Giai cấp và xung đột giai cấp theo cách nhìn của Dahrendorf

  • Bởi tqvn2004
    08/09/2009
    0 phản hồi

    R.J. Rummel<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Cuốn sách nổi tiếng của Ralf Dahrendorf “Giai Cấp và Xung Đột Giai Cấp trong Xã Hội Công Nghiệp” (1959) tranh luận rằng Mác đã định nghĩa “giai cấp” một cách quá hẹp và trong bối cảnh lịch sử đặc trưng. Thay vì mô tả sự khác biệt mang tính bản chất giữa các giai cấp theo “quyền sở hữu tài sản”, Dahrendorf cho rằng “quyền lực” là nguồn gốc của mọi sự khác biệt giữa các giai cấp. Như thế, xã hội có thể được chia ra làm hai loại: “những người nhận mệnh lệnh” và “những người ra mệnh lệnh”.

    Những tư tưởng của Mác sản sinh ra hàng loạt các cuộc tranh luận; phần lớn mang tính chính trị và bút chiến chửi bới, nhưng có một số tác giả đã cố gắng bỏ qua những lỗi về lịch sử hay số liệu mà Mác mắc phải, để học hỏi từ những thay đổi trong thời đại của Mác, và áp dụng tinh thần khoa học xã hội của ông vào xã hội công nghiệp hiện đại. Tác phẩm hay nhất trong số các nỗ lực như thế là cuốn sách “Giai cấp và Xung Đột Giai Cấp trong Xã Hội Công Nghiệp” (1959) của Ralf Dahrendorf.

    Dahrendorf chỉ ra hai cách nhìn đối với các vấn đề xã hội, mà ông gọi là Hoàn Hảo (Utopian) và Duy Lý (Rationalist). Phái Hoàn Hảo nhấn mạnh vào sự cân bằng của các giá trị, đồng thuận và ổn định. Phái Duy Lý vận động xung quanh sự bất hòa và xung đột, và xung đột chính là động lực để thay đổi cấu trúc [xã hội]. Cả hai đều là những cách nhìn nhận xã hội, chúng không hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai; đơn giản là mỗi bên chỉ nhìn vào một mặt khác nhau của xã hội. Thật không may mắn là, Dahrendorf cảm thấy, cách nhìn đồng thuận [phái Hoàn Hảo] đang chiếm ưu thế trong khoa học xã hội đương đại, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, và ông đặt mục tiêu cho mình là phải tạo ra sự cân bằng giữa hai cách nhìn, bằng cách phát triển và minh họa lý thuyết về ảnh hưởng của quyền lực trong xung đột giai cấp.

    Ông buộc bắt đầu bằng cách nhìn lại những bài viết của Mác, giải thích mô hình Mác dùng, bàn luận về những thay đổi xã hội – chính trị kể từ thời của Mác. Ông cũng duyệt lại những tác phẩm lý thuyết sau Mác về giai cấp, và theo sau là những chỉ trích xã hội học của Mác. Sau khi hoàn tất phần điểm lại các tư tưởng trước đây, Dahrendorf bắt đầu trình bày quan điểm riêng của mình về giai cấp.

    Ông nhìn nhận định nghĩa của Mác về đặc tính của giai cấp (dựa trên sở hữu) là một trường hợp đặc biệt của một mối quan hệ quyền lực tổng quát. Xã hội gán cho những người nắm giữ vị trí xã hội quyền lực để thực hiện sự kiểm soát cưỡng bức đối với người khác. Và quyền sở hữu, một quyền hợp pháp để loại bỏ một cách cưỡng bức những người khác khỏi vật sở hữu của mình, chính là một quyền lực như thế. Sự kiểm soát này mang tính quyền hạn (authority), mà Dahrendorf định nghĩa, theo Weber, là khả năng rằng một mệnh lệnh với nội dung nhất định sẽ được tuân thủ bởi một nhóm người nhất định. Quyền hạn (authority) gắn liền với vị trí hoặc vai trò [xã hội], và khác với quyền lực (power), thứ mà Dahrendorf cho rằng mang tính cá nhân. Quyền hạn là vấn đề có tính chính đáng (legitimacy) được hỗ trợ bằng sự khen thưởng hay trừng phạt. Nó là mối quan hệ tồn tại giữa những người trong những nhóm có sự phối hợp mang tính sai khiến, do đó tạo ra cấu trúc xã hội.

    Quyền hạn, tuy nhiên, mang tính lưỡng phân: Luôn luôn tồn tại một hệ thống phân cấp nắm quyền lực ở một bên, và bên kia là những người không có quyền. Trong bất kỳ một nhóm mang tính sai khiến nào, luôn có những người cấp trên và những người cấp dưới. Luôn có sự sắp xếp các vai trò trong xã hội, trong đó chứa đựng nhóm thống trị và nhóm bị trị.

    Những nhóm đóng vai trò đối lập lẫn nhau luôn có lợi ích đối kháng được tạo ra một cách có hệ thống, để giữ gìn hay để thay đổi hiện trạng (status quo). Những người đang nắm vai trò lãnh đạo hưởng lợi từ hiện trạng, bởi nó cung cấp cho họ quyền lực. Những người chịu sự lãnh đạo, hoặc đang bị hành hạ bởi sự lãnh đạo đó, tất nhiên có xu hướng chống lại tình trạng xã hội hiện tại.

    Tầng lớp trên và tầng lớp dưới, vì thế, hình thành các nhóm riêng rẽ, mỗi nhóm có chung những quyền lợi âm ỉ. Trên bề mặt, thành viên của những nhóm này và hành động của họ có thể biến thiên đáng kể, nhưng họ tạo ra một khối năng lượng dự trữ để các nhóm đang xung đột có thể tuyển mộ thành viên. Với sự lãnh đạo, với ý thức hệ, và với các điều kiện chính trị và xã hội cho các tổ chức đang tồn tại, các quyền lợi âm ỉ có thể được thổi bùng thành các tổ chức và xung đột chính trị.

    Dahrendorf định nghĩa các giai cấp xã hội như thế nào? Đó là những nhóm xung đột đã bộc lộ ra, hoặc còn đang âm ỉ, được tạo ra bởi cấu trúc quyền hành của các tổ chức phối hợp mang tính sai khiến. Xung đột giai cấp nổ ra từ đó, và liên quan tới cấu trúc này. Nguồn của xung đột giữa các nhóm nằm ở sự thống trị và nô dịch trên phương diện quyền lực; đối tượng của xung đột là hiện trạng, và kết quả là sự thay đổi (không nhất thiết qua cách mạng) cấu trúc xã hội.

    Cần phải nhấn mạnh rằng lý thuyết của Dahrendorf không chỉ giới hạn trong xã hội “tư bản”. Bởi vì vai trò quyền hành là thứ phân chia giai cấp, cho nên giai cấp và xung đột giai cấp vẫn tồn tại trong xã hội cộng sản hay xã hội chủ nghĩa. Các giai cấp vẫn tồn tại một khi mà còn có người nắm quyền thống trị dựa trên ưu thế của vị trí xã hội chính đáng (như giám đốc phân xưởng, Tổng bí thư, Chủ tịch hội đồng nhân dân, hay tướng lĩnh quân đội ở Liên Xô), và những người sống ở vị trí cấp dưới (như công dân, nông dân, công nhân).

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi