Samuel P. Huntington - Sự va chạm của các nền văn minh? (1)

  • Bởi tqvn2004
    07/09/2009
    0 phản hồi

    Samuel P. Huntington<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    I. Mô hình các cuộc xung đột kế tiếp

    Chính trị quốc tế đang bước vào một giai đoạn mới, và các học giả không ngần ngại sản sinh ra hàng loạt các viễn cảnh tương lai – điểm tận của lịch sử, sự quay trở lại của các đối thủ truyền thống giữa các quốc gia, và sự sụp đổ của các quốc gia từ sự giằng co đầy mâu thuẫn giữa chủ nghĩa bộ lạc và chủ nghĩa toàn cầu hóa. Mỗi viễn cảnh này thể hiện được một số khía cạnh của thực tế đang xảy ra. Nhưng chúng đều bỏ qua một điểm cốt tử, thực sự trọng tâm, của cái mà chính trị quốc tế rất có thể sẽ trở thành trong những năm tới.

    Giả thuyết của tôi là nguồn xung đột chính của thế giới mới sẽ không phải là chủ yếu từ ý thức hệ hay từ kinh tế. Sự chia rẽ lớn lao nhất giữa loài người và cũng là nguồn xung đột chủ yếu sẽ là văn hóa. Các quốc gia vẫn là những nhân vật nắm quyền lực quan trọng nhất trong các sự vụ mang tính quốc tế, nhưng xung đột chính của nền chính trị toàn cầu sẽ xảy ra giữa các quốc gia và các nhóm có văn minh khác nhau. Sự va chạm của các nền văn minh sẽ là chiến tuyến trong tương lai.

    Xung đột giữa các nền văn minh sẽ là giai đoạn mới nhất trong quá trình tiến hóa của xung đột ở thế giới hiện đại. Hơn một thế kỷ rưỡi sau sự xuất hiện của hệ thống quốc tế hiện đại có tên là Hòa ước Westphalia [1], sự xung đột trong thế giới phương Tây chủ yếu là giữa các hoàng gia – hoàng đế, các nền quân chủ độc đoán hay quân chủ lập hiến cố gắng mở rộng quyền lực, quân đội, sức mạnh kinh tế thương mại, và đặc biệt là lãnh thổ mà họ cai trị. Trong quá trình đó, họ tạo ra các quốc gia, và bắt đầu từ cuộc Cách Mạng Pháp, chiến tuyến cơ bản của các xung đột là giữa các quốc gia hơn là giữa các hoàng gia. Năm 1973, như R. R. Palmer đã nói, “Cuộc chiến giữa các ông vua đã kết thúc; sự phân chia của loài người bắt đầu”. Mô hình xung đột thế kỷ 19 này kéo dài cho đến cuối Thế chiến Lần thứ nhất. Sau đó, từ cuộc Cách Mạng Nga và phản ứng chống lại nó, sự xung đột giữa các quốc gia biến thành xung đột giữa các ý thức hệ, đầu tiên là giữa chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít – dân tộc cực đoan, và dân chủ tự do; rồi sau đó giữa chủ nghĩa cộng sản và dân chủ tự do. Trong Chiến tranh Lạnh, xung đột giữa chủ nghĩa cộng sản và dân chủ tự do đã hóa thân vào cuộc tranh chấp của hai siêu cường, cả hai đều không phải là một quốc gia theo nghĩa cổ điển Châu Âu, và mỗi bên đều định nghĩa đặc tính của mình theo ý thức hệ mà nó theo đuổi.

    Những xung đột giữa các hoàng gia, các quốc gia và các ý thức hệ đã là những xung đột chủ yếu trong nền văn minh phương Tây, ”các cuộc nội chiến phương Tây”, như William Lind đã đặt tên cho chúng. Điều này đúng với cuộc Chiến tranh Lạnh, cũng như đúng với hai cuộc chiến tranh thế giới và các cuộc chiến tranh khác trong thế kỷ 17, 18 và 19. Vào cuối cuộc Chiến tranh Lạnh, chính trị quốc tế bước ra khỏi giai đoạn phương Tây của nó, và điểm cốt lõi của nó trở thành sự tương tác giữa văn minh phương Tây và văn minh phi Phương Tây. Trong chính trị của các nền văn minh, con người và chính quyền của các nền văn minh phi Phương Tây không còn là đối tượng, là mục tiêu cho chủ nghĩa thuộc địa phương Tây, mà họ ra nhập phương Tây để trở thành những người dịch chuyển và kiến tạo lịch sử.

    II. Bản chất của các nền văn minh

    Trong Chiến Tranh Lạnh, thế giới đã bị phân chia thành “thế giới thứ nhất”, “thế giới thứ hai” và “thế giới thứ ba”. Những sự phân chia đó bây giờ không còn ý nghĩa. Sẽ có ích hơn nếu chúng ta bây giờ nhóm các quốc gia, không phải theo hệ thống chính trị hay kinh tế, hoặc theo mức độ phát triển của họ, mà theo văn hóa và văn minh.

    Khi nói về văn minh, chúng ta muốn nói đến cái gì? Một nền văn minh là một thực thể văn hóa. Làng xóm, khu vực, các nhóm sắc tộc, các quốc tịch, các nhóm tôn giáo v.v… đều có những bản sắc văn hóa riêng tại các tầng hỗn tạp văn hóa. Văn hóa làng quê Nam Ý có thể khác biệt với văn hóa làng quê Bắc Ý, nhưng chắc chắn cả hai sẽ có chung những văn hóa Ý giúp người ta phân biệt họ với những làng quê Đức. Các cộng đồng Châu Âu, đến lượt mình, sẽ có những đặc điểm văn hóa phân biệt họ với cộng đồng Ả-rập hay Trung Quốc. Ả-rập, Trung Quốc, hay phương Tây, tuy nhiên, lại không thuộc một thực thể văn hóa lớn hơn này cả. Họ tạo ra những nền văn minh. Như thế, một nền văn minh được tạo ra từ một nhóm bao quát nhất về văn hóa, một bản thể văn hóa rộng nhất nếu không tính tới những gì phân biệt con người với các loài động vật khác. Nó được định nghĩa bởi cả những thành tố khách quan chung, như ngôn ngữ, lịch sử, phong tục, thể chế; và bởi cả những sự tự nhận dạng mang tính chủ quan của con người. Người có nhiều mức độ đồng nhất: Một người dân thành Rome có thể định nghĩa anh ta dưới các cường độ khác nhau: một người Roma, một người Ý, một người Thiên Chúa Giáo, một người Châu Âu, một người phương Tây. Nền văn minh mà anh ta thuộc về chính là mức độ đồng nhất rộng nhất mà anh ta gắn bó mạnh mẽ. Loài người có thể, và đã thực hiện việc định nghĩa lại các đặc tính của mình, và như thế, cấu trúc và biên giới của các nền văn minh thay đổi.

    Các nền văn minh có thể liên quan tới số lượng người rất lớn, ví dụ như Trung Quốc (“một nền văn minh giả dạng một quốc gia”, như Lucian Pye đã nói), hoặc một số ít người, như trường hợp cộng đồng người Ca-ri-bê nói tiếng Anh (Anglophone Caribbean). Một nền văn minh có thể bao gồm nhiều quốc gia, như trường hợp với phương Tây, Châu Mỹ Latin hay văn minh Ả Rập, hoặc chỉ có một quốc gia, như với văn minh Nhật Bản. Các nền văn minh rõ rang có thể pha trộn và chồng lấn, và có thể bao gồm cả những nền văn minh “con” (subcivilizations). Nền văn minh phương Tây có hai biến thể: Châu Âu và Bắc Mỹ, trong khi Islam có sự phân chia thành văn minh Ả-rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia. Các nền văn minh, tuy nhiên, là những thực thể có ý nghĩa, và trong khi biên giới giữa chúng ít khi rõ ràng, chúng thực sự hiện hữu. Các nền văn minh luôn biến động, chúng đi lên rồi rơi xuống, chúng phân chia và hợp nhất. Và, như bất kỳ sinh viên môn lịch sử nào cũng biết, văn minh có thể biến mất và bị trôn vùi trong cát bụi thời gian.

    Người phương Tây có xu hướng coi các quốc gia như những nhân vật chính trên sân khấu chính trị toàn cầu. Điều đó đúng, tuy nhiên chỉ đúng trong vài thế kỷ. Tầm hiểu biết rộng hơn về lịch sử loài người chính là lịch sử của các nền văn minh. Trong cuốn “Một nghiên cứu về lịch sử”; Arnold Toynbee đã xác định có 21 nền văn minh chính; trong đó chỉ còn 6 nền văn minh tồn tại ở thế giới hiện đại.

    ________________

    Chú thích của người dịch:

    [1] Hòa ước Westphalia (Peace of Westphalia) đề cập đến hai hòa ước Osnabrück và Münster được lần lượt ký ngày 15 tháng 5 và 24 tháng 10 năm 1648, kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm ở Đức và chiến tranh 8 năm giữa Tây Ban Nha và Hà Lan. Các hòa ước này liên quan tới hoàng đế La Mã thần thánh, Ferdinand III (Habsburg), vua Tây Ban Nha, Pháp và Thụy Điển, Cộng hòa Hà Lan và các đồng minh riêng rẽ trong số các các hoàng tử của đế quốc La Mã Thần thánh.

    Hòa ước Westphalia thu được từ một hội nghị ngoại giao hiện đại và đã đưa đến một trật tự mới ở Trung Âu dựa trên ý niệm quốc gia và chủ quyền. Cho đến năm 1806, các quy định này đã trở thành một phần của các luật hiến pháp của đế quốc La Mã Thần thánh. Hiệp ước Pyrenees, ký năm 1659, đã chấm dứt chiến tranh giữa Pháp và Tây Ban Nha.

    Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B2a_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Westfalen

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi