Nguyễn Hưng Quốc - Cần giáo dục về sự xấu hổ

  • Bởi tqvn2004
    29/08/2009
    2 phản hồi

    Nguyễn Hưng Quốc

    Từ năm 1945, đặc biệt từ năm 1954, người Việt Nam, nhất là ở miền Bắc và sau đó, từ năm 1975, trong cả nước, không ngớt được/bị giáo dục về lòng tự hào. Tự hào về bốn hay năm ngàn năm văn hiến. Tự hào về tài đánh giặc, hết giặc Tống đến giặc Minh, giặc Thanh, giặc Chiêm, rồi cuối cùng, giặc Pháp và giặc Mỹ.

    Ngoài ra, người Việt Nam còn tự hào về tài trí của mình, bao gồm cả tài văn chương, với những tên tuổi có thể làm lu mờ truyền thống lừng lẫy của thời Tiền Hán và Thịnh Đường bên Trung Quốc.

    Tự hào. Lúc nào cũng tự hào. Sách viết về đất nước và con người Việt Nam lúc nào cũng ánh lên vẻ sự tự hào. Có những điều tự hào có thực và cũng có không ít những điều chỉ do tưởng tượng.

    Câu nói “ra ngõ gặp anh hùng” hay “nhiều người ngoại quốc mơ ước sáng ngủ dậy thấy mình là người Việt Nam” được lặp lại lặp lại từ học đường đến các phương tiện truyền thông đại chúng.

    Tuy nhiên, theo tôi, đã đến lúc nên có chính sách giáo dục người Việt Nam về lòng xấu hổ.

    Thật ra, nói “theo tôi” là một cách nói hơi cường điệu. Rõ ràng, tôi không phải là người đầu tiên và càng không phải là người duy nhất nói lên điều đó.

    Trước, từ giữa thập niên 1980, đạo diễn Trần Văn Thủy đã nhấn mạnh vào nhu cầu giáo dục lòng xấu hổ. Trong cuốn phim tài liệu Chuyện tử tế nổi tiếng, Trần Văn Thủy đã so sánh việc giáo dục tại Nhật và tại Việt Nam: Trong khi ở Nhật, một quốc gia tiến bộ và giàu mạnh nhất châu Á, trẻ em luôn được giáo dục là đất nước của họ rất nghèo tài nguyên và bị thua trận một cách nhục nhã, thì tại Việt Nam, một quốc gia thuộc loại lạc hậu và nghèo đói nhất trên thế giới, trẻ em lại luôn được giáo dục một cách đầy tự hào: tài nguyên thì giàu có, lịch sử thì trực rỡ, con người thì anh hùng, tài trí thì vô song, v.v…

    Cũng trong thập niên 1980, sau Chuyện tử tế một tí, trong bài “Nhìn từ xa… Tổ quốc”, nhà thơ Nguyễn Duy cũng nói đến hiện tượng “bội thực tự hào”, hơn nữa, “ngộ độc tự hào” của người Việt Nam.

    Ông chỉ ra những điều nghịch lý: “xứ sở thông minh / sao thật lắm trẻ con thất học”, “xứ sở thật thà sao thật lắm thứ điếm”, “xứ sở cần cù / sao thật lắm Lãn Ông”, “xứ sở bao dung / sao thật lắm thần dân lìa xứ”, “xứ sở kỷ cương / sao thật lắm vua / vua mánh - vua lừa - vua chôm - vua chỉa / vua không ngai - vua choai choai - vua nhỏ”. Nhưng trên tất cả là nghịch lý: Trong tuyên truyền, lúc nào cũng “hát đồng ca”: “Ta là ta mà ta vẫn mê ta”, trong khi đó, trên thực tế, ai cũng biết: “Thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ / ợ lên thum thủm cả tim gan”.

    Tuy nhiên, xin lưu ý: Trần Văn Thuỷ và Nguyễn Duy không phải là những người đầu tiên phê phán bệnh tự hào và đặt vấn đề về nhu cầu giáo dục lòng xấu hổ.

    Ngay từ đầu thế kỷ 20, các nhà nho cấp tiến đã nhận ra được điều đó. Trong các tác phẩm của mình, cả Phan Chu Trinh lẫn Phan Bội Châu đều nhiều lần nhấn mạnh đến cái ngu và cái hèn của người Việt Nam. Hãy thử đọc lại đoạn văn này của Phan Chu Trinh:

    “Nhân dân nước Nam bây giờ, ngu xuẩn như trâu như ngựa, tha hồ cho người ràng trói, cho người đánh đập, có miệng mà không dám kêu, gần chết mà không dám than thở.” (Trích theo Đặng Thai Mai, Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20, nxb Văn Học, Hà Nội, 1974, tr. 85).

    Việt Nam hiện nay là một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, trên rất nhiều phương diện, so với mặt bằng chung của thế giới cũng như so với chính tiềm năng và tiềm lực mà chúng ta có, có rất nhiều điều khiến chúng ta phải xấu hổ.

    Cần xấu hổ về trình độ phát triển của Việt Nam hiện nay vốn rất thấp không những so với thế giới mà còn so với cả các quốc gia láng giềng của chúng ta ở châu Á.

    Cần xấu hổ về khoảng cách giàu nghèo phi lý và bất nhẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa cán bộ và người lao động bình thường không có quyền thế và thân thế.

    Cần xấu hổ về tinh thần vô kỷ luật, thậm chí, rất kém văn hoá nhan nhản khắp nơi, từ công tư sở đến ngoài đường phố, từ cách làm việc đến cách đi lại.

    Cần xấu hổ về sự hoành hành của nạn tham nhũng ở mọi cấp.

    Cần xấu hổ về những cách hành xử của nhà cầm quyền: nhu nhược đối với nước ngoài, đặc biệt với Trung Quốc, nhưng lại độc tài và tàn bạo ngay với những người tha thiết nhất đối với chủ quyền và sự toàn vẹn của Việt Nam.

    Theo tôi, không chừng xấu hổ nên được xem là một đức hạnh cần thiết nhất hiện nay.

    Trong chừng mực nào đó, có thể nói, người Việt Nam hiện nay nên được chia thành hai loại: Loại biết xấu hổ và loại không biết xấu hổ.

    Giận thay, chính những kẻ không biết xấu hổ ấy lại đang không ngừng rao giảng chân lý, công lý và đạo lý.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Mặt dày và sợi thần kinh xấu hổ!
    *******************************
    Thật ra, cao vọng và ảo vọng cũng như niềm tự hào của dân ta đã mai một, đang leo lét tắt dần. Khi "mặt trời chân lý" là sự thật phơi bày ra, ta đã tự hiểu mình đang đứng ở dưới giếng, thậm chí vận mệnh dân tộc đang lâm nguy, mất quyền tự quyết do lãnh đạo chóp bu quá nhân nhượng ( hoặc bị mua chuộc).
    Những ngày này, kẻ nào hớn hở vui tươi thì kẻ đó là vô tâm, hoặc là kẻ tham nhũng, bán nước, nếu không thì cũng thuộc dạng thần kinh không bình thường!
    Có đứa thuộc hàng cháu chắt hàng xóm của tôi khi đi học ở Mỹ về, kể lại là: nó cứ phải chối leo lẻo, rằng " bố mẹ làm nghề kinh doanh", không dám nhận mình có bố là đảng viên, cán bộ thuộc tầng lớp ... kha khá. Nghe đứa cháu kể lại ( lén nói thầm trong bữa cơm), cả xóm được một trận cười muốn nổ ruột! Cười xong lại muốn mếu ngay.
    Vì sao thế? Nếu đảng ta ngon lành thì việc gì con cháu phải giấu diếm? Nếu dân ta "ngon cơm" và là "đỉnh cao trí tuệ của loài người tiến bộ" thì việc gì con cháu phải bôn ba bay vù lên trời, đi học xa chục ngàn dặm, phải đi lao động xuất khẩu, thậm chí đi tị nạn chính trị giữa thời bình (như đạo diễn Song Chi mới đây cùng nhiều người khác)... Chưa kể tới hàng ngàn vấn nạn về tham ô, hách dịch, hà hiếp bất công với dân nghèo, trật tự xã hội bát nháo, luân thường đạo lý ê chề, tệ nạn nhầy nhụa và tội ác khắp nơi, đến mức báo đảng cũng đăng dày đặc!
    Vấn đề là, những mâu thuẫn trong xã hội ngày càng lớn, dường như khó giải quyết. Với thể chế độc đảng, cái gì cũng muốn chảy một chiều, nhưng quy luật phát triển xã hội không chấp nhận điều đó. Cứ thế, bít chỗ này thì hở chỗ kia, rò rỉ tứ phía. Cả niềm tin và tính lạc quan vốn là thế mạnh của người Việt cũng đang lụi tàn. Ai có thể ăn ngon ngủ yên giữa những ngày tháng này khi nghĩ tới tương lai con cháu? Và cũng chưa ai nghĩ ra "giáo khoa chuẩn mực" cho lớp trẻ hôm nay sẽ như thế nào. Nếu nói thật 100% lịch sử thì ... lộ bem hết những chuyện "bất lợi". Nhưng cứ khư khư giữ những chuyện "tô hồng" lịch sử cũng không ổn, chẳng lẽ mai mốt lại chỉnh sửa? Cái khó này là hệ lụy quả báo của nền giáo dục phi thực tế, tạo ra giả dối hàng loạt, chưa tìm ra thuốc chữa. Càng khó hơn nếu ta nghĩ tới viễn cảnh vài thập niên nữa, các "tô giới Tàu" sẽ mọc lên như nấm khắp đất Việt Nam. Từ Lạng Sơn tới Cà Mau sẽ có hàng trăm khu " Chợ Lớn - Bình Tây", hàng Tàu chất lượng đáng sợ sẽ tràn ngập, và hàng triệu gái Việt sẽ làm dâu Khựa, đẻ ra chục triệu "thần đồng" Tề - Vệ...
    Thật đáng buồn lo. Nếu mỗi người Việt hôm nay có một chút suy tư, chỉ một chút thôi, cũng đủ " nửa đêm vỗ gối", vùng dậy đọc lại "Cáo bình Ngô". Hậu quả của mấy thập niên bưng bít thông tin khiến dân ta phân hóa thành hai loại rõ rệt: loại đểu cáng chụp giật thì mồm miệng dẻo như kẹo kéo, nịnh hót, hối lộ, bất chấp lương tâm, chỉ làm giàu bằng mọi giá, kể cả bắt tay với kẻ cướp! Loại thứ hai: những kẻ sĩ, sống vì danh dự, thường nghèo khó, khổ sở nhưng thà chịu khổ chứ không hèn mạt, luồn cúi. Vì vậy, hai cộng đồng này đang cần một thể chế dân chủ đúng nghĩa chứ không nửa vời, giả cầy, thì khi ấy mới thật sự có tình đoàn kết như xưa. Cơ chế hiện nay là "quan giàu, nước yếu" chứ không phải "dân giàu, nước mạnh". Cho nên, những người biết xấu hổ lúc này cũng đã là đáng quý, sợi dây thần kinh xấu hổ còn thì tương lai vẫn còn, để không bị gọi là kẻ ... mặt dày, mặt trơ trán bóng!

    Bài viết quá hay và quá đúng!Cảm ơn ông Nguyễn Hưng Quốc.Chỉ có biết xấu hổ thì người Việt mới mở mặt được với lân bang mà thôi.
    Vì cái bệnh liệt đây thần kinh xấu hổ từ lãnh đạo cao nhất đến người dân hiện nay, không lâu nữa , sẽ đưa đất nước xuống vực thẳm ê chề và nhục nhã trong con mắt người nước ngoài.
    Và khi đó câu nói "Tôi rất xấu hổ khi làm người VN" mà truyền thông lề phải ở VN đã xào xáo của ông giám mục ĐQK làm món khai vị sẽ không còn làm ai tức giận nữa,vì nó quá đúng!
    Và khi đó, ở một góc lãng mạn nào đó của thế giới, chắc cũng hết có ai mơ làm người VN.
    Cái hào quang VN thắng Mỹ và cái vòng nguyệt quế "VN là lương tâm của thời đại" của một ai đó đã hào phóng tặng cho VN ngày nào hết từ lâu rồi.VN phải trở lại mặt đất làm người bình thường thôi.

    HT THÍCH TỬ TẾ