Nhớ về cách mạng tháng Tám: Cách mạng hay cướp chính quyền? (phần I)

  • Bởi tqvn2004
    13/08/2009
    0 phản hồi

    Phạm Cao Dương

    Lịch Sử Nào Cho Tuổi Trẻ Học Đường Việt Nam?

    Đây là hai câu hỏi liên hệ đến biến cố 19 tháng 8 năm 1945 và luôn khoảng thời gian kéo dài đến ngày 2 tháng 9 năm này. Chúng phản ảnh sự khác biệt về quan điểm giữa hai miền Nam – Bắc trong thời chia cắt, nói riêng, và giữa người Việt cộng sản và người Việt không cộng sản, nói chung. Khác biệt này không những được thấy rõ trong sinh hoạt chánh trị, truyền thông mà luôn cả trong chương trình học và các sách giáo khoa nữa.

    Vấn đề được đặt ra ở đây là Trần Trọng Kim và những người đã cộng tác với ông là những người nào? Chính phủ của này đã được thành lập trong trường hợp nào, đã tồn tại trong bao lâu, có thực là một chính phủ bù nhìn, Việt gian, tay sai của Nhật hay không? và có bao giờ tiếp xúc với những người Cộng Sản và đề nghị mời họ tham chính hay không? Nếu có, những người Cộng Sản đã trả lời như thế nào và đã làm gì trước khi họ cướp chính quyền?

    Ở miền Bắc và sau này khắp nước dưới chế độ cộng sản, 19 tháng tám 1945 là ngày cách mạng hay ngày tổng khởi nghĩa, ngày kết thúc hơn 80 năm thống trị của thực dân Pháp và hàng nghìn năm áp bức của vua chúa phong kiến. Nó đã đưa nhân dân Việt-nam từ địa vị nô lệ lên địa vị làm chủ nước nhà. Từ ngữ cướp cũng được dùng và dùng cho đến tận bây giờ (trường hợp của hai người sinh năm 1945 và được đài BBC phỏng vấn mới đây), nhưng dường như chỉ là trong ngôn ngữ nói nhiều hơn, còn trong các sách, người ta dùng các từ ngữ giành hay đoạt nhiều hơn.

    Ở miền Nam và sau này ở các cộng đồng người Việt hải ngoại, đó là ngày Việt Minh cướp chính quyền không hơn, không kém và đã mở đầu cho những ngày đen tối nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại. Nhiều người khác cũng dùng nhóm chữ Cách Mạng Tám nhưng lại thêm năm chữ Việt Minh cướp chính quyền đi kèm. Nhiều người thay vì chỉ ghi nhận một cách vắn tắt, lại đi sâu hơn vào chi tiết và chứng minh biến cố này và luôn cả bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/91945 của Hồ Chí Minh và sau đó là hai cuộc chiến đều không cần thiết nếu người ta chỉ nhìn tới nhu cầu độc lập và tự chủ của dân tộc và của đất nước Việt Nam mà thôi. Đây là những nhận xét quan trọng mà người viết sẽ chú trọng tới nhiều hơn trong bài này, đồng thời đối chiếu với những tài liệu mới đươc phổ biến sovới thời trước năm 1975.

    Tính đến nay, những biến cố kể trên đã xảy ra được đúng 60 năm, đúng một hoa giáp nói theo ngôn ngữ của các nhà làm lịch. Những người đã chủ tâm hay đã góp phần tạo nên những biến cố này hầu hết đều không còn nữa hay đã quá già. Nạn nhân chính của họ cũng đã trở thành quá vãng. Những người sinh ra hay ở vào tuổi thiếu niên trong khoảng thời gian này bây giờ cũng đã lên lão, một phần không nhỏ cũng đã ra đi. Những người đã chết không có cơ hội nhìn thấy nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam hiện tại như thế nào. Những người còn sống, tùy theo hoàn cảnh, kinh nghiệm, kiến thức... mỗi người có một cái nhìn khác nhau nhưng những gì đã xảy ra như là những sự thực lịch sử thì chỉ có một. Bài này được viết như là một bài kiểm lại cái nhìn về ngày 19 tháng 8 năm 1945 ở trong lớp học ban đầu là ở các vùng đất của người quốc gia khi các trường học được mở lại trong các vùng này, sau đó là ở miền Nam và cuối cùng là ở hải ngoại, đồng thời đối chiếu với một vài tài liệu mới được phổ biến. Đây không phải là một bài khảo cứu vì nó được viết ra trong một thời gian ngắn, rất ngắn, cho kịp với thời hạn một hay vài ngày sau ngày 19 tháng 8 năm và ít ngày trước ngày 2 tháng 9, 2005, ngày mà phe chiến thắng sẽ ít nhiều làm lễ kỷ niêm những thành quả đầu tiên của họ, trong sự ngậm ngùi của những người chiến bại. Ngoài mục tiêu kiểm lại, người viết cũng muốn nhân dịp này nhớ lại các thày, các bạn cũ thời mới hồi cư về tề ở một thành phố miền Bắc, các thày, các bạn ở miền Nam, sau này là các đồng nghiệp và các sinh viên đã có dịp cùng nhau học cùng một đề tài trong những năm loạn ly, đầy rẫy những thiếu thốn nhưng cũng là những năm tương đối hạnh phúc nhất của kiếp người, ít ra là đối với người viết vì trong khi những người cùng một lứa tuổi đang còn phải lang thang hay đã chết dập, chết vùi đâu đó thì mình hãy cõn được sống êm đềm dưới mái học đường, nhân dịp một số bạn bè của hơn nửa thế kỷ trước ở một ngôi trường của một tỉnh ở miền Bắc nước nhà cóp dịp họp nhau lại.

    Trước hết tôi muốn nói tới lập luận về sự không cần thiết của biến cố 19/8/1945. Lập luận này được dựa trên sự kiện người Pháp đã bị người Nhật loại khỏ chính trường Đông Dương tư sau cuộc đảo chính ngày 9/3/45 và Vua Bảo Đại đã tuyên bố hủy bỏ các hòa ước đã được triều đình Huế ký kết trước đó. Sau đó đến lượt người Nhật đầu hàng. Cả hai mục tiêu đánh Tây, đuổi Nhật đều không còn nữa. Duy nhất còn lại là Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần trọng Kim, chính phủ mà ngay từ những ngày đầu đã bị Việt Minh do đảng Cộng Sản lãnh đạo tuyên truyền là bù nhìn, là tay sai của Nhật. Hai thành phần này đã trở thành mục tiêu cuối cùng của đảng Cộng Sản. Lý do là cả hai đang ở vị thế cầm quyền mà đảng cộng sản đầu tiên phải là đảng cầm quyền. Vấn đề được đặt ra ở đây là Trần Trọng Kim và những người đã cộng tác với ông là những người nào? Chính phủ của này đã được thành lập trong trường hợp nào, đã tồn tại trong bao lâu, có thực là một chính phủ bù nhìn, Việt gian, tay sai của Nhật hay không? và có bao giờ tiếp xúc với những người Cộng Sản và đề nghị mời họ tham chính hay không? Nếu có, những người Cộng Sản đã trả lời như thế nào và đã làm gì trước khi họ cướp chính quyền? Để trả lời những câu hỏi này trước kia người ta chỉ có những tài liệu của phía những người quốc gia, chính yếu là tập hồi ký của chính Trần Trong Kim, Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục) (1). Hiện tại chúng ta có thêm hồi ký của nhân vật đại diện của Mặt Trận Việt Minh, công cụ chính yếu của Đảng Cộng Sản, ông Lê Trong Nghĩa, người đã gặp Khâm Sai Phan Kế Toại, Thủ Tướng Trần Trọng Kim (2) và cuả người cuối cùng đại diện cho chính phủ Trần Trọng Kim ở Phủ Khâm Sai Hà Nội, Bác Sĩ Nguyễn Xuần Chữ (3), nếu chỉ kể những tài liệu quan trọng nhất do những người trực tiếp liên hệ tới biến cố quan trọng này.

    Chính phủ Trần Trọng Kim

    Chính phủ Trần Trọng Kim được Hoàng Đế Bảo Đại thành lập sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, ngày Nhật đảo chiùnh Pháp và chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, rất ngắn, từ ngày 17 tháng 4 năm 1945 đến ngày 25 tháng 8 năm 1945 kể cả thời gian xử lý thường vụ.Tổng cộng hơn bốn tháng. Chính phủ này thường bị những người Cộng Sản và luôn cả các tác giả các sách giáo khoa hay những nhà nghiên cứu chuyên môn ở miền Bắc thời trước và sau năm 1975 trực tiếp hay gián tiếp gọi là bù nhìn, là Việt gian, là tay sai của Nhật (4). Nhiều học giả ngoại quốc cũng gọi theo như vậy hay cố tình không nói tới. Các tác giả của miền Nam và ở hải ngoại, trái lại, đã tỏ ra thận trọng và có cảm tình hơn. Vũ Ngự Chiêu, một tiến sĩ sử học được huấn luyện ở Hoa Kỳ, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về lịch sử Việt Nam hiện đại, qua tác phẩm song ngữ Anh Việt: The Other Side of the 1945 Revolution: The Empire of Viet-Nam (3-8/1945), A new Interpretation – Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945: Đế Quốc Việt-Nam (3-8/1945), (5) và Lê Xuân Khoa, một cựu giáo sư triết học thuộc Viện Đại Học Saigon và một chuyên gia về người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ sau này, qua Việt Nam, 1945-1995: Chiến Tranh, Tị Nạn, Bài Học Lịch Sử, Tập I (6), là hai trường hợp điển hình cần được ghi nhận. Sáu mươi năm đã trôi qua, đã đến lúc người ta phải nhận định lại bản chất và vai trò của chính phủ này và người đứng đầu nó cho chân thật và rõ ràng hơn, đồng thời những thành quả, dầu cho là giới hạn của nó. Đây là một nhận thức căn bản trước khi người ta nói tới Cách Mạng Tháng Tám hay Việt Minh Cướp Chính Quyền của năm 1945.

    Tai nạn lịch sử hay cái thế “chẳng đặng đừng”

    “Tai nạn lịch s“ là chữ của Vũ Ngự Chiêu (7). Vũ Ngự Chiêu dùng chữ này để gọi chính phủ Trần Trọng Kim vì theo ông nó “được khai sinh do nhu cầu quân sự của Nhật”. Nhận định này không chỉ đúng với hoàn cảnh đương thời mà đúng luôn cả cho hoàn cảnh, tâm tư của chính Trần Trọng Kim và luôn cả vị hoàng đế đương thời là vua Bảo Đại. Cả hai đều bị đặt vào thế “chẳng đặng đừng”, nói theo lối của người Miền Nam. Cả hai đều không trông đợi, nói theo ngôn ngự bình thường. Riêng Trần Trọng Kim, với bản chất là một nhà giáo, một tác giả của bộ sách Giáo Khoa Thư cho đến hiện tại người ta vẫn còn in lại và vẫn còn ưa đọc và viết nhiều về nó, với bản chất là một nhà nghiên cứu về lịch sử, triết học, một dịch giả của thơ Đường, đặc biệt là Việt Nam Sử Lược, một tác phẩm vừa là giáo khoa, vừa là nghiên cứu phổ thông cho đến những ngày hiện tại vẫn còn được nhiều người tin cậy và cẩn trọng giữ gìn, đã tỏ ra chẳng bao giờ mong đợi, với tuổi ngoài sáu mươi của thời đó, ít nhất đã hai lần từ chối để nhường chỗ cho Ngô Đình Diệm và một lần từ chức nhưng luôn luôn ở vào thế “chẵng đặng đừng” phải chấp nhận đứng ra lập chính phủ hay ở lại để xử lý thường vụ trong tất cả mọi giới hạn của nó. Bảo Đại cũng vậy. Sau này trong hồi ký của ông, vị thủ tướng bất đắc dĩ này đã kể lại rằng sau gần mười ngày chờ đợi và cứ cách ba bốn hôm ông lại đến gặp cố vấn tối cao Nhật để hỏi tin tức vê ông Diệm để được trả lời là “chưa biết ông Diệm ở đâu” sau là “ông Diệm đau chưa về được”, rồi vì Bảo Đại “sốt ruột, triệu tôi vào bảo chịu khó lập chính phủ mới”. Tâm sự của hai người đã được giãi bầy qua lời kể lại sau đây:

    “Ngài nói:

    - Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.

    Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:

    - Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin Ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.” (8)

    Và Trần Trọng Kim đã thành lập được một chính phủ với danh sách các bộ trưởng được đệ trình lên nhà vua vào sáng ngày 17 tháng 4 năm 1945.

    Học thức, tư tưởng và đức hạnh

    Là một nhà giáo và một nhà nghiên cứu không đảng phái, không bè đảng, không có sẵn người, Trần Trọng Kim đã dựa theo tiêu chuẩn nào để lựa chọn người cho nội các của mình? Cũng trong hồi ký của ông, nhà chính trị gia bất đắc dĩ này đã cho biết là phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục. Nhận xét về danh sách này, Bảo Đại phê là “Được”, còn Tối Cao Cố Vấn Nhật Yokohama thì chúc mừng là “cụ đã chọn được người rất đứng đắn.” (6) Cũng cần phải để ý là trong những ngày đầu này, người đã cộng tác chặt chẽ với Trần Trọng Kim là Hoàng Xuân Hãn, thạc sĩ toán học (9) và cũng là một nhà giáo được sự kính mến của hầu hết các nhà trí thức trẻ đương thời. Điều này tất nhiên là dễ hiểu. Hai nhà giáo bất đắc dĩ phải làm chính trị, vốn quen nhau từ trước, cộng tác chặt chẽ với nhau là một chuyện tự nhiên. Nó cũng là một dữ kiện cần thiết giúp ta giải thích tại sao chính phủ Trần Trong Kim lại chú trọng nhiều đến các công tác văn hóa và giáo dục, nhất là giáo dục mà thành quả đã tồn tại đến tận ngày nay và có thể rất lâu sau này.

    Chính phủ đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập này gồm có một thủ tướng với danh xưng nội các tổng trưởng và mười bộ trưởng với hai người là giáo sư, bốn người là y sĩ, bốn người là luật sư và một ngươi là kỹ sư. Đây là lần đầu danh xưng bộ trưởng đã dùng thay cho danh xưng thượng thư, cùng với sự xuất hiện của nhiều bộ mới như ngoại giao, thanh niên, y tế, tiếp tế... nhằm đáp ứng nhu cầu của thời cuộc, thay vì chỉ có lục bộ như thời trước. Trong số các bộ, không bộ quốc phòng. Trần Trọng Kim trong hồi ký của ông có giải thích điều này bằng nhiều lý lẽ, nhưng sự thiếu vắng bộ quốc phòng đã gây ra cho chính phủ của ông nhiều trở ngại khi tình thế thay đổi và nhất là khi quân Nhật bị giải giáp và Việt Minh cướp chính quyền.

    Bốn tháng đầy rẫy những khó khăn nhưng những thành quả đạt được không phải là không đáng ghi nhận

    Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại có hơn bốn tháng kể cả thời gian xử lý thường vụ, và đã gặp rất nhiều trở ngại do hoàn cảnh của đất nước đương thời gây ra trong đó có nạn đói, có chiến tranh, có quân đội Nhật chiếm đóng và chiếm đóng vào lúc họ gần bị thất trận, có sự thiếu thật tình của người Nhật, có kinh tế khó khăn, có những sự chống đối trong nội bộ, có sự chỉ trích của dư luận do trình độ hiểu biết còn thấp kém, do sự nông nổi nhất thời hay bị tuyên truyền sai lạc, doạt nạt bằng bạo lực và ghen tị, có sự thiếu các phương tiện truyền thông và di chuyển, quan trọng nhất là thiếu nhân sự nhất là ở các địa phương (10) và các phương tiện để duy trì an ninh. Nhưng nguy hiểm nhất là sự phá hoại của Cộng Sản được người Mỹ nhất thời giúp đỡ, hoạt động ngụy trang dưới danh hiệu Việt Minh với mục duy nhất là cướp chính quyền và cướp chính quyền bằng đủ mọi cách. Từ ngữ bù nhìn đã được họ sử dụng để chỉ cả Bảo Đại lẫn nội các Trần Trong Kim. Điển hình là qua tờ Cờ Giải Phóng thời đó tác giả Tân Trào đã viết “Thân phận bù nhìn nó (chính phủ Trần Trọng Kim) chỉ có thể giữ việc bù nhìn... nhiệm vụ cuả nó là bọc nhung vào cái ách của Nhật, đầu độc đồng bào, thái độ của nó là ca ngợi Nhật, vào hùa với Nhật áp bức bóc lột nhân dân”. Đây là đoạn văn đã được Dương Trung Quốc trích dẫn trong tác phẩm của ông với lời ghi chú tiếp theo về thái độ của những người cách mạng: “Thái độ của những người cách mạng là cương quyết vạch trần bản chất của nội các Trần Trọng Kim, thức tỉnh những người có ảo tưởng về “bánh vẽ độc lập” của Nhật và vạch rõ chỉ có một con đường duy nhất là tiến tới thành lập một chính quyền cách mạng của nhân dân như chỉ thị của Tổng Bộ Việt Minh đã đưa ra ngay trước ngày nội các này thành lập” (11). Xin đọc kỹ tám chữ sau cùng: ngay trước khi nội các này thành lập, không để cho nó có thì giờ hoạt động. Nói theo ngôn ngữ thông thường, họ đã đánh phủ đầu ngay từ rất sớm. Sau đó đã từ chối mọi sự cộng tác dù cho Trần Trọng Kim qua Phan Kế Toại, cho người móc nối và đề nghị gặp và đề nghị mà người viết sẽ trình bày chi tiết hơn ở phần dưới bài này. Một điều tất nhiên và dễ nhiểu: Đảng Cộng Sản phải là đảng cầm quyền và duy nhất cầm quyền.

    Vượt qua tất cả mọi khó khăn, Trần Trọng Kim và các cộng sự viên của ông đã vạch ra những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể và thực tế, từ những việc làm có tính các tương trưng như đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đổi quốc kỳ, duyệt lại quốc ca... đến cứu đói, thu hồi toàn vẹn lãnh thổ, bắt các quan ở các tỉnh phải trực tiếp liên lạc với chính phủ Việt Nam và cấm họ liên lạc trực tiếp với người Nhật như họ vẫn liên lạc với người Pháp trước kia, Việt Nam hóa nền giáo dục, cải tổ thuế má, tư pháp, vận động thanh niên sinh viên và cả quần chúng nói chung tham gia sinh hoạt chánh trị, xã hội, lập các hội đồng tư vấn địa phương và vận dụng mọi khả năng để thực hiện. Những thành quả này đã được các sách vở của phía những người không Cộng Sản nói tới và đặc biệt Vũ Ngự Chiêu, người đầu tiên nghiên cứu tương đối kỹ càng và có phương pháp dựa trên các tài liệu đủ loại nhất là các tài liệu lấy từ văn khố Pháp hay các sách báo đương thời, thay vì chỉ sử dụng những tài liệu mang nặng tính cách tuyên truyền. Theo ông “Tài liệu chính thức của Cộng sản Việt Nam và các học giả thường hạ thấp giá trị nhhững kế hoạch của chính phủ Kim như “cải cách giấy”, hay độ lượng hơn, chỉ thuần là những tuyên cáo về ý định của chính phủ. Từ thời điểm này của lich sử nhìn lại, trong bốn tháng cầm quyền, chính phủ Kim chỉ có thì giờ ban hành hết dụ này qua sắc luật khác, và những cuộc cải cách ấy có rất ít ảnh hưởng đến đám đông. Tuy nhiên, các kế hoạch của Kim xứng đáng được nghiên cứu đầy đủ hơn những lời nhận định sơ sài trên. Các kế hoạch của chính phủ Kim phản ảnh quan điểm tổng quát của giới thượng lưu và trí thức về một nước Việt Nam không-ảnh-hưởng Pháp ở cao điểm của chủ thuyết Đại Á và tinh thần quốc gia Việt Nam. Hơn nữa, trái ngược với niềm tin phổ quát, Kim và các cộng sự viên phần nào thực hiện những chương trình trên. Bởi thế các kế hoạch của Kim xứng đáng được nghiên cứu vào sâu chi tiết, và trên vị thế lịch sử của chúng” (12). Đi xa hơn, Lê Xuân Khoa đã khẳng định là không riêng Trần Trọng Kim mà luôn cả Bảo Đại “không phải là “bù nhìn” cuả Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thưc tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tượng thống nhất mơ hồ như trong hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba 1946 mà Chủ tich Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao Ủy Bollaert” (13).

    Nổi bật nhất và tồn tại lâu dài nhất là chủ trương và nỗ lực Việt hóa giáo dục của chính phủ Trần Trọng Kim qua chương trình Hoàng Xuân Hãn, một chủ trương đã được thực hiện ngay từ những tháng cuối cùng của năm học 1944-1945 đầy những biến cố khủng khiếp với một kỳ thi tiểu học thành công như một bằng chứng cụ thể không thể chối cãi được của Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn và các phụ huynh và các nhà giáo đương thời. Chủ trương có tính cách cấp thời mang nặng tinh thần quốc gia độc lập này đã mở đầu cho một bước ngoặt mới trong lịch sử giáo dục Việt Nam. Nó đã tồn tại và phát triển liên tục trên toàn quốc Việt Nam bất kể là quốc gia hay cộng sản cho đến tận ngày nay nhưng rất ít được người ta chú ý tới, y hệt như những nỗ lực âm thầm của các nhà giáo ở bất cứ thời nào, bất cứ địa phương nào trên lãnh thổ Việt Nam và bây giờ là ở hải ngoại. Kèm theo với giáo dục là sự vận dụng và tổ chức hàng ngũ thanh thiếu niên thời này hướng tới ý thức trách nhiệm và những hành động cụ thể để đáp ứng những nhu cầu cấp bách của xã hội và của dân tộc đương thời như cứu đói, chống nạn mù chữ...

    (còn tiếp)

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi