Giáo dục bậc đại học ở Việt Nam: Khủng Hoảng và Phản Ứng (phần 1)

  • Bởi tqvn2004
    04/09/2009
    4 phản hồi

    Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson (tháng 11/2008)<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ với sự tham khảo <a href="http://vietcatholic.org/News/Html/70794.htm">bản dịch của Hồng Lĩnh</a>

    I. Dẫn nhập:

    Bài tiểu luận này nhằm cung cấp cho các ủy viên phía Hoa Kỳ thuộc Ủy Ban Đặc Nhiệm Song Phương về Giáo Dục Đại Học (Higher Education Task Force) những phân tích về sự khủng hoảng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Chúng tôi bắt đầu bằng cách phân tích mức độ khủng hoảng và nguồn gốc của khủng hoảng. Kế đến, chúng tôi cân nhắc những nhân vật chính liên quan – chính phủ Việt Nam, người Việt Nam, và cộng đồng quốc tế - đã phản ứng ra sao trước tình trạng đó. Chúng tôi kết luận bằng cách nhấn mạnh rằng: việc đổi mới thể chế là một thành phần quan trọng để tạo ra nền móng cải cách giáo dục hiệu quả. Một bài luận ngắn về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt nam, do một nhà khoa học có tiếng người Việt, được gửi kèm theo đây trong phần phụ lục để tham khảo.

    II. Mức độ khủng hoảng:

    Quả thật là khó phóng đại hơn nữa sự nghiêm trọng của những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong giáo dục đại học. Chúng tôi tin rằng, nếu không có những cải cách nhanh chóng và tận gốc dành cho giáo dục đại học, Việt Nam sẽ thất bại trong mục tiêu đạt tới các tiềm năng to lớn của mình [2]. Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình.


    Bảng 1: Số bài báo đăng trên các tạp chí có cơ chế thẩm định chéo (peer-review) năm 2007

    Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận. Không có một trường nào của Việt Nam xuất hiện trên bất kỳ bảng xếp hạng các đại học có chất lượng cao tại Châu Á được nhiều người biết đến nào. Về phương diện này, Việt Nam thua kém ngay cả so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Phần lớn các quốc gia này đều khoe khoang rằng ít nhất một vài học viện đứng đầu của họ có mặt trong các bảng xếp hạng. Trường đại học Việt nam đa phần cách biệt với dòng kiến thức quốc tế, như những con số nghèo nàn trong bảng 1 đã chỉ ra, và giáo sư Hoàng Tụy đã khái quát rất rõ trong bài luận của mình [3].

    Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam. Các cuộc khảo sát do các cơ quan có liên hệ với Nhà Nước cho thấy có tới 50 phần trăm các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học xong đã không thể tìm được việc làm trong ngành nghề chuyên môn của họ, chứng tỏ có một khoảng cách to lớn giữa lớp học và thị trường công việc. Với mức độ 25 phần trăm giáo trình đại học bị bắt buộc tập trung vào các môn học chính trị giáo điều (political indoctrination) thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi sinh viên Việt Nam chỉ được chuẩn bị một cách tồi tệ cho công việc tương lại hoặc cho các học trình cao đẳng ở nước ngoài.

    Sự kiện công ty Intel đã phải lăn lộn vất vả để mướn các kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở TP HCM là một ví dụ điển hình. Khi Công ty này tiến hành một cuộc thi tuyển cho 2000 sinh viên IT Việt Nam thì chỉ có 90 ứng viên, tức 5%, đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này, chỉ có 40 ứng viên vừa hội đủ trình độ Anh ngữ để có thể mướn được. Công ty Intel “khẳng định” rằng đây là kết qủa tồi tệ nhất mà họ gặp phải trong bất kỳ quốc gia nào mà họ đầu tư vào. Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế nói rằng việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ. Chất lượng giáo dục đại học nghèo nàn đã có một ảnh hưởng tiêu cực khác: Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu.


    Bảng 2: Chỉ số Phát Minh Sáng Chế (Thống kê số lượng Bằng Phát Minh của các quốc gia trong vùng Đông Á - với Việt Nam nằm ở hàng cuối cùng với con số zero)

    III. Nguyên nhân của khủng hoảng:

    A. Di sản lịch sử:

    Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này.

    Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít vào hệ thống giáo dục đại học, ngay cả khi đem so sánh với các thế lực thực dân khác như Anh và Tây Ban Nha. Hậu quả là Việt Nam đã vuột mất cơ hội khi làn sóng cách tân thể chế giáo dục đại học quét qua phần lớn lục địa Châu Á trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.

    Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, VN chỉ có một thể chế giáo dục đại học rất yếu kém để làm nền móng xây dựng (Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường Đại Học hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cuộc cách mạng Cộng Sản). Giai đoạn Pháp thuộc, cộng với tổn hại từ chiến tranh, rồi đến giai đoạn cai trị độc tài nặng nề của chế độc xã hội chủ nghĩa, đã không phải điều kiện thuận lợi để tạo ra những học viện chất lượng cao cho nền giáo dục đại học.

    B. Chính sách quản lý của Nhà Nước:

    Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước. Các đại học có phẩm chất cao từ Boston cho đến Bắc Kinh đều được hưởng những chính sách quan trọng mà không tồn tại ở Việt Nam [4]:

    Vấn đề tự trị và tự quản tại đại học (Autonomy):

    Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ. Chính Nhà Nước quyết định con số sinh viên được tuyển nhận, và (trong trường hợp các trường công lập) mức lương của các giảng viên. Ngay cả những quyết định về điều hành cũng như việc thăng thưởng của các Khoa Ban đều lệ thuộc vào sự kiểm soát trung ương. Hệ thống kiểm soát này gạt bỏ ra ngoài những khuyến khích cần thiết cho việc cải tổ và tiến thủ của các đại học.

    Lương thưởng được dựa trên thâm niên và lương chính thức thấp kém đến nỗi các giảng viên phải làm việc phụ trội vượt mức mới đủ sống. Ngược lại với Trung Quốc, Việt Nam chưa có chế độ hậu đãi những chuyên viên tốt nghiệp từ nước ngoài.

    Cơ cấu tuyển chọn dựa vào thành quả:

    Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn làn [5]. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.

    Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.

    Tiêu chuẩn và mối liên kết quốc tế:

    Học tập nâng cao kiến thức là một hệ thống không có biên giới, nhưng các học viện tại VN thiếu hẳn những mối liên hệ quốc tế có ý nghĩa. Thực tế là các học giả trẻ, được đào tạo từ nước ngoài, thường dùng mối lo ngại rằng họ không thể cập nhật những nguồn kiến thức đương thời như một lý do khiến họ tránh né trở thành giảng viên tại ĐH Việt Nam. Như GS Hoàng Tụy mô tả, các học viện tại VN rất hướng nội và không lượng giá chính mình dựa trên tiêu chuẩn quốc tế.

    Trách nhiệm (Accountability):

    Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong. Trong hệ thống ĐH công cộng, các nguồn tài trợ không dựa vào phẩm chất hoặc thành quả của trường. Tương tự như thế, tài trợ của Nhà Nước cho các công trình nghiên cứu được phân phát không dựa trên khả năng cạnh tranh, mà như là một hình thức lương bổng phụ trội.

    Bởi vì số chỗ dành cho tuyển sinh trong các ĐH rất thấp – chỉ có 1 trong 10 học sinh thuộc lứa tuổi ĐH được nhận vào ĐH - do đó, ĐH Việt Nam không bị ép buộc phải cải tổ. Họ nắm một thị trường độc quyền, bởi chỉ có một số rất nhỏ mới đủ năng lực để ra nước ngoài học.

    Tự do trong giáo trình:

    Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn.

    * * *

    Có rất nhiều hàm ý xuất phát từ những phân tích trên đây:

    Thứ nhất, chướng ngại chủ yếu cho sự cải tiến trong nền giáo dục cao đẳng không nhất thiết là vấn đề tài chánh. Thực ra, tính theo phần trăm của GDP, Việt Nam tiêu nhiều hơn các quốc gia khác trong khu vực cho giáo dục. Và con số này chưa tính tới khoản tiền rất lớn mà các gia đình Việt Nam chi vào giáo dục cho con cái, tại nhà và ở nước ngoài. Cách sử dụng các nguồn tài chánh đó như thế nào là một vấn đề khác.

    Thứ hai, đầu tư vào du học nước ngoài không đủ để cải tiến hệ thống. Trừ khi môi trường sinh sống và làm việc cho sinh viên du học được cải tổ, sẽ khó có thể lôi kéo được các sinh viên du học về công tác tại các trường đại học.

    ______________________________

    [2] Để có đánh giá một cách hệ thống và tương đối về các thách thức chính sách mà Việt Nam phải đối mặt, xem thêm "Lựa chọn Thành Công: Quá trình phát triển Đông và Đông Nam Á và những bài học cho Việt Nam". Có sẵn ở địa chỉ:
    http://www.innovations.harvard.edu/showdoc.html?id=98251.

    Bản tiếng Việt: http://www.diendan.org/viet-nam/lua-chon-thanh-cong/

    [3] Hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ thống học viện Liên Xô, trong đó trường đại học chủ yếu là để giảng dạy, còn các nghiên cứu được thực hiện tại các viện nghiên cứu. Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu tại trường đại học, nhưng chỉ thành công rất nhỏ, vì lý do giải thích ở bên dưới đây. Như Bảng 1 chỉ ra, các viện nghiên cứu ở Việt Nam cũng không làm tốt việc nghiên cứu cho lắm.

    [4] Phân tích của chúng tôi về thất bại của việc quản lý ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi những phát hiện của Ủy ban Đặc biệt về Giáo dục Đại học, được triệu tập bởi Ngân hàng Thế Giới và UNESCO, dưới sự chủ tọa của Giáo sư Henry Rosovsky (trường Harvard) và Giáo sư Mamphela Ramphele (trường University of Cape Town). Trong báo cáo kết quả của mình, "Peril and Promise: The Challenges of Higher Education in Developing Countries", Ủy ban này đã kết luận rằng quản lý của chính quyền chính là rào cản lớn nhất khiến giáo dục không đạt kết quả tốt hơn. (Có sẵn tại http://www.tfhe.net.) Giáo sư Rosovsky hiện là cố vấn cho công trình nghiên cứu đang được tiến hành tại Ash Institute về cải cách thể chế ở Việt Nam.

    [5] Cũng cần phải nhấn mạnh rằng còn một thứ trong hệ thống giáo dục chưa bị làm què quặt bởi tham nhũng và gia đình trị là các cuộc thi đầu vào đại học. Chính phủ đã bỏ khá nhiều công sức để đảm bảo rằng quá trình thi cử này không bị vẩn đục. Kết quả là những học sinh được nhận vào thường có tài năng và nhiều người đã thành công trong việc bổ sung kiến thức cho chương trình học lỗi thời bằng cách tự học.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Trong bản gốc có một số chú thích, lúc đầu tôi không dịch và kèm vào đây vì nó nói đến các hoạt động của trung tâm nghiên cứu này, không có tác dụng làm rõ thêm bài viết. Tuy nhiên, sau khi xem lại, tôi quyết định bổ sung các đoạn chú thích này vào bài dịch ở trên...

    Cả thế giới khác, Việt Nam khác. Học thuật là cái "đinh rỉ". Cứ thấm nhuần quan điểm Mác-Lê nin, tư tưởng bác Hồ vĩ đại và trung thành theo đảng thì cái gì mà chẳng làm được. Bác Xít với bác Mao dạy rồi: Trí thức là cục c**! Đảng ta cũng bảo: Trí (thức), Phú (nông), Địa (chủ), (cường) Hào - đào tận gốc, trốc tận rễ. Mấy vị trí thức nước ngoài/Việt kiều làm sao đủ tuổi giảng dạy ở đây. Các vị í mở mồm ra là nói khoa học, mà bản chất của khoa học lại trái với chủ nghĩa Mác-Lê nin, đi ngược đường lối của đảng. Cái đó nó chỉ phù hợp với bọn tư bẩn thối nát đang giãy chết thôi. Các vị cứ yên tâm ở bển mà dạy, đừng về đây cướp cơm chim của chúng tớ. Nhá.

    Hải-Phòng