, vua Lê Thánh Tông từng mắng nhiếc mấy sử quan ăn ở hai lòng: … Các ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là người theo đạo chết, mang lòng không vua. Các ngươi nay thờ chủ này mai thờ chủ khác chỉ vì lợi lộc, sao trong lòng không tự xấu hổ mà chết ư?

    Muốn trung thực phải trung thành trước đã.

    Nói hết ra sự thật để làm xao xuyến lòng người, chưa hẳn là người có lương tâm.

    Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 9 năm 2009

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    12 phản hồi

    đúng vậy, sự thật không thể nào so với sự trung thành được.
    nếu vì trung thành mà phải thay đổi sự thật thì còn gì nửa?
    vì trung thành với ông vua, hay đảng cầm quyền, mà phải dối với dân...đó mới là hổ thẹn.
    xã tắc phải đi trước đảng phái, chứ không vì đảng phái mà hại xã tắc.

    Hình tượng Lê Văn Tám, nhân vật Lê Văn Tám được tác giả Trần Huy Liệu hư cấu, tưởng tượng trong một tài liệu, có thể xem như một tác phẩm văn học giản đơn, mang tính anh hùng ca. Tài liệu này để phục vụ cho mục đích tuyên truyền trong thời kỳ kháng chiến, trong một giai đoạn nhất định, điều đó là hoàn toàn bình thường.
    Nhưng, những ai muốn tô vẽ thêm, muốn biến hình tượng này thành người thật, việc thật như một tư liệu lịch sử , thì đó là tâm hồn của kẻ bệnh hoạn.
    Ở đây, quan niệm "trung thành, không muốn xới lên sự thật, sợ làm tổn thương hình tượng ảo" chính là cách nghĩ nông cạn của kẻ bệnh hoạn, thích ca ngợi, sợ sự minh bạch rạch ròi. Và cũng là nhân cách cách "ngu trung" của kẻ an phận, hèn hạ, nhắm mắt nói càn để lấy lòng triều đình.
    Như vậy, với văn học nghệ thuật thì hình tượng Lê Văn Tám vẫn có thể tồn tại, như một "giá trị nhỏ" về hình thức biểu đạt, về bút pháp hư cấu nhân vật điển hình, mang tính thuần túy nghệ thuật mà thôi. Thậm chí nhân vật Tám "phịa" này có thể anh hùng lẫm liệt hơn, xăng giặc bị đốt cháy nhiều hơn ngàn lần, quân giặc bị thiêu cháy nhiều hơn trăm lần ... cũng chẳng ai thắc mắc.
    Nhưng, với giới nghiên cứu lịch sử thì hình tượng này đã bị cho vào sọt rác, chỉ là một trò hề, không hơn không kém bởi vì không có thật trong cuộc sống.
    Không ai có quyền nhào nặn ra lịch sử, càng không thể nhắm mắt, bịt tai để "đóng khung, sơn phết" một nhân vật hư cấu như Lê Văn Tám thành nhân vật lịch sử chính thức ( có hài cốt) của thành phố Sài Gòn!
    Cần phải ủng hộ tư tưởng dũng cảm, trung thực với lịch sử, dám nói lên sự thật. Cần cảm ơn các nhà sử học như Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc, nhà cách mạng Dương Quang Đông. Và cần cảm ơn một cô giáo dạy sử ở Quảng Nam, chỉ vì dám nói cho học sinh nghe những điều ... khó nghe về Lê Văn Tám, nên bị mất việc bởi một chính quyền dốt nát, bảo thủ. Nếu không ai dám nói lời trung thực, con cháu sẽ tiếp tục bị lừa dối, như đã từng bị dối lừa, thậm chí bị nghe quá nhiều huyền thoại "nhào nặn" từ một người thật sự không phải là huyền thoại!
    Đồng thời, cần lên án lối quy nạp "xuôi chiều cả gói" của Nguyễn Văn Thịnh, ( một kiểu ăn ốc nói mò để lãnh lương tháng, để được bùi tai cấp trên) hòng " để cho lịch sử ngủ yên" trong sự phỉ báng và lừa lọc, mất lòng tin!
    ( Bài này, người viết xin ghi lại nguyên văn. Đây là tâm sự của một bậc thầy trong giới nghiên cứu văn học - lịch sử Việt Nam)

    Người kết bài này "hình như" chưa hề đọc sử ký Tư Mã Thiên hay Đại Việt sử ký toàn thư, lại càng chưa đọc Đông Chu liệt quốc,...thế nhưng đang là giảng viên học viện Chính trị-Hành chính quốc gia?. Sử không có trung, mà chỉ có sự thật, há sao lại đặt trung thành lên trên sự thật.
    Hay như "tư tưởng" cụ Nông.
    ĐCSVN khóa X, Nông vương năm thứ 7 trị vì. Trong một chuyến công cán thị sát lô D xây tòa nhà quốc hội. Trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận liên quan đến vấn đề khảo cổ và lịch sử với khu Hoàng Thành; để trấn an tinh thần 'quân lính' vua phán rằng "lịch sử chứ gì, di tích chứ gì, hì, ta xây lên 400 năm nữa tòa nhà này sẽ là di tích là lịch sử đấy".

    Các ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là người theo đạo chết, mang lòng không vua. Các ngươi nay thờ chủ này mai thờ chủ khác chỉ vì lợi lộc, sao trong lòng không tự xấu hổ mà chết ư? Cụ mà gặp các vị chóp bu nói câu này, em tin chắc cụ sẽ được đưa đi nhà giam, vì chẳng khác nào cụ chửi khéo bác Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn vì tội bán Hoàng Xa cho TQ...

    Muốn trung thực thì phải trung thành trước đã, cho em hỏi ý bác là trung thành với ai. Nếu trung thành với theo kiểu mù quáng trong cuộc cải cách ruộng đất, trong cuộc thanh trừ nội bộ, đấu đá các cán bộ mà còn được gọi là "chống chủ nghĩa xét lại"...cho em xin, em không muốn con cháu của em gọi em là đồ tể và thằng hèn.

    SỰ THẬT mới là vẻ đẹp chân chính cho mọi Cộng đồng-mọi Xã hội. Chính vì vậy mọi SỰ THẬT không thể để che dấu.

    Xin đừng đánh tráo khái niệm giữa lịch sử và huyền thoại, giữa con người có thật của lịch sử và nhân vật hư cấu trong tác phẩm văn học.

    Tôi tâm đắc câu câu: "Khuyển mã chi tình" của bạn BulldogAnamist.

    Mong tác giả đọc và hiểu câu đó.

    Trích: "Muốn trung thực phải trung thành trước đã.
    Nói hết ra sự thật để làm xao xuyến lòng người, chưa hẳn là người có lương tâm."

    Đọc đến đây, phải buộc miệng kêu gào. "Trời ạ, trả lại cho tui 10 phút quý báu!"

    KD.

    Hỏng!

    tác giả trên viết:
    Tại sao người Việt tin Phù đổng thiên vương là có thật dù ai cũng hiểu nó pha nhiều huyền thoại? Tại sao người Trung Hoa tin ông Quan Vân Trường đức độ, tài ba, uy vũ cả lúc sống đến khi đã chết?...

    Lối tư duy hết sức chủ quan và áp đặt chẳng khác nào tác giả trên bảo cả dân tộc Việt là điên, dân Trung Hoa là loài Lừa. Hình tượng là hình tượng, cái gốc nghệ thuật vẫn là nghệ thuật còn lịch sử phải là lịch sử. Phim Dã sử không thể đồng nghĩa với Tư liệu lịch sử.
    Đọc hết một bài, tới 1 câu ở phần kết thì càng hỏng bét:

    tác giả trên viết:
    Muốn trung thực phải trung thành trước đã.

    Cái này là "ngu trung". Mà xã hội khuyến khích hay ngợi ca "ngu trung" thì làm sao phát triển. Chả nhẽ quay lại cái thời phong kiến chính thống để chăn dân, trị dân và mỵ dân hòng bảo vệ cái quyền tự cho là thiên tử cuả giới cầm quyền!
    Chẳng trách chi giới lãnh đạo hiện thời, chắc cũng cái kiểu tư duy trên, lại hình tượng hóa,"cha già dân tộc" hóa, thần thánh hóa môt người thật _Hồ Chí Minh_thành một "tấm gương thần" để mà toàn đảng, toàn dân học tập thật, làm theo thật!!!

    Câu truyện" Quan Thái sử Bá" là tấm gương trung thành với vua nước Tề. Thôi Trữ cướp ngai vua Tề không muốn sử sách chép là mình giết vua cướp ngôi,nên bắt anh em Thái sử Bá chép sử theo ý mình. Anh em nhà Thái Sử chỉ có trung thành với vua nước Tề nên nhất quyết không viết theo. Qua câu truyện Lê văn Tám tác giả Nguyễn văn Thịnh chỉ nhắc khéo tình thầy trò giữa Ô. Lê và Ô. Liệu thôi.Cái gì mà có sự thật hiển nhiên không thể bàn cãi thì ta nên tôn trọng. CÂM ĐIÊC

    Ông tác giả này nguỵ biện quá, nói tầm bậy! Ông đang tuyên truyền cho lý tưởng CS thì đúng hơn. Ông cần phân biệt rạch ròi giữ văn và sử đúng nghĩa chứ!
    Trích : “Muốn trung thực phải trung thành trước đã.
    Nói hết ra sự thật để làm xao xuyến lòng người, chưa hẳn là người có lương tâm.”
    Ngôn ngữ hoàn toàn mỵ dân!

    "Muốn trung thực phải trung thành trước đã."

    Quả là danh ngôn! Quả là bất hủ! Quả là chân lí tuyệt đối!

    Chẳng phải ngẫu nhiên mà loài người đã ngợi ca đặc tính chủng loài chúng ta là: Trung thành

    Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà trí tuệ dân gian loài người đã khái quát phẩm chất ưu tú của chủng loài chúng ta bằng câu ca dao tuyệt cú: "Con không chê cha mẹ khó/ Chó không chê chủ nhà nghèo"

    Càng chẳng phải ngẫu nhiên khi mà loài người "rưng rưng" đúc kết phẩm chất chủng loài chúng ta bằng câu tục ngữ: "Khuyển mã chi tình"

    BulldogAnamist

    Tác giả bài viết đã nhầm lẫn giữa một hình tượng văn học và một nhân vật lịch sử. Trong khi hình tượng văn học thì "nói quá" (hay dân gian gọi là "bịa") một chút cũng được, thì nhân vật lịch sử không thể "tùy tiện" như thế được. Việc giáo sư Phan Huy Lê hay nhà sử học Dương Trung Quốc lôi "anh Tám" ra tranh luận là "thực hay ảo" là thuộc phạm trù nghiên cứu lịch sử một cách khoa học và trung thực. Không nên lôi chuyện "không yêu nước" hay "không trung thành" vào đây để kết án họ.

    Ngay cả lời của vua Lê Thánh Tông chửi sử quan: "Các ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là người theo đạo chết, mang lòng không vua. Các ngươi nay thờ chủ này mai thờ chủ khác chỉ vì lợi lộc, sao trong lòng không tự xấu hổ mà chết ư?" cũng là bố láo. Ngay cả sử quan ngày xưa cũng lấy điều nói thật và sự trung thực đặt lên hàng đầu, chẳng thế mà người ta ca ngợi câu chuyện này:

    Truyện kể vào thời Chiến Quốc vua Tề gian dâm với nàng Thị Khương là vợ của Tể tướng Thôi Trữ, nên bị Thôi Trữ giết.

    Quan Thái Sử Bá ghi: “Vua Tề gian dâm với Thị Khương nên bị Thôi Trữ giết Vua cướp ngôi”. Thôi Trữ bắt Thái Sử Bá sửa lại nhưng Bá vẫn giữ nguyên nên bị chém đầu.

    Người em thứ hai Thái Sử Trọng lên thay cũng viết y như anh nên bị Thôi Trữ chém, người em thứ ba là Thái Sử Thúc lên thay anh vẫn giữ nguyên sự thật như hai người anh nên cũng bị Thôi Trữ chém chết.

    Người em thứ tư Thái Sử Quý lên thay chức vẫn hiên ngang chấp nhận cái chết chứ không bẻ cong ngòi bút, viết sai sự thật. Sự ngay thẳng, khí tiết của bốn anh em Thái Sử nước Tề khiến Thôi Trữ hồi tâm tha chết và để cho Thái Sử Quý viết hết sự thật.

    Đặt lòng trung thành với vua lên hàng đầu, thì liệu còn có thể giữ sự trung thực hay không?