Nhớ về cách mạng tháng Tám: Cách mạng hay cướp chính quyền? (phần III)

  • Bởi tqvn2004
    15/08/2009
    0 phản hồi

    Phạm Cao Dương

    Cách Mạng hay Cướp Chính Quyền

    Từ ngữ cách Mạng trong lịch sử Việt Nam hiện đại là một từ ngữ mới nhưng là một từ ngữ đẹp. Nó liên hệ chặt chẽ với cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, sự hy sinh và lòng ái quốc. Điển hình là trường hợp của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng mà chính những người Cộng Sản cũng phải công nhận và nể sợ. "Cách Mạng" là đánh đuổi người Pháp, giành độc lập cho Việt Nam dù phải hy sinh, kể cả hy sinh chính mạng sống của mình. "Cướp", trái lại, là một từ ngữ xấu, là dùng bạo lực và công khai hay bằng mưu mô lừa lọc trước đó để giật từ tay người khác cái gì không phải của mình, đặc biệt là vào những lúc tình hình hỗn loạn, an ninh không được bảo đảm. Hai danh từ hoàn toàn không giống nhau nhưng đã được những người tạo ra biến cố 19 tháng 8 năm 1945 dùng để chỉ việc làm của mình và đã chấp nhận sự nghịch lý này cho đến tận ngày nay. Về phía những người chống lại, dường như thái độ cũng chưa dứt khoát. Mặc dầu đa số và trong các lớp học, từ ngữ "Cướp" được dùng nhiều hơn nhưng đôi khi người ta cũng dùng hai chữ "Cách Mạng" và gọi biến cố này là Cách Mạng Tháng Tám và thêm vô năm chữ Việt Minh cướp chính quyền. Điều này dễ hiểu vì việc sử dụng những từ ngữ này buổi đầu là do những người đương thời có dịp tham gia hay chứng kiến biến cố 19/8/1945 lúc khởi đầu. Họ có thể là những người chống đối ngay từ đầu nhưng cũng có thể là những người đã vì lý do này hay lý do khác theo và ủng hộ Việt Minh trong buổi đầu rồi sau đó chuyển hướng. Điều cần được ghi nhớ là những người Cộng Sản trong thời gian trước biền cố này đã quyết tâm và dùng đủ mọi thủ đoạn để lôi cuốn quần chúng theo mình trong đó có tuyên truyền, dọa dẫm xuyên qua những đội võ trang tuyên truyền của họ. Điều này đã được Trần Trọng Kim và Nguyễn Xuân Chữ nói rõ trong các hồi ký của hai nhân vật chính yếu này. Riêng Nguyễn Tường Bách, một lãnh tụ Đại Việt Dân Chính đương thời đã kể lại kinh nghiệm cá nhân của ông khi ông cùng với nhà văn Khái Hưng đến gặp Dương Đức Hiền, lãnh đạo Đảng Dân Chủ, lúc đó đã gia nhập Việt Minh. “Nếu các anh cứ lừng khừng nhừ thế mãi, thì có ngày Nhật sẽ beng đầu các anh, mà nếu không thì cách mạng sẽ beng đầu các anh!” (20) là câu nói nguyên văn của Dương Đức Hiền với Nguyễn Tường Bách và Khái Hưng nhằm thuyết phục hai người này phải dứt khoát gia nhập Việt Minh. Tất nhiên là hai người không sợ, nhưng với những người khác thì sợ nhất là những người có dính dáng với chính quyền Pháp và quân đôi Nhật trước và trong thới đó, đúng như phân tích của Nguyễn Xuân Chữ về thành phần của những người theo Việt Minh trong hồi ký của ông. Không sợ sao được khi mình có quá khứ thân hay đã cộng tác với Pháp hay Nhật, khi “Báo chí bí mật không ngớt nhấn mạnh đến tinh thần triệt để cách mạng và phải thẳng tay trừng trị bọn ‘bù nhìn tay sai bán nước’ một cách có phân biệt. Công tác trừ gian, trừng trị một cách đích đáng, chính xác có chọn lọc một số tên đầu sỏ như trùm mật thám ác ôn (Phán Sinh, Võ Văn Cầm...) đang được đầu óc giầu tưởng tượng của quần chúng thổi phồng lên như những câu chuyện thần thoại...” Các đội tuyên truyền võ trang do Võ Nguyên Giáp chỉ huy được thành lập chắc chắn là để làm những công tác này chứ không phải chỉ là để đánh mấy đồn Nhật. Một trong số những người đã tham gia các đội này là Nhạc Sĩ Văn Cao. Người ta khó mà hiểu được trường hợp hoàn toàn nghịch lý trong con người của Văn Cao khi đối chiếu những bài hát mang mầu sách hoài cổ, hoàn toàn đẹp và lãng mạn ông làm trước đó với thái độ cuả ông khi ông chờ đợi lãnh súng và tham gia đội vũ trang: “Hôm nay phố đông người hơn và tôi thấy lòng vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang.”(21). Không chỉ dùng thủ đoạn với người khác, các người chủ động còn dùng thủ đoạn với chính mình. Lê Trọng Nghĩa khi kể lại hoạt động của ông trong ngày 19/8 đã cho biết ông luôn luôn dẫn đầu và những nhân vật lãnh đạo ông mang tên Khang, tên Bình theo sau cả chục mét. Để làm gi? Ai cũng có thể đoán được. y hệt sự kiện xua đàn bà, trẻ con đi trước trong các cuộc biểu tình chống chính quyền ở miền Nam mà báo hay nhiều người đã thuật lại.

    Danh từ cách mạng còn được hiểu là thay thế cái cũ tệ hại bằng một cái mới tốt hơn, trong chính trị là thay một chế độ với những nhân vật tồi tệ, bất nhân bằng một chế độ với những nhân vật tốt hơn, đạo đức hơn, đặc biệt là trong một xã hội chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Mạnh. Áp dụng nhận định này vào biến cố 19 tháng 8, bình thường người ta phải suy luận là chính phủ Trần Trọng Kim phải là một chính phủ tệ hại là Việt gian, bù nhìn, tay sai, thân Nhật. Điều này như người viết đã trình bày ở trên là hoàn toàn không đúng. Ngoài những lý do đã được nêu, ngay chính người đại diện Việt Minh, Lê Trọng Nghĩa, cũng phải công nhận là chính phủ này còn có sức thu hút trong những ngày cuối của nó, khi ông nói tới một buổi họp đầy xúc động của nhiều nhân vật thuộc nhóm Thanh Nghị, có lẽ là buổi họp cuối cùng để chia tay, trong đó Vũ Đình Hòe và Đỗ Đức Dục dứt khoát ra chiến khu với Việt Minh. Nhóm Thanh Nghị, đúng hơn là Hội Tân Việt Nam được thành lập theo Dụ số 7 của Bảo Đại, đã thu hút được rất đông trí thức tên tuổi đương thời và dùng tờ Thanh Nhị làm cơ quan ngôn luận để phổ biến tư tưởng trong giới trí thức, thanh niên, sinh viên. Các nhân vật tham gia vận động thành lập nhóm này gồm có: Đào Duy Anh, Phan Anh, Phạm Đỗ Bình (tức Nhật Trương), Đỗ Đức Dục, Ngô Thúc Địch, Trần Khánh Giư (tức Khái Hưng), Ngô Tử Hạ, Vũ Văn Hiền, Vũ Đình Hòe,, Nguyễn Văn Huyên, Trần Duy Hưng, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Lân, Vũ Đình Liên, Phạm Lợi, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Quang Oánh, Tôn Quang Phiệt, Phạm Khắc Quảng, Phạm Huy Quát, Ngô Bích San, Nguyễn Hữu Tảo, Hoàng Thúc Tấn, Nguyễn Đình Thụ, Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống), Bùi Như Uyên, Lê Huy Vận, Nguyễn Xiển, Nghiêm Xuân Yêm, và do Vũ Đình Hòe làm tổng thư ký. Danh sách này cho thấy nhóm này bao gồm các trí thức chuyên gia nổi tiếng nhất đương thời. Cả một nhóm đông như vậy mà chỉ có hai người quyết định đi theo Việt Minh chứng tỏ đa số đứng về phía chính phủ, đặc biệt nếu ta để ý tới chủ trương cuả hội này như giữ vững nền độc lập và thống nhất quốc gia Việt Nam trong phạm vi ‘Đại Đông Á’, đoàn kết hết thảy các giới trong xã hội và các khuynh hướng chính trị..., những chủ trương phù hợp với chủ trương của chính phủ Trần Trọng Kim. Hai chữ cách mạng trong trường hợp này do đó cần phải được xét lại, ít nhất là bởi các sử gia, những người tìm sự thực của quá khứ, nhất là sự thức liên hệ tới hai nhà nghiên cứu sử học tiền phong của thời hiện đại, đồng thời cũng là hai nhà giáo dục lớn, những người đã đặt những viên đá đầu tiên cho nền giáo dục bằng tiếng Việt Nam của một nước Việt Nam độc lập.

    Bây giờ nói tới bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Bản tuyên ngôn này cũng bị nhiều người coi là không cần thiết vì từ ngày 11/3 trước đó, Hoàng Đế Bảo Đại, với tư cách nguyên thủ quốc gia và là người kế vị vua Tự Đức đã tuyên bố hủy bỏ hết các hòa ước bảo hộ mà Tự Đức đã kết với người Pháp rồi và Hồ Chí Minh đã làm một việc thừa, không cần thiết. Đi sâu hơn vào chi tiết, người ta thấy Bảo Đại và những vị thượng thư của ông đã tỏ ra rất thận trọng và cân nhắc từng câu, từng chữ để chỉ nói lên những gì cần phải nói và nói một cách rõ ràng, còn bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh thì dài lòng thòng, mang nặng tính cách xách động quần chúng. Ngay cả những tư tưởng chủ cột liên hệ tới độc lập, tự do cũng phải đi vay mượn của người Mỹ hay người Pháp. Có điều là tác giả có những chủ trương riêng của mình. Nhưng đây chỉ là nhận định tổng quát, người học sử cần phải đọc kỹ hơn trước khi đối chiếu hai văn bản.

    Riêng về từ ngữ cướp, một tác giả người Việt ở hải ngoại có uy tín, ông Minh Võ, tác giả của tác phẩm mới nhất và cũng là đầy đủ nhất về Hồ Chí Minh, trong một bài viết đăng trên Nhật Báo Người Việt ở Quận Cam, California, vào trung tuần tháng 8 vừa qua đã vượt ra khỏi ngày này (19/8/45) và đã cung cấp rất nhiều chi tiết liên hệ. Người đọc có thể tìm đọc sách hay bài viết của ông để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

    (1/9/2005)
    ____________________________________

    Chú thích:

    (1) Saigon: Vĩnh Sơn, 1969.

    (2) “Các cuộc tiếp xúc giữa Việt Minh với chính phủ Trần Trọng Kim”, trong Xưa và Nay, số 5 (6), VIII, 1994, tr. 4 – 6; số 6 (7), IX, 1994, tr. 9 – 11.

    (3) Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ, Những Bài Học Quí Báu của Một Nhà Ái Quốc Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời. Houston, TX: Văn Hóa, 1996.

    (4) Điển hình, người viết xin đơn cử ba tác phẩm sau đây: Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo, Phạm Xuân Nam, Bùi Đình Thanh. Lịch Sử Việt Nam, tập II. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1989. Lương Minh, Nguyễn Cảnh Minh, Nguyễn Ngọc Cơ, Trần Bá Đệ, Trịnh Vương Hồng, Chương Thâu. Lịch Sử Việt Nam Giản Yếu. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, 2000. Dương Trung Quốc. Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử (1919 – 1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục (Tái bản lần thứ hai), 2002. Ba tác phẩm này đều được xuất bản sau năm 1975, trước đó là các tác phẩm của Trần Huy Liệu, nguyên bộ trưởng tuyên truyền trong chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh. Các tác giả của hai tác phẩm trên đã trực tiếp dùng hai chữ bù nhìn để chỉ nội các Trần Trọng Kim. Trần Huy Liệu thì dùng hai chữ này ngay trong nhan đề của một bài viết của ông. Riêng Giáo Sư Dương Trung Quốc thì tỏ vẻ thận trọng vàdè dặt hơn khi đưa ra nhận xét: “Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức tên tuổi, lại chưa hề làm quan, cùng với hứa hẹn ‘phấn đấu cho Việt Nam thành một quốc gia độc lập’, ‘giải quyết nạn đói’, thống nhất chủ quyền lãnh thổ’ v..v... phần nào có làm cho một bộ phận dân chúng bị ảo tưởng về nền độc lập trao trả cho Bảo Đại. Nhưng ông vẫn dùng hai chữ bù nhìn và thêm vào hai chữ thân Nhật, tr. 394.

    (5) Houston: Văn Hóa, 1996. Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu cũng là người chủ trương dùng sự thực sử như một con đường ngắn nhất dẫn tới đoàn kết dân tộc.. Xin xem “Sự thực sử học : một con đường ngắn nhất dẫn tới đoàn kết dân tộc”, trong Văn Học, số 225, tháng 5 & 6, 2005, tr. 164 – 194, xuất bản tại Hoa Kỳ.

    (6) Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004.

    (7) The other Side.... Phía Bên Kia....., đã dẫn-, tr. 29 và 82.

    (8) Một Cơn Gió Bụi, đã dẫn, tr. 50 – 51.

    (9) chữ dành riêng để gọi một văn bằng của Pháp nổi tiếng là khó, không giống với những bằng được gọi là thạc sĩ bây giờ.

    (10) Trần Trong Kim, đã dẫn -, tr. 57

    (11) Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử, đã dẫn, tr. 394.

    (12) The Other Side... Phía Bên Kia, đã dẫn, tr. 87.

    (13) Việt Nam: 1945 – 1995...., đã dẫn, tr.59. Thực ra là Sainteny chứ không phải Bollaert.

    (14) -đã dẫn-

    (15) Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ: Những Bai Học Quí Báu Của Một Nhà Ái Quốc Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời. Houston, TX: Văn Hóa, 1996.

    (16) Lê Trọng Nghĩa, “Các Cuộc Tiếp Xúc Giữa Đại Diện Việt Minh Với Chính Phụ Trần Trọng Kim”, trong Xưa và Nay, số 5 (06), VIII,. 1994, tr. 4 6 và số 6 (07), IX, 1994, tr. 9 -.

    (17) - sách đã dẫn -, tr. 86 – 87.

    (18) Lê Trọng Nghĩa, Hồi ký đã dẫn.

    (19) đã dẫn, tr. 283

    (20) Hồi ký đã dẫn, tr. 154.

    (21) Xin xem hồi ký của nhạc sĩ này trong Một Chặng Đường Văn Hóa, Tập Hồi Ức và Tư Liệu Về Đề Cương Văn Hóa của Đảng và Đời Sống Tư Tưởng Văn Nghệ, 1943 -, tr. 110

    (Hết)

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi